T́nh khúc gởi... Nha Trang

 

Vương Trùng Dương

 

                                          

Mùa Hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đă nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa c̣n lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đ̣ Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.

 

H́nh ảnh thành phố biển nên thơ và dễ thương đó đă in đậm trong tôi theo ḍng thời gian.

 

Giữa thập niên 60, tôi bước chân vào quân ngũ và h́nh như có duyên nợ với núi rừng cao nguyên, từ ngày tháng ở quân trường cho đến khi chọn đơn vị. Thỉnh thoảng có dừng chân nơi thành phố biển, và lúc chia xa, ḷng c̣n vương đôi chút. 

 

Bóng dáng Hà Nội, Sài G̣n, Đà Lạt... đă đi vào ca khúc, và khung trời Nha Trang qua ḍng nhạc, lời ca của Minh Kỳ và Hồ Đ́nh Phương tạo thành bức tranh huyền ảo, linh động, rất có hồn, khi nghe, gợi trong ḷng nỗi nhớ thương man mác. Một nơi chốn với đôi nét chấm phá, thoảng nghe cũng mường tượng khung cảnh trữ t́nh:

 

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng

Trông lên xanh êm màu trời

Nh́n ngoài nước thắm xa khơi...

... Nha  Trang là miền khách du muốn tới

Cho phai bao nhiêu bụi đời

Để t́m nguồn yêu sống vui...

... Là đây biển t́nh bao la

Ngồi trông sóng chiều vươn xa

Ḷng đôi lứa thề trăm năm duyên tơ...”

 

Có lẽ h́nh ảnh trong ca khúc “Nha Trang” chưa bày tỏ hết tâm trạng giữa cảnh và t́nh nên tác giả gởi thêm vào cung bậc trong “Nhớ Nha Trang” để dàn trải tâm tư, t́nh cảm:

 

“... Từ ngày được trông Nha Trang, tôi càng mến yêu quê nhà:

Đây là đóa hoa muôn đời c̣n hương.

Từ ngày biệt ly Nha Trang, mỗi lần trông nắng vàng tới, xót xa hồn tôi...”.

 

Cảm nhận h́nh ảnh nơi chốn được thể hiện trong lời ca, tiếng nhạc là lẽ thường t́nh trong cuộc sống nhưng khi nơi chốn đó đă in sâu bao kỷ niệm, khi rơi vào nghịch cảnh, hoàn cảnh trớ trêu gắn liền với hệ lụy của cuộc đời, như vết hằn in sâu trong ḷng, bao nỗi xót xa.

                                                                      

*

 

Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, không biết “được” hay “bị”, với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, tôi chẳng có  điều ǵ để quan tâm. Ở Tiểu Đoàn 20 CTCT, tôi biệt phái sang Trung Tâm Điều Hợp Tâm Lư Chiến Vùng II Chiến Thuật, Trưởng Ban Điều Hành, mỗi ngày chỉ viết vài tờ truyền đơn và vài ḍng để phóng thanh nên công việc khá nhàn v́ thế có dịp bù khú với bạn bè. Trung Tâm cũng nằm trong doanh trại của đơn vị gốc, thuộc khuôn viên của bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Pleiku. Bốn đứa kết thân nhau, la cà café và nhậu nhẹt đến nỗi Vũ Ngọc Hải, bạn đồng khóa, em ruột của đơn vị trưởng Vũ Mạnh Hùng, c̣n ham vui nên không chịu về Sài G̣n lấy vợ.

 

Bà cụ gọi lên khiển trách ông anh thế nào không biết, rồi một buổi sáng âm u, ông gọi tôi lên cho biết phải tách bốn “cậu” ra bốn nơi để Hải lập gia đ́nh. Đơn vị có địa bàn hoạt động khắp vùng II nên ông bảo tôi muốn phục vụ ở đâu, cho ông biết. Tôi không có ư kiến v́ “Ở đâu cũng ăn cơm tháng, ngủ giường bố” nên để ông quyết định. Khi ông đề cập đến Nha Trang, tôi chịu ngay. Hai hôm sau, có xe đi công tác về Nha Trang, tôi vội vă lên đường. BS Nguyễn Trường Xuân, Y Sĩ Trưởng, về Sài G̣n học tiếp giải phẫu, Vũ Ngọc Hải về Cục An Ninh Quân Đội, c̣n Huỳnh Văn Hiếu, Trưởng Ban 4, trụ tŕ Pleiku. Khi về đến Quy Nhơn, lấy cớ thăm bạn bè, ở lại vài hôm. Gặp lúc mưa băo nên từ Quy Nhơn vào Nha Trang mất hết mười hai ngày, tưởng chừng đương sự mất tích.

 

H́nh ảnh Nha Trang sau cơn băo lụt như giai nhân bị dập vùi trong băo cát. Trong mười năm qua, tôi vẫn yêu mến khung cảnh nên thơ đă bắt gặp từ dịp nghỉ hè. của thuở học tṛ. Từ đó, tôi rất thích hai ca khúc đề cập đến địa danh đă ru ḷng ḿnh về cơi mộng nhưng khi “chọn” được nơi đă từng ấp ủ, tôi lại rơi vào t́nh trạng bất đắc dĩ. Bởi đơn vị được “trú đóng” ở nơi tốt lành nên sĩ quan phải phục tùng và “biết điều” với đơn vị trưởng, c̣n tôi th́ bạt mạng, ngang bướng nên khó ḥa đồng, khó bề thích nghi trong môi trường không mấy tốt đẹp. 

 

Hôm tŕnh diện, có ông bạn gợi ư c̣ mồi về thông lệ, Sĩ quan ra mắt anh em với chầu nhậu ở Gió Khơi. Tôi phán ngay việc nhậu nhẹt là chuyện nhỏ nhưng chưa thân ít khi cụng ly, cạn chén hồ trường.

 

Thế nhưng, đệ tử của Lưu Linh, có máu văn nghệ, chẳng mấy chốc, có bạn bè đàn đúm. Lư Bạch để lại cho đời nhiều bài thơ bất hủ về rượu, trong đó có hai câu thơ rất mết:

 

“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh”

(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ.

Chỉ người uống rượu mới lưu danh).

 

Đơn vị “cấp” cho tôi căn nhà bỏ trống trong khu gia binh, căn nhà chỉ dành cho Sĩ quan có gia đ́nh nhưng tôi không hiểu v́ sao được “chiếu cố” như vậy. Buổi tối cuối tuần lai rai đôi ba chén với anh Vĩnh, Hạ sĩ quan Tiếp Liệu, anh hỏi tôi ở trong căn nhà nầy có thấy ǵ không? Tôi ngạc nhiên hỏi lại có ǵ mà thấy? Anh cho biết trước đây có người thắt cổ chết... Tôi rót chung rượu đặt ở vị trí người quá cố, lâm râm hai câu thơ của Nguyễn Bá Trác trong Hồ Trường:

 

“Trời đất mang mang ai người tri kỷ

Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường”.

 

Nơi tôi ở trở thành nhà văng lai, có lẽ  người chết kẻ sống đều thờ thần rượu Dionysos, Bacchus, đệ tử của Lưu Linh nên dễ thông cảm, xí xóa cho nhau. H́nh ảnh Nha Trang năm xưa dần dà trở về trong ḷng tôi, buổi tối uống café, thả bộ trên băi biển, đêm về chén tạc chén thù với đồng đội, vô cùng thích thú. 

 

Người bạn thân đầu tiên là Đoàn Trọng An, quê ở Vạn Giả, anh là người Công Giáo, tôi là Phật Tử thuần thành ngày trước, cũng như Vũ Ngọc Hải, rong chơi với nhau quên cả bổn phận phải đi Lễ cuối tuần, và tôi cũng chẳng biết ngày Rằm, Mồng Một ǵ cả. Đôi khi tự biện minh, tuổi trẻ thời chinh chiến, nay c̣n mai mất, nếu có ǵ sai sót xin dành lại kiếp sau.

 

Trong dịp công tác, Đoàn Trọng An quen với cô giáo, người Hà Nội, chàng giới thiệu cho tôi. Và từ đó, Nha Trang với duyên nợ được ấp ủ trong ḷng tôi trải dài qua bao thập niên với bao biến thiên trôi nổi theo thời cuộc. Tôi rất quư An ở đức tính chân thật, hiền lành nên bị cấp trên bắt nạt và lợi dụng. Cặp kè với tôi rồi cũng khổ thân, bị chuyển lên công tác ở Đà Lạt.  Tôi giới thiệu lại cô em nhưng duyên nợ không thành.

 

Mùa Hè 1971, tôi theo học Khóa 3 Trung Cấp CTCT, những lá thư t́nh rất tuyệt trao gởi cho nhau, xây dựng cuộc t́nh tương lai. Gần cuối năm đó, tôi đổi về Đà Nẵng, khi thưa với mẹ tôi chuyện lập gia đ́nh... Mẹ tôi vui mừng cho đứa con út của người, dừng bước chân giang hồ để t́m về tổ ấm.

 

Người bạn thân kế tiếp là Nguyễn Kim Quư, gốc gác Nha Trang, anh và tôi không ưa với nhau từ lúc giáp mặt ở đơn vị. Trong dịp Tết Tân Hợi 1971, tôi làm Sĩ quan trực đơn vị trong ngày cận Tết, khoảng 11 giờ tối đêm 30, anh mang đến chai Whisky của miền Scotland và chơi tṛ đánh cuộc, ai thua phải trực. 

 

Vừa uống vừa đem chuyện Kim Dung luận bàn về rượu với cuộc tao ngộ kẻ chánh, kẻ tà giữa Lệnh Hồ Xung và Điền Bá Quang trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, t́nh bạn qua chung rượu với Kiều Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc trong Lục Mạch Thần Kiếm, t́nh yêu nảy sinh giữa hai thái cực,  minh giáo và tà giáo giữa Trương Thúy Sơn và Hân Tố Tố  khởi nguồn từ chén rượu... H́nh ảnh Mạc Đại  tiên sinh gầy g̣ với lưỡi kiếm mỏng manh dắt trong đáy dao cầm, trong quán rượu có chín gă hán tử ngồi nhậu bố lếu bố láo, v́ không biết nên vô t́nh xúc phạm đến tên ông, ông già chỉ hoa tay với làn ánh sáng lấp lánh rồi bỏ đi, cơn gió thoảng qua, chín cái miệng chén bị cắt đứt bằng nhau rơi xuống mặt bàn, vỡ tan... 

 

Tán gẫu với câu chuyện bên chai rượu trong nửa giờ đă hoàn thành xong nhiệm vụ đánh cuộc được giao phó, tôi chiếm thượng phong nhưng rồi bảo anh về ăn Tết với gia đ́nh, tôi làm bổn phận kế tiếp với giấc ngủ dài trong ngày đầu năm. Từ đó, chúng tôi có dịp chuyện tṛ với nhau, sau đó anh biệt phái sang phái đoàn thông dịch ở xứ Chùa Tháp, tôi đổi về Đà Nẵng, rồi cả hai cùng thuyên chuyển về quân trường ở Đà Lạt, trở thành đôi bạn thân.

 

Với Kim Thanh Nguyễn Kim Quư, kỷ niệm t́nh bạn trong hai mươi năm qua, bài viết “Một Bông Hồng Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị” trên nhật báo Người Việt (28-7-1991) tôi viết về anh và nhân cơ hội giới thiệu luận án tiến sĩ văn chương Pháp “La Prison Chez Stendhal” dày 520 trang, vừa được hoàn thành tốt nghiệp. Tháng 3-1992, anh tham dự Hội Thảo Quốc Tế Stendhal tại Paris và thuyết tŕnh đề tài “Stendhal, Paris et Le Mirage Italien”. Tôi giới thiệu tiếp khuôn mặt người bạn trên báo chí ở Quận Cam vào tháng 4-1992. Anh và tôi cùng cảm nhận được ng̣i bút của nhà văn Pháp ở thế kỷ XVIII đă để lại trong tác phẩm “Những nhân vật nữ đẹp tuyệt vời và thế giới ngọt ngào hương phấn, nửa hư nửa thực... Tôi yêu Stendhal có lẽ v́ cùng nỗi lăng mạn như những nhân vật ông tạo dựng, cô đơn, đi bên lề xă hội, suốt đời ôm ấp trong tay ảo ảnh một thiên đường đă mất, nơi đó t́nh yêu không có vết nhăn, không có lọc lừa, không có phản bội” (Kim Thanh – Betima & Mùa Xuân). 

 

Stendhal thời trẻ, chán ngán Paris, lưu lạc xứ người, bị ngộ nhận là kẻ đánh mất quê hương nhưng cuối đời ông trở về chết nơi quê nhà, với ông, quê hương như ṿng tay của người mẹ hiền, lúc nào cũng mở rộng ṿng tay đón nhận đứa con hoang quay về trong ḷng mẹ... 

 

Nguyễn Kim Quư dạy Pháp văn ở Đại học Eastern Washington University nhưng thuộc loại bất cần đời, tính nết cũng hơi phách đôi chút nên bị kỳ thị, bỏ dạy về Oregon làm công chức, lập lại cuộc đời sau thời gian trong chốn lao tù, tan vỡ cuộc t́nh. 

 

Với tôi, ng̣i bút của Kim Thanh chỉ nhắc nhở đến h́nh ảnh con ngựa bất kham, bạt mạng lại có mái ấm gia đ́nh. 

 

Cảm tạ Nha Trang, cảm tạ bạn bè đă đưa con ngựa chứng về nơi biển trời mênh mông, bát ngát, rất thân t́nh.     

                                                              

*

 

“Nha Trang ngày về, ḿnh tôi trên băi khuya

Tôi đi vào thương nhớ, tôi đi vào cơn gió

Tôi xây lại mộng mơ năm nào

Bờ biển sâu, hai đứa tôi d́u nhau.

... Năm xưa, biển nầy người yêu trong cánh tay

Đêm nay c̣n cát trắng, đêm nay c̣n tiếng sóng

Đêm nay c̣n trăng soi, nhưng rồi

C̣n ḿnh tôi trên băi khuya khóc người t́nh...

... Nha Trang biển đầy, người yêu không có đây

Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát

Chôn sâu vào thân xác lưu đày

Dă tràng ơi! sao lấp cho mối sầu nầy”

 

Trót theo chồng nên rời xa quê hương cát trắng. Năm 1972, nhà tôi đổi lên dạy học ở Đà Lạt, sau 1975 tiếp tục cuộc sống nơi xứ lạnh. Mỗi năm, cứ hai lần vào dịp Tết và hè, nhà tôi đưa con cái về Nha Trang sum họp với đại gia đ́nh.

 

Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong ṿng lao lư. Thăm băi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nḥa trên băi cát. T́nh khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi ḷng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang t́m về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường t́nh sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những h́nh ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Vơ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đă chết theo thời gian và c̣n lại nơi đây cảnh đ́u hiu của “đất Hán Hồ”. Đâu rồi “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ Đ́nh Liên)...

 

Mỗi lần về Nha Trang, tôi ghé lại thăm người bạn đồng khóa Nguyễn Cư, được bạn ta cho uống café và kể chuyện đời. Nhà tôi và bà xă của Nguyễn Cư cùng học với nhau từ trường Nữ Trung Học đến trường Vơ Tánh Nha Trang. Ngôi nhà của chị trên đường Độc Lập có hai căn, một căn là nhà thuốc bắc Nam Sanh Đường, một căn mở quán café 108. Tôi thường đến quán cahé nầy và có một kỷ niệm khó quên. 

 

Cuối tháng 6, 1971 tôi hẹn với người t́nh đi uống café, trước giờ hẹn tôi ghé lại quán bida trước tiệm café 108, bị kẻ đạo chích móc cái ví sau túi quần Jean. Sau thời gian đôi t́nh nhân ngồi uống café tâm t́nh với nhau, đến khi trả tiền, sờ váo túi sau, cái ví bay mất, tôi lặng lẽ tháo cái đồng hồ Seiko 5 để cầm. Em gái chị Mai Lăng nói “Anh chị quen thân với anh chị em, khi nào trả cũng được”. Thản nhiên đưa người t́nh về nhà, khi quay lại quán t́m th́ thấy cái ví nằm dưới bàn bida, chỉ mất tiền lương vừa lănh, giấy tờ vẫn c̣n nguyên. Khi tôi kể lại cho người yêu biết, nàng lại “mến” cái tính lăng tử của tôi và trách sao không nói để “em trả tiền”! (Bây giờ mà xảy ra như vậy, bu nó không thể nào “mến” cái lăng tử mà phán “con nào móc rồi chứ ǵ? Bỏ mẹ sa trường...).

 

Tôi mới chợt hiểu rằng tại sao bao nhiêu lần về với gia đ́nh, chưa bao giờ nhà tôi ra biển một ḿnh, trong cô đơn, chỉ có nước mắt, chỉ có tiếng thở dài cho thân phận. Mồng Một Tết Mậu Ngọ 1979, Thành, em ruột của nhà tôi, vừa tṛn hai mươi, tổ chức cuộc vượt biên cùng bạn bè trong đội banh ngay Bưu Điện – Quán Gió Khơi ngày trước, Thành giấu kín người thân trong gia đ́nh, chỉ tin cho nhà tôi biết trước lúc đi. Thành mong ước vượt biên được thành công để giúp đỡ gia đ́nh và ba đứa con thơ của vợ chồng tôi. Rồi Thành đă vĩnh viễn ra đi, bóng chim tăm cá. Từ đó, nhà tôi sợ nơi chốn tuyệt vời như sợ mũi tên đâm vào lồng ngực!

 

Tôi trở về lang thang nơi chốn cũ với nỗi niềm mà Erich Maria Remarque chọn làm tựa đề trong tác phẩm “Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết” trong bối cảnh sau Đệ nhị thế chiến.

 

Chia tay Nha Trang, Hè năm 1990, đôi t́nh nhân ngày xưa qua năm tháng thăng trầm, bất hạnh mới t́m được giây phút êm đềm bên nhau giữa mây trời và cát biển của ngày tháng cũ.

 

Giă biệt Nha Trang, giă biệt khung trời ngày cũ trước giờ rời bỏ quê hương!

 

Bao năm trôi qua, xa cách quê nhà, tôi vẫn mong có được ngày về để khe khẽ hát “Nha thành mến yêu, một ngày trời sang mùa mới... Gió ơi! gió ơi! ngân ḥa thêm tiếng ḷng tôi”.

 

Với niềm ước mơ, một ngày nào đó, hai mái tóc bạc màu ngă ḿnh trên băi cát, ôn lại kỷ niệm xa xưa để hàn gắn lại lớp bụi thời gian.

 

*

 

Tháng 11 năm 1971, tôi về phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 CTCT tại Đà Nẵng. Một hôm đẹp trời, tôi ngỏ lời với mẹ tôi:

- Mẹ ơi, con sắp lập gia đ́nh.

 

Trước đó, mẹ tôi nói bóng nói gió, cháu ngoại của bà sắp có con rồi nhưng tôi nói thời buổi chiến tranh sinh con đẻ cái làm ǵ thêm gánh nặng cho bản thân. Mẹ tôi im lặng, thở dài! Mẹ tôi vào tuổi thất thập, tuy có cháu nội, cháu ngoại đầy đàn nhưng mẹ tôi mong đứa con út “yên bề gia thất” để yên ḷng. Lần đầu tiên nghe tôi đề cập đến vấn đề nầy, mẹ tôi ngạc nhiên và mừng vô cùng nhưng lại hỏi:

- Có thật không con?

- Thật đó mẹ

- Đứa mô rứa?

- Ở Nha Trang

 

Thời c̣n đi học và thời gian ở quân trường, mẹ tôi cũng biết loáng thoáng vài bạn gái tôi quen nên thêm một lần ngạc nhiên

- Ủa, mẹ tưởng...

- Dạ, không

- Theo đạo nào?

- Dạ, thờ cúng ông bà

 

Mẹ tôi mở nụ cười thật tươi như có được món quà vô giá. Trong ánh mắt tŕu mến, nắm tay tôi

- Mẹ mừng lắm, con bỏ bê mang tội thất đức ông bà, tổ tiên.

- Mẹ ơi, tụi con chưa có ǵ cả... mẹ đừng hiểu nhầm.

 

Hôm sau, anh chị tôi nhận được tin vui, theo lời mẹ dặn “cưới vợ th́ cưới liền tay”, lông bông lông bang, đổi ư th́ mất cơ hội. Cuối năm 1971, tôi đưa nàng về dinh. Theo lời khuyên bảo, tôi hứa với mẹ tôi, nếu vợ chồng không hợp nhau, nếu có chia tay, tôi sẽ dành quyền quyết định của người hôn phối. Vào dịp Tết Nhâm Tư 1972, vợ tôi ra Đà Nẵng, ngày đầu tiên thăm cô bạn cùng học sư phạm với nhau. Nghe tin lập gia đ́nh với tôi, cô bạn ngạc nhiên và “tố khổ”. Lúc lên xe ra về, nàng chỉ nhỏ nhẹ “Anh lăng nhăng ǵ mà bạn em biết hết”. Tôi đành đánh trống lảng “Chuyện xưa, trẻ người non dạ”. Nàng chỉ mỉm cười và không quắc mắt giận hờn.

 

Trong những lần chén tạc chen thù với bạn bè, tôi nhắc lại mẩu đối thoại giữa mẹ tôi và tôi chỉ ngắn gọn như vậy mà trở thành số phận đă an bài.

 

Tháng 4 năm 1972, tôi hoán chuyển với sĩ quan khóa 22 Vơ Bị phục vụ tại Trường ĐH. CTCT. Tuy biết nếp sống quân trường tôi đă trải qua hai năm rưỡi như “cá chậu chim lồng” chẳng thích nghi với bản thân từ giờ giấc, quân phục đến công việc...  nhưng đành chấp nhận để xem “con tạo xoay vần ra sao?”. Hè năm 1972, vợ tôi hoán chuyển với người bạn đồng nghiệp, về dạy tại Đà Lạt. Từ đó, trải qua bao thăng trầm, ngọt bùi, đắng cay, chia ly, sum họp... cho đến ngày rời xa quê hương. 

 

Niềm vui và nỗi đau đến cùng một thời điểm. Tháng 7 năm 1990 gia đ́nh tôi về Sài G̣n để phỏng vấn theo diện H.O. Tôi báo tin vui về quê cho anh chị và mường tượng niềm vui của mẹ tôi trong tuổi xế chiều nhưng lúc đó mẹ tôi lâm bệnh, tuổi ǵa sức yếu, anh chị giữ kín. Ngày tôi vào phỏng vấn và được chấp nhận được định cư tại Hoa Kỳ cũng là ngày mẹ tôi vĩnh biệt trần gian! Khi tôi về lại Đà Lạt th́ nhận được điện tín “Em về gấp, có chuyện cần”. Ngồi trên xe, tôi nghĩ miên man, ngôi nhà từ đường đă bị tịch thu làm kho lương thực sau tháng 4 năm 1975; ruộng, thổ mất tiêu, c̣n ǵ đâu để làm thủ tục. Có lẽ người thân tổ chức buổi sum họp trước giờ chia tay... Thật bàng hoàng, khi tôi bước vào cổng, anh tôi đội khăn tang, mếu máo “Mẹ mất rồi!”. Anh chị tôi xin lỗi v́ không báo hung tin cho biết, nếu báo th́ tôi bỏ lỡ cơ hội, ảnh hưởng cả cuộc đời. Theo lời anh chị, trước giờ vĩnh biệt, không thấy mặt đứa con út, mẹ tôi c̣n hỏi “Tụi nó đi Mỹ chưa?”. Anh chị tôi đành nói dối “Dạ, đi Mỹ rồi”. Ước mơ đă măn nguyện trước giờ hấp hối. 

 

Trên đời, không có sự hy sinh nào cao cả, bất tận bằng t́nh mẫu tử. Ngay khi mẹ tôi nềm trên giường bệnh cũng không nghĩ đến bản thân mà cầu nguyện Phật Tổ gia hộ cho con, cháu. Cuối tháng 8, vợ chồng và 3 đứa con rời quê hương sang Thái Lan, trên áo đeo mảnh tang đen màu đen h́nh b́nh hành! Hành trang mang theo chẳng có ǵ đáng kể, chỉ có hai bức chân dung thầy mẹ tôi bằng sơn mài do anh bạn Đặng Ngọc Sinh làm quà tặng.

 

Tṛn một phần tư thế kỷ, vợ tôi vài lần về thăm Nha Trang nhưng với tôi vẫn mịt mù thức mây!. Tôi vẫn mong một ngày nào đó về lại chốn xưa, thắp nén nhang bên mồ thầy mẹ. Đầu thập niên 60, trong một lần chạp mả, thầy tôi chọn ô đất trên băi cát trắng làm nơi yên nghỉ cuối cùng. Vài năm sau thầy tôi mất rồi đến đứa cháu nội, gần ba thập niên sau, thầy mẹ nằm bên nhau, mồ yên mả đẹp. Anh chị tôi nói ông bà có đứa tiểu đồng hầu hạ. Ngày mất của thầy mẹ tôi cách nhau không xa trong mùa Hè v́ vậy mỗi năm chọn ngày mất của thầy, mẹ để giỗ. Đây cũng là dịp, bà con họ hàng, con cháu các nơi tề tựu với nhau. Truyền thống Đông Phương thật đẹp, từ thế hệ nầy đến thế hệ khác có dịp vọng tưởng ông bà, tổ tiên. Nỗi ḷng canh cánh, tôi coi ḿnh như đứa con hoang nhưng ở trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng! Nếu có ngày nào, quỳ bên mộ thầy mẹ, như mẹ tôi trước đây trước giờ tử sinh, con đă đi chưa... mẹ ơi, con về bên mẹ, ước mơ đă măn nguyện.

 

Giờ đây, vợ chồng vào tuổi thất thập, có cháu nội, cháu ngoại như ngày nào ngỏ lời chuyện lập gia đ́nh với mẹ tôi. Giữ được lời hứa với mẹ tôi của con ngựa già buộc giây cương.

 

Ca khúc “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu cũng tṛn bảy thập niên. Tác giả đă ra người thiên cổ (2-2015). H́nh ảnh Kim Phượng trong ca khúc “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu với cuộc t́nh dang dở! Trải qua bao thập niên trong duyên t́nh không vẹn toàn, tác giả mới trang trải qua ca khúc “Nhớ” với “Thầm nhớ tới dáng người. Đời đă vắng tiếng cười”... Và, sống ở Paris với người vợ ngoại quốc,  nỗi ḷng của Lê Trạch Lựu:

 

“Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,

Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm, 

Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,

Nhớ nhiều, nhớ măi, măi không quên...”.

 

Nếu ngày xưa có sợi tơ hồng trói buộc “Em Tôi” và tác giả th́ biết đâu qua năm tháng sẽ thành sợi giây thừng? Theo nhà thơ Alfred de Musset “Khúc ca tuyệt vọng là khúc ca tuyệt vời nhất”.

 

Trong các ca khúc thời tiền tiền chiến, “Em Tôi” là một trong các nhạc phẩm trữ t́nh, lăng mạn tôi rất thích. Thưở ban đầu khi gặp nhau, ra băi biển Nha Trang, thả bộ, ngồi dưới hàng thông, tôi vẫn thường khe khẽ:

 

“... Bao giờ tôi về gần em

Cùng đếm này trăng này sao kia nhé em...

... Cho anh rót thắm đem về nhớ nhung lời thơ,

Đường đời anh muốn em c̣n mơ...”.

 

“Em Tôi” ngày ấy sao mà tuyệt vời, dễ thương đến thế! “Em Tôi” ngày ấy như làn mây trắng bồng bềnh giữa bầu trời trong xanh. “Em Tôi” ngày ấy như muôn ngàn v́ sao lấp lánh trong bầu trời đêm! “Em Tôi” ngày ấy như khúc nhạc du dương, nhẹ nhàng, lả lướt theo từng cơn sóng vỗ!. “Em Tôi” ngày ấy đâu có quắc mắt giận hờn. Mắt buồn ngấn lệ cũng đủ tan nát cơi ḷng.

 

Than ôi! Thời gian, câu nói của Boileau: “Thời gian thay đổi tất cả, thay đổi tánh t́nh chúng ta”. Nếu ai có kỷ niệm êm đẹp, để tự an ủi bản thân, chỉ c̣n ước mơ với kỷ niệm. Liều thuốc trong cuộc sống. 

 

 

Vương Trùng Dương

 

(VTrD - Đặc San Nha Trang – Khánh Ḥa Hè 2003 – đoạn cuối 4-2015 ấn hành trong quyển Văn Nhân & T́nh Sử)

* Từ thế kỷ thứ năm trước công nguyên, triết gia Heraclitus đă nói “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một ḍng sông”

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính