LTS: Hồn Việt nhận được bài viết của một tác giả hiện đang sinh sống trong nước, dù sống trong chế độ Cộng sản VN; nhưng tác giả đă “nghiên cứu” và nhận chân được Nền Giáo Dục của Việt Nam Cộng Ḥa, qua những h́nh ảnh trung thực. Chúng tôi đăng tải, để quư độc giả tại quốc nội, cũng như tại hải ngoại cùng đọc, để thấy, và tiếc cho một Nền Giáo Dục nhân văn đă mất, và không biết bao giờ t́m thấy lại!

 

Sự khác biệt giáo dục giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam

 

Vương trí Nhàn

 

 

 


 

Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học. Trong cái nghề thuộc loại “công tác tư tưởng” này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền Bắc, c̣n sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm. Có điều, không phải chỉ là sự ṭ ṃ, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng ḷng với cách làm như vậy.


Tôi cho rằng, muốn hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn học Việt Nam phải hiểu văn học thế giới. Thế th́ để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lảng tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được? Đối với giáo dục cũng vậy. Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi vẫn sống ở Hà Nội. Sự tiếp xúc với giáo dục miền Nam chỉ dừng ở mức sơ sài bề ngoài. Tuy nhiên, do việc t́m hiểu chính nền giáo dục miền Bắc ở tôi lâu nay kéo dài trong bế tắc, trong khoảng mươi năm gần đây tôi t́m thấy ở giáo dục miền Nam một điểm đối chiếu.


Lúc cảm nhận được phần nào sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Bắc – Nam giai đoạn 1954 – 1975 cũng là lúc tôi hiểu thêm về nền giáo dục mà từ đó tôi lớn lên và nay t́m cách xét đoán. Tôi không chỉ muốn nêu một số đặc điểm mà c̣n muốn xếp loại nền giáo dục tôi đă hấp thụ. Bài viết này có thể được đọc theo chủ đề khác đi một chút: Nhận diện giáo dục Hà Nội từ 1975 về trước qua sự đối chiếu bước đầu với giáo dục Sài G̣n.



CHUẨN VÀ PHI CHUẨN


Đáng lẽ khi ḥa b́nh lập lại và những người kháng chiến đă trở về Hà Nội, th́ cái tinh thần giáo dục phi tiêu chuẩn hôm qua cần phải vượt qua, th́ – như một thói quen và kết quả của một hiểu biết thiển cận – nó lại ăn sâu vào mọi mặt, chi phối cách h́nh thành và những định hướng lớn của giáo dục miền Bắc.


Nói quá lên th́ có thể bảo, như một cơ thể, giáo dục miền Bắc thuộc loại tiên thiên bất túc, tức là, sinh ra đă không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đă bất thành nhân dạng. Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm – rồi để yên ḷng nhau, sẽ viện ra đủ lư lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng. Ví dụ, một trường đại học trước tiên phải có đủ bộ phận giảng viên đảm nhiệm việc giảng dạy theo những quy định quốc tế. Ở các nước gọi là đang phát triển, một trường đại học chỉ được thành lập khi có một bộ phận ṇng cốt là những giáo sư đă học tập ở những Sorbone, Oxford hoặc những trường tương tự… trở về. Đâu người ta cũng hướng tới những yêu cầu này để noi theo, nay chưa làm được th́ mai làm. Giáo dục miền Nam cũng theo, giáo dục miền Bắc th́ không.


Trên danh nghĩa, đại học Việt Nam cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy, nhưng đó là ta phong với nhau để làm việc, chứ thực tế thấp hơn hẳn chuẩn mực quốc tế “một cái đầu”. Rộng hơn câu chuyện giáo viên là chuyện cơ sở vật chất và không khí học thuật của một trường đại học. Rồi rộng hơn câu chuyện của riêng ngành đại học là chuyện của mọi cấp học. Tính phi chuẩn bao trùm trong mọi lĩnh vực, từ trường sở, sách giáo khoa, cách cho điểm, cách tổ chức thi cử… cho tới chất lượng dạy và học.


Sau mấy chục năm chiến tranh, cái sự làm lấy được làm theo ư chí đă thành chuẩn mực duy nhất, nó chi phối tất cả, khiến giáo dục Việt Nam có cách tồn tại, cách vận hành riêng chẳng giống ai. Các trường mới lập ra phải theo trường cũ, sau “giải phóng” th́ miền Bắc buộc miền Nam phải theo. Tạm ví một cách thô thiển: như trong khi người ta đi th́ ḿnh phải ḅ phải lết, vậy mà vẫn tự hào rằng ḿnh cũng đang đi chứ đâu có đứng yên.

 



1966-1975 Class - Children during the Vietnam War

 


KHÁC BIỆT TRONG QUAN NIỆM

 


Về bộ máy giáo dục


Có dịp t́m hiểu lại nền giáo dục trước 1945 và nền giáo dục ở Sài G̣n trước 1975, tôi nhận ra một sự thật – hồi đó, bản thân giáo dục là một hệ thống quyền lực. Nó có nguyên tắc tổ chức riêng và những con người riêng của nó.


Nhà thơ Chế Lan Viên có lần nói với Nguyễn Khải và Nguyễn Khải về kể lại cho tôi một nhận xét. Ông Chế bảo, ở xă hội cũ, một viên tri huyện tuy vậy vẫn phải nể nhà sư trụ tŕ mấy ngôi chùa lớn, hay các vị đỗ đạt cao nay không làm ǵ chỉ về mở trường trong vùng. C̣n các chức danh đốc học, giáo thụ, huấn đạo – các học quan tương ứng với tỉnh, phủ, huyện – là người do triều đ́nh cử, chứ không phải do chính quyền địa phương cử, hoặc nếu địa phương cử th́ triều đ́nh cũng phải duyệt.


Tôi cảm thấy điều này được giáo dục miền Nam tiếp tục, nền giáo dục ở đây do những người thành thạo chuyên môn quyết định. C̣n ở miền Bắc th́ hoàn toàn ngược lại.


Nhiều vị sư do địa phương phân công vào chùa hoạt động, hoặc sau khi vào chùa, lấy việc cộng tác với chính quyền làm niềm vinh dự, nghĩa là trong hệ thống sai bảo của chính quyền theo nghĩa đen. C̣n người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do Ủy ban cử sang. Cả những hiệu trưởng cũng vậy, phải do Ủy ban thông qua. Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo nguyên tắc là ai tài giỏi cho đi phụ trách các ngành chính trị – kinh tế. C̣n văn hóa – giáo dục sẽ phân công cho những người kém thế lực và kém năng lực. Đánh đấm ở chiến trường hay vật lộn với sản xuất với thị trường mới khó, chứ việc quản mấy ông thầy với đám học tṛ ranh, ai làm chẳng được – người ta hiểu vậy.


Một người bạn già có hiểu nhiều về giáo dục ở thời Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa kể với tôi là Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong chính phủ liên hiệp thành lập tháng 2 năm 1946 là Đặng Thai Mai. Nhưng về sau, do sinh viên trường Đại học Đông Dương đề xuất thắc mắc, Đặng Thai Mai chỉ tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, nên phải thay bằng Nguyễn Văn Huyên có bằng tiến sĩ Sorbone – đại học số một của Pháp. Việc chọn người tham gia chính phủ thời kỳ 1945-46 có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng tôi tin chắc rằng thời ấy việc cử Bộ trưởng Bộ Giáo dục buộc phải tuân theo nhiều chuẩn mực nghiêm khắc, chứ không phải à uôm hoặc phe cánh chạy chọt, như hiện nay. Vả chăng vấn đề không phải chỉ riêng ông Bộ trưởng, mà là mọi cấp quan chức của giáo dục.


Một trong những chuyện vui vui xảy ra với nền giáo dục hôm nay là, chỉ thị của Bộ Gíáo dục khoảng cuối 2013 cho các tỉnh, khuyên cơ quan chính quyền tỉnh nên cẩn thận và ráo riết trong việc kiểm soát các tin tức tiêu cực từ các cuộc thi. Nó là bằng chứng cho thấy giáo dục đă nát như thế nào và người ta cố t́nh che giấu như thế nào. Nhưng nó cũng tố cáo sự lệ thuộc hoàn toàn của nhà trường vào nhà cầm quyền. Giáo dục trở thành việc nhà của địa phương rồi, người ta cho biết cái ǵ th́ dân được biết cái đó.


Một kỷ niệm nữa có liên quan tới việc giáo dục lệ thuộc chính trị một cách thô thiển. Những năm 1955-58, tôi học trường cấp II Chu Văn An. Trường ở ngay cạnh Chủ tịch Phủ. Hễ có các vị quan khách nước ngoài tới thăm, xe đưa từ sân bay Gia Lâm về Ba Đ́nh, là bọn tôi được lệnh bỏ học, ra đứng đường để hoan nghênh các vị khách quư. Ở các địa phương việc huy động thầy tṛ vào các công việc gọi là công ích, là công tác chính trị của địa phương, càng phổ biến. Người ta tự coi ḿnh đương nhiên có quyền can thiệp vào mọi việc của nhà trường. C̣n những việc như thế làm hại đến chất lượng giáo dục ra sao th́ không ai cần biết.

 


Vietnam 1965 - Higher Education - First Day Cover FDC

 


Những nguyên tắc căn bản của giáo dục


Mấy năm gần đây, hoạt động của giáo dục miền Nam được nhắc nhở nhiều trên báo chí, nhất là trên mạng. Nhờ thế, bọn tôi có thêm dịp để nghĩ lại về nền giáo dục mà trước nay ít được biết tới. Trong một bài mang tên “Nền giáo dục ở miền Nam 1954-75”, một nhà giáo dục đồng thời trước đây là một quan chức trong nghề (như trên đă nói, quan chức giáo dục ở miền Nam khác hẳn quan chức giáo dục ở miền Bắc) – ông Nguyễn Thanh Liêm, đă nhắc lại những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là “Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng”, được ghi trong Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa 1967. Đối chiếu với giáo dục miền Bắc, sơ bộ tôi thấy đại khái thấy hai nguyên tắc đầu cũng thường được Hà Nội nhắc tới, nhưng được giải thích khác đi, và nguyên tắc thứ ba th́ hoàn toàn người làm giáo dục miền Bắc không có một ư niệm ǵ hết.

 


 

 

S.VIETNAM - Moral Rarmement of Youth - 1961 FDC

 


1. Về tính nhân bản:


Trên giấy tờ văn bản, chẳng bao giờ giới văn hóa giáo dục miền Bắc phủ nhận tính nhân bản, tuy là trong thực tế người ta rất ngại nói tới. Phần th́ xă hội ở đây đă xem đấu tranh giai cấp là động lực phát triển; phần nữa th́ đang trong thời chiến tranh, không thể nói nhiều đến t́nh người, nó xâm hại ư chí chiến đấu.


Khi cần phải nói chuyện với thế giới, các nhà tư tưởng miền Bắc cũng công nhận nhân đạo chủ nghĩa là lư tưởng tốt đẹp và giáo dục phải có nhiệm vụ hướng tới. Nhưng trong thực tế, cách lư giải nghĩa về chủ nghĩa nhân đạo thường giản đơn và cổ lỗ. Lại thường giải nghĩa rất mới: “chủ nghĩa nhân đạo cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu chống lại mọi áp bức bất công”. Trong bài “Đế quốc Mỹ phải là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta” của Chế Lan Viên, người ta c̣n thấy những câu thơ mà có lẽ con người ở các xă hội khác không sao hiểu nổi: “Miền Nam ta ơi / Cái hầm chông là điều nhân đạo nhất / Ngọn súng trường ta ơi ngọn súng rất nhân t́nh”. Giới giáo dục miền Bắc cũng theo sự chỉ đạo đó.


Cách giải thích về nhân bản của các nhà giáo dục miền Nam ngược hẳn. Theo tôi hiểu, nó gần với cách hiểu của phạm trù này ở các xă hội hiện đại. Hăy thử đọc một số sách thuộc tủ sách giáo dục của một nhà xuất bản cũng tên là Trẻ, in ra ở Sài G̣n khoảng mấy năm sau 1970. Lúc này, một nhóm các nhà giáo dục, có lẽ mới đi học Anh – Mỹ về, lập nhóm và đă công bố nhiều tài liệu mới viết có, vừa được dịch có. Khi bàn về mục đích giáo dục, Nguyễn Ḥa Lạc viết: “Mục đích tối thượng của giáo dục là làm thế nào giúp con người đạt được nhân cách, các bản ngă đích thực của ḿnh, hầu có thể sống trọn kiếp nhân sinh […] nghĩa là giúp họ thể hiện được con người của ḿnh trong ư nghĩa: con người là một hiện hữu tại thế, một hữu thể có lư trí và tự do, vừa suy tư vừa hành động”.


Cách hiểu như thế này cố nhiên không bao giờ được đề lên như mục đích của giáo dục miền Bắc. Với các nhà giáo dục Hà Nội, nhất là vào thời kỳ sau khi Hà Nội được tiếp quản từ tay người Pháp (10 tháng 10 năm 1954), không thể có những con người chung chung, mỗi con người đều thuộc về một giai cấp – do đó họ phải chịu sự chỉ đạo của các đảng phái đại diện cho giai cấp của họ. Cách hiểu của giáo dục miền Nam: “Chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lư nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục”.


Trước sau, với nền giáo dục miền Bắc, chấp nhận nhân bản theo nghĩa hiện đại và đặt vấn đề tôn trọng cá tính của mỗi cá nhân, bao giờ cũng là một chuyện quá phiền phức, giá có công nhận là đúng nữa th́ hoàn cảnh hiện thời không cho phép người ta tuân thủ. Và trong thực tế, có thể làm ngược lại.


Vào khoảng những năm 1960, có cả một cuộc vận động chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cá nhân khi đó phải được coi là xa lạ và nếu có ai nghĩ vậy th́ cần phê phán. Thế th́ làm sao có thể tính chuyện nghiên cứu về con người cá nhân và giúp lớp trẻ thực hiện bản thể cá nhân vốn có trong họ được? Cái luận điểm từng được thống nhất nêu ra trong các văn bản miền Nam: “Triết lư nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái hay tổ chức nào khác”.


Chúng tôi không dẫn lại đây các văn kiện có tính chỉ đạo đối với giáo dục miền Bắc, trong đó việc đào tạo con người thành những công cụ đắc lực cho cuộc chiến đấu trước mắt được nhấn mạnh. Chỉ xin lưu ư một điểm, đó không phải là phát minh của các nhà chỉ đạo giáo dục miền Bắc nói chung mà c̣n là nguyên lư chỉ đạo giáo dục ở một nước mà miền Bắc lấy làm mẫu như giáo dục Nga Xô-viết.


Trong cuốn “Các vấn đề giáo dục” thuộc tủ sách giáo dục của Nhà xuất bản Trẻ đă nói, có một phần lớn điểm sơ lược về giáo dục nước ngoài, cả phương Đông lẫn phương Tây, chắc là do kê cứu các sách nghiên cứu của Anh, Mỹ và Pháp mà viết lại. Phần viết về giáo dục Nga kết lại như sau: “Xét chung th́ nền giáo dục ở Nga rất thực tiễn và khoa học, nhưng nó chỉ là thứ giáo dục một chiều, nhăm biến con người thành một công cụ sản xuất [và ở Việt Nam là “chiến đấu” – VTN] tới mức tối đa. Một khi con người đă trở thành công cụ của guồng máy cộng sản th́ mất hết nhân tính. Do đó chúng ta có thể kết luận rằng giáo dục Xô-viết tuy thực tiễn và hữu hiệu nhưng lại phi nhân tính”. Có thể mượn ư này để nói về giáo dục miền Bắc.



1966 North Vietnamese girls train for hand-to-hand combat

 


2. Về tính dân tộc:


Ta hăy đọc lại cách giải thích của các nhà giáo dục miền Nam. Ở đây là bảo đảm tính dân tộc, phát triển tinh thần quốc gia của học sinh, có nghĩa: “Giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xă hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở ḿnh, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực và tự lập”.


Các nhà giáo dục miền Bắc, trên đại thể cũng nói như thế, nhưng điểm nhấn th́ khác. Trong cách giải thích của người làm giáo dục Hà Nội, tính dân tộc trước tiên là việc dân ḿnh tự làm lấy giáo dục của ḿnh. Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa ǵ nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước người Pháp đă mang lại. Chúng tôi làm lấy và đôi khi cố ư làm ngược với những bài bản thời thuộc địa. Đây là cách hiểu về tính dân tộc mà giới văn hóa – tư tưởng đề xuất và được coi là tư tưởng chỉ đạo. Th́ cũng là cách hiểu trong giáo dục.


Một khía cạnh khác trong cách hiểu về tính dân tộc của miền Bắc. Không phải là những người làm giáo dục không biết chỗ yếu kém vốn có. Để tự trấn an, người ta biện hộ rằng trong cái vẻ luộm thuộm nhếch nhác, h́nh như giáo dục miền Bắc đang trở lại với nền giáo dục của ông cha ta ngày xưa thời trung đại, chỉ cốt phát huy tinh thần hiếu học của con người. Dân tộc trong trường hợp này, dân tộc đồng nghĩa với “ta về ta tắm ao ta”, từ chối những đổi mới hiện đại. Cũng chính là những lư do được viện dẫn khi, trong đời sống văn hóa người ta kéo nhau trở lại với các phong tục cổ hủ và khuếch trương mê tín đến một mức độ người xưa không thể tưởng tượng. Trong khi đó, như vừa dẫn ở trên, tính dân tộc được các nhà giáo dục miền Nam hiểu là phải hướng về một thứ dân tộc hiện đại.


 

Sĩ phu một ngày không đọc sách, soi gương mặt mũi đáng ghét



 

3. Về tính khai phóng:


Trong mấy chữ gọi là nguyên tắc căn bản trong các tài liệu giáo dục miền Nam, đối với bọn Hà Nội chúng tôi, chữ “khai phóng” là hơi lạ. Mở “Hán Việt tân tự điển” của Nguyễn Quốc Hùng, thấy ghi “khai phóng” tức là “mở mang và buông thả”, ư nói làm cho tốt đẹp hơn; không ḱm giữ, mà trái lại, muốn giúp đỡ cho tiến xa hơn. Thoạt đầu tôi thấy là trong một mức độ nào đó, “khai phóng” có vẻ gần với khái niệm hiện đại tiên tiến của miền Bắc, mấy chữ này thường dùng cả trong kinh tế lẫn giáo dục. Về sau đặt “khai phóng” vào cái nền chung của các nguyên tắc căn bản của giáo dục miền Nam, tôi mới hiểu “khai phóng” gần với khái niệm cơ bản của nhân học hiện đại là tự do – và do đó quá mới mẻ với chúng tôi.


Trong cuốn “Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới”, do tổ chức UNESCO bảo trợ biên soạn và chi phí xuất bản (bản dịch tiếng Việt của NXB Thế Giới, 2004), phần viết về Thái Nguyên Bồi (1868 – 1940), có đoạn dẫn lại mấy ư của vị hiệu trưởng sáng lập Đại học Bắc Kinh liên quan tới phương hướng phát triển giáo dục của nước Trung Hoa thế kỷ XX: “Chúng ta phải được tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và không để cho một trường phái triết học hay bất kỳ một loại h́nh tôn giáo nào giam hăm tư tưởng chúng ta. Trái lại chúng ta phải hướng tới những tư tưởng cao cả mang tính nhân loại, những tư tưởng sẽ tồn tại măi, bất kể không gian và thời gian. Đó là nền giáo dục xứng đáng với tên gọi nền giáo dục toàn cầu… Giáo dục giúp cho thế hệ trẻ có cơ hội phát triển trí lực và hoàn thiện tính cách cá nhân, đóng góp cho nền văn minh nhân loại. Bởi vậy giáo dục không hề trở thành công cụ đặc biệt giúp cho những kẻ muốn thao túng xă hội theo đuổi những mục đích xấu xa. Việc dạy dỗ tại nhà trường phải hoàn ṭan trao cho các nhà giáo độc lập không bị ảnh hưởng bởi bất cứ đảng phái chính trị hay tôn giáo nào”.


Tinh thần khai phóng như vậy đă trở thành một khía cạnh chủ yếu của quan niệm nhân bản như trên đă nói. Tinh thần khai phóng này cũng chi phối cách các nhà giáo dục miền Nam, hiểu khác đi về tính dân tộc, so với nội dung được giáo dục miền Bắc chấp nhận. Các nhà giáo dục miền Nam từng hào hứng nói về xu thế hội nhập đến rất sớm của ḿnh. Cách nói của Nguyễn Thanh Liêm: “Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xă hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xă hội, làm cho xă hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới” – đó chính là theo tinh thần khai phóng vừa nói.


Với giáo dục miền Bắc, nói “dân tộc” là để từ chối “khai phóng”; c̣n với giáo dục miền Nam, chính là cần “khai phóng” th́ mới giải quyết vấn đề “dân tộc” một cách triệt để. Nh́n theo cách nào th́ “khai phóng” mà các nhà giáo dục ở Sài G̣n đă nói cũng bao hàm một ư nghĩa mà giáo dục miền Bắc không thể chấp nhận được, thậm chí phải nói là giáo dục miền Bắc đă làm ngược lại.


Hẳn là không xa sự thật lắm nếu kết luận trong khi giáo dục thế giới và giáo dục miền Nam là khai phóng th́ giáo dục miền Bắc là khép kín. Trong khi giáo dục miền Bắc chỉ hướng tới các mục đích trước mắt – một tinh thần thiển cận sát mặt đất, th́ tinh thần khai phóng mà giáo dục miền Nam muốn xây dựng bao giờ cũng giúp cho người ta hướng tới tương lai. Trong cuốn “Các vấn đề giáo dục” đă nói, ở trang 204 của tập I, tôi c̣n thấy các tác giả dẫn lại một câu của Immanuel Kant: “Mục đích của giáo dục là huấn luyện trẻ không phải chỉ nhằm vào sự thành công của chúng trong t́nh trạng xă hội hiện tại mà nhằm một t́nh trạng có thể tốt đẹp hơn, hợp với một quan niệm lư tưởng của nhân loại”. Giáo dục miền Nam nhằm vào những mục đích như thế mà giáo dục miền Bắc th́ không.



Nữ sinh trường Lê Văn Duyệt - Sài G̣n

 


ĐOẠN KẾT


Giống như xă hội nơi đây, sự phát triển giáo dục ở miền Bắc đi theo một cái mạch phải nói là không b́nh thường. Nếu giáo dục miền Nam tiếp nối cái mạch giáo dục của nhiều nước trên thế giới và trực tiếp là nền giáo dục Việt Nam trước 1945 th́ giáo dục miền Bắc, xét theo cả chặng đường dài năm sáu chục năm, trong khi cố t́m cốt cách riêng của ḿnh, hóa ra lại chẳng tuân theo quy luật nào cả; nếu giáo dục miền Nam được triển khai theo một đường hướng khoa học của thế giới hiện đại th́ giáo dục miền Bắc lại có những khía cạnh như trở lại thời tiền hiện đại.


Cần nói thêm là trong khi phải làm giáo dục một cách ṃ mẫm, những người làm giáo dục ở miền Bắc trước 1975 đă luôn luôn tự nhủ rằng “chúng ta đang làm một cuộc cách mạng trong giáo dục và giáo dục ta đang là một nền giáo dục tiên tiến”. Đó là một ư nguyện chính đáng. Trong chiến tranh, Hà Nội hoàn toàn khép kín. Muốn th́ cũng muốn lắm, nhưng trong hoàn cảnh đóng cửa cách ly với thế giới, làm ǵ có chuyện hội nhập theo đúng nghĩa của nó? Cuộc sống tŕ trệ kéo dài. Đối chiếu với những điều bọn tôi được dạy bảo từ nhà trường phổ thông và sau này từng coi là phương hướng suy nghĩ, với các tài liệu mới đọc được, càng thấy trong khi khác biệt với giáo dục miền Nam, th́ giáo dục miền Bắc cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xă hội hiện đại, cánh học sinh – sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lơng, trong khi những người được giáo dục miền Nam đào tạo th́ hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả.


Mươi năm gần đây, t́nh h́nh có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy th́ nền giáo dục này cũng không khác được so với chính ḿnh. Nó đă cạn kiệt năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em ḿnh qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học. Nhưng họ chỉ lo được cho gia đ́nh riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm nhiều người đă bắt đầu nghĩ rằng h́nh như có một băi lầy đă được tạo ra, và chúng ta sẽ không bao giờ ra thoát.

 

 

Vương trí Nhàn

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính