Những ngày cuối Việt Nam Cộng Ḥa

 

- Phần 1 -

 

Lời soạn giả: Trong tinh thần tưởng niệm “Ngày 30-4-1975”, nh́n lại cuộc diện Việt Nam 30 năm về trước, VB trân trọng giới thiệu loạt bài tổng hợp về một số dữ kiện quan trọng xảy ra từ ngày 10. 3. 1975 tới cuối tháng 4. 1975. Loạt bài này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: hồi kư của cựu Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ phổ biến; hồi kư của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng Quốc pḥng cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa; hồi kư của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, một số bài viết của các nhân chứng, từng giữ các chức vụ trọng yếu trong Chánh phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, và tài liệu riêng của Việt Báo. Riêng trong bài về mặt trận Ban Mê Thuột, một số sự kiện được biên soạn dựa theo hồi kư của Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng, Tiểu khu trưởng Darlac, nhựt kư hành quân của Thiếu tá Phạm Văn Huấn, Sĩ quan Báo chí của Tư lệnh Quân đoàn II.

Tưởng Niệm 30 Tháng 04. 1975: Mặt Trận Ban Mê Thuột Ngày 10-3-1975

 

Vương Hồng Anh

 

 

Cao nguyên ngày N-1

 

Ngày N-1 của mặt trận Cao nguyên là ngày 9 tháng 3/1975, ngày Cộng quân gia tăng áp lực khi mở trận tấn công đánh chiếm quận lỵ Đức Lập(tỉnh Quảng Đức). Từ diễn biến này, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II &Quân khu 2, đă bay đến Ban Mê Thuột để thị sát t́nh h́nh và họp với Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh (lúcbấy giờ là Tư lệnh Mặt trận Nam Pleiku), các Tỉnh trưởng/Tiểu khutrưởng Darlac và Quảng Đức. Cuộc họp diễn ra tại Trung tâm Hành quân bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, kéo dài từ 12h trưa tới 17h chiều.

 

Sau khi nghe Trung tâm Hành quân tŕnh bày t́nh h́nh ở Đức Lập, Thiếu tướng Phú quay sang Đại tá Phạm Văn Ngh́n, Tỉnh trưởng, Tiểu khu trưởng Quảng Đức, cho những chỉ thị cần thiết, và ra lịnh cho vị tỉnh trưởng này bay về ngay tỉnh lỵ để đôn đốc chỉ huy các đơn vị chuẩn bị đối phó với t́nh h́nh mới. Thiếu tướng Phú nói với Tỉnh trưởng Quảng Đức rằng trong trường hợp Quảng Đức bị tấn công, ngoài Liên đoàn 24 Biệt động quân đang tăng phái cho tỉnh này, ông sẽ tăng cường thêm quân để chận địch. Ông nhấn mạnh với Đại tá Ngh́n: “Lịnh Tổng thống phải giữ Quảng Đức bằng mọi giá.”

 

Đại tá Ngh́n vừa rời pḥng họp, Thiếu tướng Phú ra lịnh cho Thiếu tá Nguyễn Văn Hóa, sĩ quan tùy viên, lo chuẩn bị bản đồ các mặt trận để ông họp tiếp tại văn pḥng Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh với Chuẩn tướng Trường và Đại tá Vũ Thế Quang,Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh, Đại tá Nguyễn TrọngLuật, Tỉnh trưởng/Tiểu khu trưởng Darlac. Trong cuộc họp, Thiếu tướng Phú đă hỏi Chuẩn tướng Trường là nhận định thế nào về tin tức t́nh báo cho rằng sư đoàn F 10 cộng sản bắc việt đă về Quảng Đức, và trong trườnghợp như thế, có nên rút bớt lực lượng Sư đoàn 23 Bộ binh đang hành quân tại Pleiku về tăng cường cho mặt trận ở Quảng Đức và Ban Mê Thuột không? Chuẩn tướng Trường đă tŕnh với Thiếu tướng Phú rằng có thể có một phần của 2 sư đoàn F-10 và sư đoàn 320 cộng sản bắc việt đă về hoạt động tại hai tỉnh này, nhưng Tướng Trường không tin rằng toàn bộ sư đoàn F10 đă di chuyển về Quảng Đức. Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh nhận định rằng có khả năng là sư đoàn CSBV này sẽ để lại 1 hoặc 2 trung đoàn để phối hợp với sư đoàn 968 cộng sản bắc việt từ Lào xâm nhập qua để mở mặt trận tại Nam Pleiku.

 

Sau lời tŕnh bày của Chuẩn tướng Trường, Đại tá Luật báo cho Thiếu tướng Phú biết là cách đây hai ngày trung đội Thám báo Tiểu khu Darlac đă phục kích bắt được 2 tù binh CSBV tại một ấp Thượng cách tỉnh lỵ 10 km, trong đó có 1 sĩ quan bị thương. Cả hai tù binh khai là thuộc bộ phần tiền thám của sư đoàn 320 cộng sản bắc việt. Viên sĩ quan tù binh CSBV tiết lộ là sư đoàn 320 cộng sản bắc việt được lịnh chuẩn bị tấn công Ban Mê Thuột. Theo đề nghị của Đại tá Luật, Thiếu tướng Phú đă cho gọi Trưởng pḥng 2 Tiểu khu Darlac tŕnh bày chi tiết về cung từ của hai tù binh.

 

Trước những báo cáo của Tiểu khu Dralac, sau một lúc suy nghĩ để lượng định t́nh h́nh, Thiếu tướng Phú ra lịnh cho Chuẩn tướng Trường bay về Pleiku trước để phối trí lực lượng tại đây, chuẩn bị lực lượng tiếp ứng cho Quảng Đức khi tỉnh này bị tấn công. Từ 16h tới 17h chiều, Thiếu tướng Phạm Văn Phú họp tiếp với Đại tá Quang, được chỉ định làm Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột, và Đại tá Luật về kế hoạch bảo vệ tỉnh lỵ tỉnh Darlac. Trong giờ cuối cùnghọp với tướng Phú, Đại tá Vũ Thế Quang đă tŕnh bày sự phối trí lực lượng như sau:

- Pḥng thủ phía Bắc: Trung tâm huấn luyện Sư đoàn 23 Bộ binh.

- Pḥng thủ phía Đông: Bộ chỉ huy chi khu Ban Mê Thuột và đơn vịĐịa phương quân thống thuộc chi khu.

- Lực lượng phía Tây-khu vực trọng yếu và nguy hiểm nhất có hậu cứcủa tiểu đoàn của Thiết đoàn 3 Thiết kỵ và kho đạn Mai Hắc Đế.Ngoài ra, doanh trại các tiểu đoàn Pháo binh, Công binh, Truyền tin thống thuộc Sư đoàn 23 bộ binh đóng gần thị xă đều tận dụngquân số tại hàng để tổ chức pḥng ngự trong phạm vi trách nhiệm.Lực lượng trừ bị cho thị xă Ban Mê Thuột là lực lượng Trung đoàn53 Bộ binh (trung đoàn trừ, chỉ có 2 tiểu đoàn), án ngữ tại phi trường Phụng Dực. Riêng về trách nhiệm của Tiểu khu Darlac, Đại tá Nguyễn Trọng Luật đă cho điều động Tiểu đoàn 204 Địa phương quân đang đóng tại Ban Don về thị xă. Việc di chuyển không phải dễ dàng v́ phải trưng dụng tất cả các quân xa trong toàn thị xă Ban Mê Thuột mới đủ quân xa để vận chuyển cả một tiểu đoàn.

 

02 giờ sáng ngày 10/3/1975: Mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ.

 

Đúng 02 giờ sáng, ngày 10 tháng 03. 1975, Cộng quân khai hỏa tấn công vào Ban Mê Thuột. Tiếng pháo kích rền vang trong thị xă này đến 04 giờ sáng. Sau đó, Cộng quân đă sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung tấn công chiếm kho đạn Mai Hắc Đế ở phía Tây. Đơn vị trú pḥng đă chống trả mănh liệt và bảo vệ được kho đạn. Về phía Bắc, Đài Truyền tin của Không quân cũng bị tấn công. Tới 07h sáng. Cộng quân ngưng pháo kích vào thị xă nhưng đă điều động bộ binh và thiết giáp tiến vào thị xă và khai triển lực lượng xung quanh nhà thờ thị xă.

 

Để tiện phối hợp trong việc chỉ huy, Đại tá Nguyễn Trọng Luật đă xin Thiếu tướng Phạm Văn Phú cho ông được qua ở chung với Đại táVũ Thế Quang. Đề nghị của Đại tá Luật được tướng Phú chấp thuận.Sự lo ngại của Đại tá Quang và Đại tá Luật là chiến xa Cộng quân đă lọt vào thị xă. Từng là Tư lệnh 1 Lữ đoàn Kỵ binh, Đại tá Luật thấy rơ hỏa lực tấn công của địch một khi có thiết giáp tham chiến. Tuy nhiên cả Đại tá Quang và Đại tá Luật vẫn hy vọng ở sự yểm trợ của Không quân Việt Nam Cộng Ḥa khi trên bầu trời Ban Mê Thuột đă xuất hiện những phi cơ L19 và các phản lực cơ chiến đấu. Tinh thần của quân sĩ trú pḥng lên cao. Các đoàn chiến xa của Cộng quân từ hướng bắc tiến về phía Nam đă bị các đơn vị Địa phương quân của Tiểu khu Darlac đánh chận lại.

 

Cộng quân thay đổi chiến thuật tấn công: Trưa ngày 10. 03. 1975, đối phương đă pháo kích dồn dập vào bộ chỉ huy tiểu khu và một số vị trí trọng yếu trong thị xă, trong đó có cả bản doanh bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Hệ thống truyền tin tại bộ chỉ huy Tiểu khu bị trúng đạn pháo, hư hại nặng. Trước t́nh h́nh đó, Thiếu tá Hy, trưởng pḥng 3 Tiểu khu, xin Đại tá Luật cho di chuyển bộ tham mưu ra khỏi vị trí. 13 giờ 30, Thiếu tá Hy báo cáo Cộng quân tập trung pháo binh bắn vào doanh trại bộ chỉ huy, sau đó chiến xa và bộ binh Cộng quân tràn vào hệ thống pḥng thủ. 2 giờ chiều cùng ngày, Cộng quân tràn ngập vào doanh trại này. Đại tá Nguyễn Trọng Luật liền khẩn báo cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Tướng Phú ra lệnh cho trực thăng vận Liên đoàn 21 Biệt động quân xuống Ban Mê Thuột để tái chiếm doanh trại bộ chỉ huy Tiểu khu. Đúng 17 giờ, đoàn trực thăng đă đến gần thị xă nhưng không đáp xuống được v́ hỏa lực pḥng không của Cộng quân.

 

Cuối cùng, vào lúc 18 giờ, Bộ Tư lịnh Quân Đoàn II quyết định thay đổi vị trí băi đổ quân. Liên đoàn 21 Biệt Động Quân được thả xuống trong khu vực Bộ Chỉ huy Chi khi Buôn Hô rồi từ đó di chuyển bằng đường bộ tiến vào thị xă Ban Mê Thuột.

 

Về trận chiến quanh thị xă Ban Mê Thuột, sau những trận tấn công cường tập vào một số vị trí trong yếu quanh ṿng đai Ban Mê Thuột trong sáng ngày 10. 03 1975, cộng quân đă điều động một trung đoàn mở cuộc tấn công lần thứ 2 vào kho đạn Mai Hắc Đế, một căn cứ được xem là tiền đồn của thị xă Ban Mê Thuột, có 1 diện tích rất rộng với hệ thống tuần tiểu bên ngoài dài hơn 15 km. Cộng quân đă chiếm trại, nhưng bị tổn thất nặng trước tinh thần chiến đấu quyết tử của lực lượng trú pḥng. Sau đó cộng quân đă tung lực lượng chiếm các doanh trại gần đó như Tiểu đoàn 23 truyền tin, Trungtâm huấn luyện Địa phương quân, Đơn vị hành chánh tài chánh…

 

Tại phi trường Phụng Dực, ngay từ ngày 10/3/1975, cộng sản bắc việt đă điều động 2 Trung đoàn thuộc sư đoàn 320 và 1 tiểu đoàn chiến xa tấn công cường tập vào tuyến pḥng thủ của Trung đoàn 53 Bộ binh. Đây là trung đoàn tăng phái cho Quảng Đức vừa được điều động về Ban Mê Thuột, do phải bố trí một thành phần pḥng thủ chận địch ở Thuận Mẫn (Đông Bắc Ban Mê Thuột), nên Trung đoàn chỉ c̣n lại 2 tiểu đoàn. Bị tổn thất nặng trong các trận kịch chiến với cộng quân tại Quảng Đức, nên tổng quân số của hai tiểu đoàn chỉ c̣n hơn 600 chiến binh. Rạng sáng ngày 11. 03. 1975, Cộng quân đă mở đầu đợt tấn công thứ hai vào phi trường Phụng Dực bằng những trận những đợt pháo kích dồn dập, sau đó, thiết giáp và bộ binh cộng quân ồ ạt xông lên. Lực lượng pḥng ngự của Trung đoàn 53 Bộ binh đă b́nh tỉnh chống trả, chận đứng được các đợt xung phong của địch quân. Các khẩu đội pháo binh 105 của lực lượng trú pḥng đă bắn trực xạ vào các chiến xa T 54 của địch quân.

 

Theo báo cáo sơ khởi của các cánh quân bảo vệ Ban Mê Thuột th́ tính đến 6 giờ chiều ngày 10/1975, cộng quân đă bị loại ra ngoài ṿng chiến khoảng 300 cán binh cộng quân bắc việt, 12 chiến xa T-54 Cộng quân bị bắn cháy. (V)

14. 03. 1975: Tổng Thống Thiệu Quyết Định Bỏ Cao Nguyên

 

Vương Hồng Anh

 

* Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra quân lệnh triệt thoái lực lượng Việt Nam Cộng Ḥa khỏi Cao nguyên.

 

Sau cuộc họp với Hội đồng An Ninh Quốc gia tại Dinh Độc Lập ngày 13. 03. 1975, có sự tham dự củaTrung tướng Ngô Quang Trưởng-Tư lệnh Quân đoàn 1- để bàn về kế hoạch tái phối trí lực lượng trong t́nh h́nh mới, sáng ngày 14 tháng 03. 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng Thủ tướng TrầnThiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, Phụ tá an ninh của Tổng thống đến Cam Ranh để họp với Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II & Quân khu 2. Tại cuộc họp kéo dài gần 2 giờ, Tổng thống Thiệu ra lịnh cho Tướng Phú phảirút toàn bộ lực lượng Quân đoàn II tại hai tỉnh Pleiku và Kontumvề khu vực duyên hải miền Trung (Phú Yên và Khánh Ḥa) để táiphối trí lực lượng phản công chiếm lại Ban Mê Thuột.

 

Khi được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hỏi nên rút quân theo trục lộ nào, Tướng Phú đă tŕnh bày với Tổng thống Thiệu rằng các quốc lộ chính nối trong khu vực Cao nguyên đă bị Cộng quân cắt đứt, chỉ c̣n liên tỉnh lộ 7B. Đây là con đường đá từ Quốc lộ 14 quẹo ra phía nam cách thị xă Pleiku chừng 32 km, chạy theo hướng đông nam, xuyên qua Hậu Bổn về Tuy Ḥa (tỉnh lỵ Phú Yên). Kế hoạch chọn liên tỉnh lộ 7B đă không được sự đồng ư của Đại tướng Viên v́ ông cho rằng đưa một quân đoàn di chuyển trên một đoạn đườngdài hơn 250 cây số mà không rơ t́nh h́nh an ninh là một việc “quá sức liều lĩnh”, tuy nhiên cuối cùng Tướng Viên cũng không t́m ra được một con đường nào khác nên kế hoạch của tướng Phú đă đượcchấp thuận.

 

* Một chi tiết đặc biệt về lịnh triệt thoái Cao nguyên: Chủ lực quân rút, Địa phương quân ở lại…

 

Trên đường trở lại Pleiku, Tướng Phú đă tâm sự với thiếu tá Phạm Huấn-sĩ quan Báo chí của tư lịnh Quân đoàn II, là trong buổi họpông đă khẩn khoản xin Tổng thống Thiệu cho ông được tử thủ giữ Pleiku, nhưng đề nghị của ông đă không được chấp thuận. Một chi tiết đặc biệt đă được Tướng Phú kể lại cho Thiếu tá Phạm Huấn vớinội dung như sau: Trong cuộc họp, Tổng thống Thiệu căn dặn tướngPhú rằng lệnh triệt thoái là tối mật, từ cấp tỉnh trưởng/tiểu khu trưởng trở xuống không được biết, có nghĩa là các lực lượng Địaphương quân vẫn ở lại chiến đấu, vẫn tiếp tục làm việc với tỉnh trưởng, quận trưởng. Chỉ có toàn bộ chủ lực quân gồm Bộ binh,Pháo binh, Thiết giáp, Công binh, Không quân là phải triệt thoái.

 

Trước quyết định của Tổng thống Thiệu, Tướng Phú đă lo lắng vàhỏi lại: Thưa Tổng thống, nếu Chủ lực quân, Thiết giáp, Pháo binh rút đi, làm sao Địa phương quân chống đỡ nỗi khi Cộng quân đánh?Hơn 100 ngàn dân hai tỉnh Pleiku, Kontum, và gia đ́nh anh em binhsĩ? Tổng thống Thiệu trả lời: Th́ cho thằng Cộng sản số dân dó.Với t́nh h́nh nặng nề hiện tại, ḿnh phải lo pḥng thủ, giữ được những vùng dân cư đông đúc…màu mỡ hơn là bị kẹt quá nhiều quâtrên vùng Cao nguyên! (Cuộc triệt thoái Cao nguyên, tác giả Phạm Huấn, xuất bản 1987, ḍng thứ 1 đến ḍng thứ 6, trang 86).

 

Về phần Đại tướng Cao Văn Viên, khi về đến Sài G̣n, ông đă cho mời Chuẩn tướng Trần Đ́nh Thọ, Trưởng pḥng 3 bộ Tổng Tham Mưu(TTM) và báo cho vị trưởng pḥng này về các chi tiết đă được bàn trong buổi họp tại Cam Ranh. Tham mưu trưởng Bộ TTM là trung tướng Đồng Văn Khuyên lúc ấy đang công tác ở ngoại quốc. Cuộc hành quân cũng được giữ bí mật tối đa do chính Tổng thống ra lịnh trực tiếp cho viên tư lệnh chiến trường nên Bộ TTM không được quyền ra lịnh làm ǵ hết, kể cả việc tái phối trí các đơn vị Không quân và lực lượng tăng phái cho Quân đoàn 2 tại Pleku và Kontum.

 

Vào thời gian này, tại vùng Kontum và Pleiku chỉ c̣n 1 tiểu đoàncủa Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB, 5 Liên đoàn Biệt Động Quân Quân Khu 2, thiết đoàn 21 M 48, hai tiểu đoàn pháo binh 175 mm và các đơn vị yểm trợ như Liên đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu, Liên đoàn 231 Yểm trợ Tiếp Vận, kho đạn của Không quân và Lục quân với khoảng 20 ngàn tấn đạn, kho tồn trữ nhiên liệu với trữ lượng dùngtrong 45 ngày và nhu yếu phẩm và thực phẩm đủ dùng trong hai tháng. Nhiệm vụ của Tướng Phú là làm sao đưa hết được các đơn vị và tiếp phẩm này về Nha Trang và để từ đó mở cuộc phản công tái chiếm lại Ban Mê Thuột.

 

* Cuộc họp của Thiếu tướng Phú về kế hoạch rút quân:

 

Theo lời ban tham mưu của Tướng Phú kể lại, vào lúc 5 giờ 10chiều ngày 14 tháng 3/1975, khi vừa từ Cam Ranh trở về, Tướng Phú triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại chiếc bunker của ông, với thành phần tham dự gồm có: Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phụ tá Hànhquân; Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân,Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 1(gồm 5 liên đoàn Biệt động quân), Đại tá Lê Khắc Lư, Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 & Quân khu 2. Mở đầu cuộc họp đặc biệt này,tướng Phú đă thừa lệnh Tổng thống VNCH gắn cấp Chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất. Ngay sau đó, ông tŕnh bày tóm tắt nội dung cuộc họp tại Cam Ranh và chỉ định chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và tânChuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy tổng quát cuộc rút quân khỏi Cao nguyên.

 

Kế hoạch cuộc chuyển quân được phổ biến vắn tắt: Tướng Phú và Bộ tư lịnh nhẹ sẽ đi Nha Trang trước bằng trực thăng. Chuẩn tướng Tất chỉ huy toàn bộ các đơn vị tham gia cuộc triệt thoái từ Kontum và Pleiku về Tuy Ḥa theo tỉnh lộ 7 B. Đại tá Lê Khắc Lưđược giao trách nhiệm điều động bộ tham mưu quân đoàn và các đơn vị yểm trợ. Toàn bộ cuộc hành quân đặt dưới sự giám sát của chuẩn tướng Trần Văn Cẩm.

 

Theo kế hoạch do Tướng Phú đề ra, Liên đoàn 20 Công binh chiến đấu sẽ cho một đơn vị đi đầu để làm thành phần tiên phong cónhiệm vụ sửa chữa cầu cống, đường sá khi cần thiết. Các đơn vị thiết giáp được giao nhiệm vụ yểm trợ đoàn xe vận tải. Các đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân trong khu vực đoàn quân đi qua chịu trách nhiệm an ninh trục lộ. Đi cuối cùng là hai Liên đoàn Biệtđộng quân và 1 đơn vị thiết giáp. Các đơn vị cuối cùng này sẽ rời Pleiku vào ngày 19. 03. 1975.

Do cuộc chuyển quân rầm rộ với nhiều đơn vị và hàng trăm xe vận tải cùng nhiều quân cụ nặng nên thời gian chuẩn bị phải mất hết 4 ngày liên tiếp, bắt đầu từ ngày 16 tháng 03. 1975.

 

Sau khi họp với các đơn vị trưởng, sáng ngày 15 tháng 3, Thiếu tướng Phú cùng với một số sĩ quan được chọn lựa trong ban tham mưu bay về Nha Trang để tái tổ chức lại bộ tư lệnh Quân đoàn ở đây. Cũng trong ngày này, Chuẩn tướng Cẩm và vài sĩ quan thân cận bay đi Tuy Ḥa để chuẩn bị đón đoàn quân di chuyển từ Pleiku về. Cũng trong ngày này, đă có một số quân xa bắt đầu rời Pleiku theo các toán nhỏ. Như đă tŕnh bày ở trên, từ khi có cuộc tái phối tríđược nêu ra trong cuộc họp cho tới khi bắt đầu thực hiện, tất cảđều tiến hành một cách bí mật, không một lời nào được tiết lộ, kểcả không cho các tỉnh trưởng của hai tỉnh Kontum và Pleiku biết.

 

Tỉnh trưởng Pleiku nhờ ở gần bộ Tư lịnh nên được biết trước, c̣n tỉnh trưởng Kontum th́ đến phút chót mới biết được và ông đă tháp tùng theo đoàn quân, nhưng giữa đường th́ bị cộng quân bắn chết.

 

Ngày 16 tháng 3, đoàn xe đầu tiên của Quân đoàn II khởi hành ra khỏi thị xă Pleiku như đă trù liệu. Nhưng khi chiếc xe cuối cùng vừa rời khỏi bến th́ tin này được dân chúng biết. Vậy là muôn người vội vàng bỏ thành phố bằng bất cứ phương tiện nào sẵn có,ngay cả chạy bộ, và mang theo bất cứ thứ ǵ có thể mang theo được. Sau đó đoàn người từ Kontum cũng nhập vào thành một đoàn người cả quân lẫn dân kéo dài dọc theo liên tỉnh lộ 7B đầy nguy hiểm. Cuộc chuyển quân của Quân đoàn II khỏi Pleiku bắt đầu…

 

 

Ngày 16-3-1975: Quân Đoàn II Triệt Thoái Khỏi Cao Nguyên.

 

Vương Hồng Anh

 

* Ngày 16. 03. 1975: Chuẩn tướng Phạm Duy Tất tổng chỉ huy cuộc triệt thoái của Quân đoàn II khỏi Cao nguyên.

 

Ngày 16. 03. 1975, thi hành quân lệnh của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đă ban ra tại cuộc họp lịch sử ở Cam Ranh ngày 14-3-1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II, Quân khu 2, đă cho lịnh triệt thoái toàn bộ lực lượng Quân đoàn II khỏi 2 tỉnh Pleiku và Kontum của Cao nguyên Trung phần.

 

Theo phân nhiệm của Thiếu tướng Phạm Văn Phú, tân Chuẩn tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2, được ủy nhiệm tổng chỉ huy toàn bộ các đơn vị triệt thoái.

 

(Trước đó, vào sáng ngày 15 tháng 3, Thiếu tướng Phú cùng với một số sĩ quan trong Bộ Tư lịnh bay về Nha Trang để tái tổ chức lại Bộ tư lệnh Quân đoàn II, Quân khu 2 ở đây. Cũng trong ngày này, Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phụ tá Hành quân Tư lệnh Quân đoàn II và vài sĩ quan thân cận bay đi Tuy Ḥa để chuẩn bị đón đoàn quân triệt thoái từ Pleiku và Kontum về).

 

Theo lịch tŕnh triệt thoái khỏi Cao nguyên, ngày 16 tháng 3/1975, một số đơn vị tiếp vận, Pháo binh,Công binh của Quân đoàn II di chuyển trên 200 quân xa, với sự yểmtrợ của một đơn vị Thiết Giáp, đă khởi hành ra khỏi thị xă Pleiku, đây là lực lượng đi đầu của của đoàn quân triệt thoái.

 

Sau thành phần đi đầu, lịch triệt thoái của các ngày kế tiếp như sau: vào ngày 17-3. các đơn vị Công binh, Pháo binh c̣n lại cùng Quân y với trên 250 xe sẽ di chuyển vào ngày 17. 03. 1975 và cũng do Thiết giáp tháp tùng bảo vệ. Ngày 18. 03. 1975: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, đơn vị Quân cảnh, một phần của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cùng khoảng 200 quân nhân của Trung đoàn 44 Bộ binh triệt thoái, và cũng được Thiết giáp đi theo bảo vệ. Ngày 19. 03. 1975: lực lượng đoạn hậu gồm có Biệt động quân và đơn vị thiết giáp cuối cùng.

 

Theo lộ tŕnh, đoàn quân sẽ từ Pleiku di chuyển về phía Nam của Quốc lộ 14 để đến giao điểm QL 14 và Liên tỉnh lộ 7 cách thị xă Pleiku khoảng 33 km đường chim bay về phía Nam, từ giao lộ này đoàn quân sẽ tiếp tục di chuyển dọc theo liên tỉnh lộ 7 B về hướng Đông Nam, xuyên qua tỉnh lỵ Phú Bổn để về Tuy Ḥa.

 

Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên phân tích về liên tỉnh lộ 7B và cuộc rút quân của Quân đoàn II.

 

Trong phần tŕnh bày về cuộc họp tại Cam Ranh, VB đă lược tŕnh về quyết định của Tổng thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu ra quân lệnh cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú triệt thoái Quân đoàn II khỏi Cao nguyên. Sau đây là những ghi nhận chi tiết về quân lịnh này.

 

Tại cuộc họp Cam Ranh, khi nghe Thiếu tướng Phú chọn Liên tỉnh lộ 7B làm trục lộ rút quân, Đại tướng Cao Văn Viên không đồng ư, vị Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH cho rằng đưa một quân đoàn di chuyển trên một đoạn đường dài hơn 250 cây số mà không nắm rơ t́nh h́nh an ninh lộ tŕnh là “quá sức liều lĩnh”, tuy nhiên cuối cùng Đại Tướng Viên cũng không t́m ra được một trục lộ nên kế hoạch của Thiếu tướng Phú đă được Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Hội đồng Quốc gia chấp thuận.

 

Nhận định về địa h́nh liên tỉnh lộ 7 B, Đại tướng Cao Văn Viên phân tích rằng ngoài trừ khúc từ Quốc lộ 14 đi Hậu Bổn c̣n dùng được, đoạn c̣n lại không biết t́nh h́nh giao thông như thế nào.Tuy nhiên, có một điều mà Quân đoàn II biết trước là cầu bắc qua sông Ba về phía nam Củng Sơn đă bị phá hủy hoàn toàn, không thể sửa chữa được, và đoạn đường chót đến phía tây Tuy Ḥa th́ nhữngvào năm trước 1973, lực lượng Đại Hàn hoạt động tại đây đă gài ḿn dày dặc.

 

Trong khi Đại tướng Viên lo ngại về lộ tŕnh rút quân, th́ Thiếu tướng Phú lại tin tưởng về kế hoạch chuyển quân theo Liên tỉnh lộ 7B. Đây là con đường đá từ quốc lộ 14 đi Hậu Bổn (có đèo Cheo Reo) về Tuy Ḥa sát biển. Đường này rất ghồ ghề, đá lởm chởm và bị bỏ lâu không dùng đến. Giải thích về sự chọn lựa này, Thiếu tướng Phú tŕnh bày rằng yếu tố bất ngờ đă khiến ông có dự tính như thế.

 

Thiếu tướng Phú chỉ yêu cầu Bộ Tổng tham mưu cung cấp phương tiện cầu nổi để qua sông mà thôi. Với quyền hạn của một Tổng tham mưu trưởng, Đại tướngViên chấp thuận ngay lời yêu cầu của Thiếu tướng Phú.

 

Nhận định về quyết định của Tổng thống Thiệu và kế hoạch chuyển quân của Thiếu tướng Phú, Đại tướng Viên cho rằng “đưa một lực lượng cỡ quân đoàn với đầy đủ quân cụ, quân xa và nhiều thứ khác trên một đoạn đường dài hơn 250 cây số qua núi cao và rừng già trên vùng Cao nguyên mà không biết t́nh h́nh an ninh con đường đó ra sao quả là một việc quá sức liều lĩnh. Có tạo được yếu tố bất ngờ hay không là do khả năng di chuyển nhanh gọn. Nhưng là một người chỉ huy sáng suốt th́ lúc nào cũng phải có sự cẩn trọng trước t́nh trạng là địch đang có mặt hầu như cùng khắp tại khu vực đó”.

 

Cũng trong buổi họp tại Cam Ranh, Đại tướng Viên đă nhắc nhở Thiếu tướng Phú về những khó khăn và nguy hiểm sắp đến, cũng như biện pháp an ninh cần chuẩn bị. Đại tướng Viên cũng đă đề cập đến sự thất bại của quân Pháp khi muốn rút quân từ Lạng Sơn về đồng bằng trong năm 1947. Ông cũng nhắc đến hai cuộc chuyển quân của hai binh đoàn Pháp trước năm 1954, theo đó một binh đoàn từ Thất Khê lên hướng Bắc và một binh đoàn từ Cao Bằng di chuyển về hướng Nam, tất cả đều bị đánh tan nát tại chưn núi xung quanh Đông Khê, dọc theo Quốc lộ Thuộc Địa số 4. Về địa thế và con đường mà Thiếu tướng Phú chọn để di chuyển quân đoàn II th́ vào tháng 6/ 1954, Lựclượng Cơ động 100 nổi tiếng của quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương đă bị thảm sát trên Quốc lộ 19 gần An Khê và số sống sót c̣n lại cũng bị tiêu diệt tại Đeo Chu-Drek trên Quốc lộ 14. Theo Đại tướng Viên, đó là “những bài học máu xương và thảm khốc nhất mà bất cứ vị chỉ huy nào cũng phải biết rơ v́ địa thế hiểm trở củavùng Cao nguyên là vậy”.

 

Về t́nh h́nh Ban Mê Thuột sau khi thất thủ vào ngày 11. 03. 1975, Đại tướng Viên cho biết thêm: tại cuộc họp ở Cam Ranh, Tổng thống Thiệu chỉ hỏi một câu quan trọng nhứt liên quan đến số phận của Ban Mê Thuột, đó là Thiếu tướng Phú có thể chiếm lại Ban Mê Thuột không. Những người tham dự đều biết trước là Thiếu tướng Phú không khẳng định được điều này nên không có câu trả lời dứt khoát. Thiếu tướng Phú chỉ yêu cầu tăng thêm viện binh. Quay sang Đại tướng Viên, Tổng thống Thiệu hỏi xem c̣n lực lượng nào có thể tập trung đưa lên giải vây không. Hỏi vậy nhưng chắc chắn ông biết rơ câu trả lời. Đại tướng Viên cho biết đơn vị cuối cùng là Liên đoàn 7 Biệt Động Quân đă được phái lên Vùng 2 theo yêu cầu của Thiếu tướng Phú. Lực lượng chủ chốt là Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến th́ đều ở Quân khu 1 từ năm 1972.

 

Theo lời Đại tướng Viên th́ vào giờ phút nghiêm trọng như vậy mà Bộ Tổng Tham Mưu không thể nào tăng viện cho Quân khu 2 được. Tổng thống Thiệu hỏi như vậy là để cho mọi người cùng hiểu thực trạng của quân đội như thế nào, và biết được bước kế tiếp ông phải làm ǵ.Khi cuộc họp chấm dứt, th́ Tướng Phú xin riêng với Tổng thống Thiệu bằng một giọng khẩn khoản rằng ông xin Tổng thống thăng cấp chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2. Kể lại sự việc này, Tướng Cao Viên ghi lại như sau: “Tôi không quen thân với Đại tá Tất nhưng được nghe ông là người có khả năng, nhưng làm tư lịnh chiến trường th́ không có bằng chứng nào chứng minh ông ta có khả năng. Tôi liền phản đối ngay và nói rằng khi nào tái phối trí xong rồi mới nói đến. Tổng thống Thiệu tỏ ra do dự nhưng thấy tôi nói có lư nên không đồng ư việc thăng cấp. Thế nhưng, Thiếu tướng Phú khẩn khoản xin cho bằng được. Cuối cùng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đồng ư thăng cấp Chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất.

 

 

Ngày 19. 03. 1975: TT Thiệu Họp Bàn Kế Hoạch Giữ Đà Nẵng.

 

Vương Hồng Anh

 

● Cuộc họp mật ngày 19 tháng 03. 1975 bàn về số phận 5 tỉnh miền Trung thuộc Quân khu 1.

 

Sau 2 cuộc họp mật của Hội đồng An ninh Quốc gia tại Dinh Độc Lập vào các ngày 11 và 13 tháng 03. 1975, vào ngày 19 tháng 3/1975, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu lại mở cuộc họp đặc biệt để duyệt xét t́nh h́nh Quân khu 1. Cuộc họp bắt đầu 11 giờ, ngoài các nhơn vật đă tham dự hai cuộc họp trước (Tổng thống Thiệu, Thủ tướng Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang), c̣n có Phó Tổng thống Trần Văn Hương tham dự. Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lịnh Quân đoàn I, Quân khu 1, cũng được gọi về Sài G̣n để dự cuộc họp này.

 

Theo lịnh của Tổng thống được chuyển đến Tư lệnh Quân đoàn I trước đó, Tướng Trưởng tŕnh bày về kế hoạch rút quân của Quân khu 1 tập trung về Đà Nẵng để bảo vệ thành phố trọng yếu này. Theo ghi nhận của Tướng Viên, kế hoạch của Tướng Trưởng rất chu đáo và được tiến hành theo hai phương cách: phương cách thứ nhứt dùng Quốc lộ 1. Theo đó th́ có lực lượng VNCH từ Huế và từ Chu Lai cùng một lúc rút về Đà Nẵng. Phương cách thứ hai: nếu địch cắt Quốc lộ 1 th́ sẽ rút quân về tập trung tại ba nơi khác nhau: Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Tuy nhiên Huế và Chu Lai chỉ là nơi tập trung tạm thời để sau đó các đơn vị được hải vận về Đà Nẵng, kết thúc cuộc bố trí giữ Đà Nẵng. Như vậy, Đà Nẵng sẽ trở thành ốc đảo trong ḷng địch để cố thủ bằng 4 sư đoàn (Sư đoàn 1, 2, 3 Bộ binh, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến) và 4 liên đoàn Biệt động quân.

 

Sáu giờ chiều ngày 19 tháng Ba, Trung tướng Trưởng trở lại Đà Nẵng. Khi phi cơ ông vừa hạ cánh, th́ ông nhận được báo cáo khẩn cấp của Trung tướng Lâm Quang Thi, Tư lịnh phó Quân đoàn I, gọi từ bộ Tư lịnh Tiền phương Quân đoàn I ở Huế vào. Tướng Thi báo rằng đại bác 130 ly của địch đang nă vào bản doanh của ông và cộng quân đang tung đợt tấn công quy mô lớn bằng xe tăng để t́m cách vượt qua ṿng đai pḥng thủ của lực lượng VNCH tại sông Thạch Hăn.

 

* Đại tướng Cao Văn Viên phân tích các quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về vận mệnh Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Trước khi đưa ra những quyết định trong cuộc họp ngày 19 tháng 3/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đă 2 lần họp mật với Hội đồng An ninh Quốc gia để duyệt xét về t́nh h́nh tại Cao nguyên và miền Trung. Sau đây là những ghi nhận và phân tích của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH về những cuộc họp này.

 

Theo lời của Đại tướng Viên, một ngày sau khi Cộng quân tổng tấn công vào Ban Mê Thuột, sáng ngày 11 tháng Ba, 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đă mời Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc Pḥng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng QL.VNCH Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, Phụ tá An ninh của Tổng thống, đến dinh Độc Lập để ăn sáng và họp. Sau khi ăn và uống cà phê xong, các nhơn viên phục dịch đi hết, Tổng thống đă lấy ra một tấm bản đồ có tỷ lệ nhỏ của Việt Nam Cộng Ḥa và bắt đầu nói đến t́nh h́nh quân sự ở mỗi nơi. Sau đó, Tổng thống nói thiệt rằng “tính ra thực lực của chúng ta th́ không thể nào giữ hết nổi lănh thổ như ư chúng ta được. V́ vậy chúng ta cần phối trí lực lượng lại để pḥng thủ những nơi nào đông dân cư mà thôi và tăng cường bảo vệ những nơi nào hiểm yếu.”

 

Nhắc lại quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Viên đă ghi lại trong hồi kư như sau: “Kết luận này làm chúng tui ngạc nhiên v́ nói như vậy tức là ông đă cân nhắc rất kỹ lưỡng. Dường như ông chưa muốn công bố quyết định này nên tỏ ư rằng chỉ cho ba chúng tôi tham dự bữa ăn sáng này biết trước. Tổng thống Thiệu đă vạch ra một bản đồ ghi những vị trí quan trọng. Đa số các vị trí này đều nằm quanh Quân khu 3 và 4 cùng với hải phận của hai quân khu này. Chỉ một vài nơi quan trọng mà hiện lúc ấy đang bị Cộng sản chiếm và như vậy Quân đội VNCH phải ra sức tái chiếm lấy bằng mọi giá. Sau cùng, lănh thổ mà Quân đội VNCH sẽ giữ gồm những nơi vựa lúa, đồn điền cao su, khu kỹ nghệ, v.v. Chánh phủ cần giữ những nơi trù phú và đông dân đó. Thêm nữa, ngoài thềm lục địa vừa mới khám phá có dầu, và chánh phủ xem đó là những vùng yết hầu bất khả xâm phạm, nơi cần giữ vững nhứt là Sài G̣n, các tỉnh phụ cận và vùng châu thổ sông Cửu Long.”

 

Tổng thống Thiệu đă nói nhiều về kế hoạch tái phối trí vùng địa lư chánh trị, nhưng khi đề cập đến Quân khu 1 và Quân khu 2 th́ Tổng thống không c̣n vẻ khẳng khái. C̣n Cao nguyên Trung phần th́ Tổng thống vừa nói, vừa dùng tay chỉ vào khu vực Ban Mê Thuột, quan niệm rằng đó là nơi quan trọng hơn Pleiku và Kontum gộp lại v́ vị trí kinh tế và dân số. Những tỉnh dọc duyên hải Quân khu 2 cũng quan trọng không kém v́ các tỉnh này có thềm lục địa nhiều tiềm năng khai thác. C̣n đối với Quân khu 1 th́ ông chủ trương giữ vững những ǵ giữ được. Tại đây, Tổng thống phác họa một kế hoạch nhiều giai đoạn đánh dấu bằng đường ranh cắt bỏ dần để rút xuống phía Nam. Tổng thống nói: “Nếu chúng ta đủ sức, th́ sẽ giữ đến Huế hay Đà Nẵng. Nếu không th́ rút về và giữ từ Chu Lai hoặc từ Tuy Ḥa trở vào.” Tổng thống nhấn mạnh: “Làm như vậy chúng ta mới tái phối trí được khả năng ḿnh, giữ vững được các yếu điểm của lănh thổ một cách hữu hiệu và mới có cơ may phát triển đất nước giàu mạnh được.” Cứ như vậy, Tổng thống Thiệu nói hết ư định của ḿnh, và cũng kể như quyết định quan trọng. Thế nhưng dụng ư của toàn bộ kế hoạch th́ chưa rơ, nhưng chắc chắn sẽ tạo ra nhiều vấn đề, nhất là về phương diện quân sự.

 

Với tư cách một Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Viên cảm thấy có bổn phận phải lên tiếng. Sau đây là ư kiến của Đại tướng Viên: “Tôi (Đại tướng Viên) nói rằng khi tái phối trí th́ quả thiệt có hiệu quả pḥng thủ tuy hệ quả của nó không thể tránh khỏi, và tui cũng đă từng nghĩ đến t́nh trạng này từ lâu. Tuy nhiên tui chưa nói ra v́ chưa phải lúc. Trước hết, tái phối trí là trái với chủ trương duy tŕ chánh sách Quốc gia, và thứ hai tui đưa ra đề nghị đó th́ có thể bị nghĩ là có óc chủ bại. Duy có điều tui nhấn mệnh đến một sự tái phối trí lúc này đă quá trễ và không chắc thành công được. Ngoài ra tôi không cho rằng quyết định này của Tổng thống sẽ loại trừ được bất cứ chỉ trích không có lợi nào. Dù sao, với tư cách Tổng tư lệnh Quân đội, Tổng thống có toàn quyền và trách nhiệm để đưa ra mọi quyết định ứng phó với cuộc chiến. Chắc ông đă nắm vững những ǵ ông đang làm chứ.”

 

Nhận xét về quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Viên phân tích: “Cho dù quyết định này có đi sai chánh sách Quốc gia hiện hành đến cách mấy, bản thân quyết định đó vẫn hợp lư mà một nhà lănh đạo có thể làm được. Đă hai năm kể từ ngày Hiệp định Ba Lê được kư kết, t́nh h́nh cứ suy sụp đến mức báo động. Chỉ có thể phê b́nh Tổng thống là ở điểm tại sao ông đợi lâu đến như vậy mới đưa ra quyết định. Trong cuộc họp, ông không hề giải thích hay có hướng dẫn nào về những bước cần thiết khi ông quyết định như vậy. Dường như quyết định do thực tế bên ngoài đưa tới.”

 

Cũng theo lời Đại tướng Viên, sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, ngày 13 tháng 3/1975, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đă chủ tọa một cuộc họp tại Dinh Độc Lập để duyệt xét kế hoạch tái phối trí lực lượng tại Quân khu 1. Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lịnh Quân đoàn I & Quân khu 1, được gọi về Sài G̣n để tham dự cuộc họp này.Trong buổi họp, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phân tích t́nh h́nh chung của đất nước, nêu ra những khó khăn mà chính phủ đang gặp phải khi thiếu nguồn quân viện. Tổng thống không hy vọng Không quân Hoa Kỳ sẽ can thiệp trong trường hợp Việt Nam Cộng Ḥa bị tổng tấn công. Tổng thống nhấn mạnh rằng trước t́nh h́nh như vậy th́ chỉ c̣n một cách duy nhứt là thay đổi chiến lược để giữ vững những nơi hiểm yếu có nhiều tài nguyên quốc gia. Tại Quân khu 1, khu vực trù phú cần phải giữ là Đà Nẵng. Chi tiết mà Đại tướng Viên nêu ra khác với lời kể của Trung tướng Trưởng với báo chí (sau 1975) như sau: trong cuộc họp ngày 13/3/1975, Tổng thống Thiệu ra lịnh cho Tướng Trưởng rút toàn bộ Quân đoàn 1 khỏi Quân khu 1 và rút về Phú Yên, VNCH thu gọn từ Phú Yên tới Hà Tiên.

 

Đại tướng Viên cho biết: sau khi nhận chỉ thị của Tổng thống, Trung tướng Trưởng trở về Đà Nẵng ngay trong ngày. Suốt trong 6 ngày tiếp theo, dù t́nh h́nh Quân khu 1 trở nên rất đáng ngại, thế nhưng Trung tướng Trưởng vẫn muốn giữ Huế và một số vị trí trọng yếu tại Quân khu 1. Sau khi suy nghĩ và phân tích t́nh h́nh, Tướng Trưởng đă gọi điện thoại theo đường dây đặc biệt tŕnh bày ư kiến với Đại tướng Viên nhờ xin với Tổng thống cho ông được tận dụng mọi cách để giữ Huế và Vùng I. Cuối cùng Tổng Thống chấp thuận. Được sự đồng ư của Tổng thống, Trung tướng Trưởng bay ra Huế họp với Trung tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn, về kế hoạch pḥng thủ Huế. Tướng Trưởng ra lịnh phải giữ Huế thiệt vững. Thế nhưng chiều hôm đó, khi trở lại Đà Nẵng, Tướng Trưởng nhận được mật lệnh do Đại tướng Viên kư thừa lệnh Tổng thống là phải bỏ Huế.

 

 

Ngày 23. 03. 1975: Quốc Lộ 1 Đoạn Huế-Đà Nẵng Bị Cắt Đứt.

 

Vương Hồng Anh

 

● Cộng quân cắt đứt Quốc lộ 1, đoạn đường từ Huế đi Đà Nẵng.

 

Ngày 23 tháng 03. 1975, t́nh h́nh tại chiến trường Thừa Thiên trở nên nghiêm trọng sau những trận tấn công của Cộng quân trong 2 ngày 21 và 22 trên Quốc lộ 1, đoạn đường Huế-Đà Nẵng đi ngang địa phận Quận Phú Lộc, quận ở cực Nam Thừa Thiên, gồm những xă có địah́nh dọc theo Quốc lộ 1. Kịch chiến đă diễn ra giữa Cộng quân và Trung đoàn 1/Sư đoàn 1 Bộ binh được tăng cường Liên đoàn 15 Biệt động quân. Khi trận chiến vừa xảy ra, lực lượng Bộ binh và Biệt động quân nỗ lực giải tỏa áp lực của địch quân. Với sự yểm trợ tối đa của Pháo binh và Không quân VNCH, các đơn vị Cộng quân bị đẩy lùi ra khỏi một số vị trí trong một thời gian ngắn, sau đó Cộng quân lại tăng cường lực lượng và tổ chức các đợt tấn công cường tập vào vị trí của Trung đoàn 1 Bộ binh và Liên đoàn 15 Biệt động quân.. Đến 2 giờ chiều, Liên đoàn 15 Biệt động quân và Trung đoàn 1 Bộ binh đă phải rút lui để bảo toàn lực lượng.

 

Ngày 23 tháng 3/1975, Sư đoàn 1 Bộ binh điều động lực lượng phản công, nhưng Cộng quân đă lập các chốt chận tại Đá Bạc, và bám giữ các vị trí trọng yếu trên Quốc lộ 1, để cắt đứt trục lộ vận chuyển của các đơn vị VNCH từ Huế vào Đà Nẵng.

 

Cũng trong ngày 23 tháng 3/1975, cộng quân đă pháo kích vào một số vị trí trong thành phố Huế và ṿng đai phụ cận. Các đợt pháo kích tiếp diễn suốt ngày nhưng không có hiệu quả, các quả pháo không rơi trúng vào các vị trí quân sự. Tuy nhiên, tinh thần dân chúng càng hốt hoảng hơn và thành phố Huế bắt đầu hỗn loạn.

 

● Tư lệnh Quân đoàn 1/Quân khu 1 Ngô Quang Trưởng duyệt xét t́nh h́nh Huế.

 

Trong ngày 23. 03. 1975, theo ghi nhận của Đại tướng Cao Văn Viên, trước t́nh h́nh chiến sự diễn biến bất ngờ, và Quốc lộ 1 không thể khai thông được, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1/Quân khu 1 cho lệnh rút lực lượng VNCH tại chiến trường Thừa Thiên về lập pḥng tuyến tạm thời tại Huế. Cũng trong ngày này, tàu Hải quân được tăng cường để đón dân tị nạn cùng thân nhân gia đ́nh binh sĩ vào Đà Nẵng.

 

Chiều 23 tháng 3/1975, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn I, gọi Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, vào Đà Nẳng để duyệt xét lại t́nh h́nh pḥng thủ Huế. Tướng Điềm đă báo cho Trung tướng Trưởng biết là Sư đoàn 1 Bộ binh đang đối đầu với 3 sư đoàn chủ lực và 1 sư đoàn pháo của Cộng quân.

 

*Từ pḥng tuyến Thạch Hăn đến pḥng tuyến Huế.

 

Như đă tŕnh bày, suốt đêm 19 và rạng sáng ngày 20 tháng 3/1975, tất cả lực lượng pḥng thủ dọc theo bờ nam sông Thạch Hăn (tỉnh Quảng Trị) kể cả Liên đoàn Địa phương quân, 1 tiểu đoàn Biệt độn quân và vài chi đoàn Thiết giáp đă rút về pḥng ngự phía Nam sông Mỹ Chánh. Về pḥng tuyến Thạch Hăn, trong hơn hai năm, kể từ khi có Hiệp định ngưng bắn Paris kư ngày 27. 01. 1973, sông Thạch Hăn được xem như là “ranh giới” của lực lượng quân sự hai bên. Tại đây, có trạm hoạt động của Ủy hội Quốc tế và là nơi được chọn để trao đổi tù binh.

 

Trước khi Cộng quân tấn công pḥng tuyến Thạch Hăn, vào 6 giờ chiều ngày 19. 03. 1975, Trung tướng Trưởng từ Sài G̣n trở lại Đà Nẵng sau cuộc họp tại Dinh Độc Lập. Khi phi cơ chở ông vừa hạ cánh, th́ ông nhận được báo cáo khẩn cấp của Trung tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh phó Quân đoàn I, gọi từ Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn I ở Huế vào. Trung tướng Thi báo rằng đại bác 130 ly của địch đang pháo kích vào bản doanh của ông và cộng quân đang tung đợt tấn công quy mô lớn bằng xe tăng để t́m cách vượt qua ṿng đai pḥng thủ của lực lượng VNCH tại sông Thạch Hăn. Nhận được khẩn báo của Trung tướng Thi, Trung tướng Trưởng liền báo cáo cho Đại tướng Viên và yêu cầu cho Quân đoàn 1 được giữ lại Lữ đoàn 1 Dù, đang có mặt tại Đà Nẵng chuẩn bị về Sài G̣n. Đại tướng Viên báo lại cho Tổng thống Thiệu. Là Tổng tư lệnh tối cao của Quân lực VNCH, Tổng thống Thiệu chấp thuận yêu cầu này với điều kiện: Lữ đoàn Dù được ở lại, nhưng Quân đoàn I không được dùng để tung vào chiến trận. Theo phân tích của Đại tướng Viên, th́ khi quyết định cho Lữ đoàn 1 Nhảy Dù ở lại Đà Nẵng, Tổng thống Thiệu muốn tạo niềm tin cho dân chúng và giữ vững tinh thần chiến đấu của các đơn vị khác.(Trong phiên họp tại Dinh Độc Lập vào ngày 13. 03. 1975, Tổng thống Thiệu ra lịnh cho Trung tướng Trưởng phải bỏ Huế. Trước đó vào ngày 12. 03. 1975, theo kế hoạch mới của Trung tướng Trưởng, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến đang hoạt động tại phía Đông Quảng Trị sẽ thay Sư đoàn Nhảy Dù làm lực lượng phản ứng cấp thời tại Vùng I. Liên đoàn 14 Biệt động quân được điều động ra Quảng Trị chuẩn bị thay dần Thủy quân Lục chiến).

 

Sáng ngày 20 tháng 03. 1975, Trung tướng Trưởng bay ra Bộ Tư lệnh Tiền phương của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến cách Mỹ Chánh, thị trấn ở phía Nam tỉnh Quảng Trị, khoảng 8 km. Tại đây Trung tướng Trưởng đă gặp các chỉ huy của các đơn vị trong khu vực, cùng họ duyệt lại t́nh h́nh và bàn kế hoạch pḥng thủ Hue, theo quân lịnh mới nhứt của Tổng thống Thiệu là phải pḥng thủ Huế với bất cứ giá nào, khác với chỉ thị trước đó một ngày là phải bỏ Huế.

 

Trước ngày 21. 03. 1975, t́nh h́nh tại khu vực phía Nam sông Mỹ Chánh và khu vực phụ cận Huế chưa đến nổi quá xấu. Các đơn vị chủ lực quân và diện địa vẫn c̣n nguyên vẹn, kỷ luật nghiêm minh và tinh thần chiến đấu cao. Việc mất Quảng Trị tuy có ảnh hưởng phần nào nhưng không làm cho tinh thần quân sĩ nao núng. Dù sao th́ dân chúng đă bỏ đi trước đó do đó không gây trở ngại cho các đơn vị khi giao tranh với Cộng quân. Hơn nữa với 1 Lữ đoàn Thủy quân lục ứng chiến tại phía Nam sông Mỹ Chánh và 2 Lữ đoàn Thủy quân lục chiến đang là lực lượng tổng trừ bị tại Đà Nẵng th́ Quân khu 1 vẫn có các lực lượng ṇng cốt để tăng viện khi chiến trường sôi động. Sau buổi họp, các cấp chỉ huy đều bày tỏ sự quyết tâm giữ vững Huế.

 

Trên đường trở về Đà Nẵng, Tướng Trưởng đă ghé vào bộ Tư lệnh Tiền phương của Quân đoàn 1 tại Mang Cá, Huế. Sau đó, ông cùng Tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh phó Quân đoàn 1, đi một ṿng thanh tra các hệ thống pḥng thủ trong thành phố Huế. Tinh thần tướng Trưởng lúc đó rất phấn chấn v́ sự bố pḥng bảo vệ Huế rất vững vàng. Đến 1 giờ 30 trưa, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu lên tiếng trên đài phát thanh Sài G̣n và được đài Huế tiếp vận. Ông hứa với dân chúng, đặc biệt với dân chúng trong thành phố Huế, rằng quân đội VNCH sẽ bảo vệ Huế bằng mọi giá. Sự việc Tổng thống Thiệu lên tiếng trên đài phát thanh là điều mà theo Tướng Trưởng nghĩ, tuy muộn màng, nhưng cũng rất cần thiết.

 

Đặt chân xuống Đà Nẵng vào chiều tối, Trung tướng Ngô Quang Trưởng nhận được một công điện ghi “Mật”. Đây là lệnh của Tổng thống VNCH do Bộ Tổng Tham Mưu chuyển đến. Theo phân tích của Đại tướng Cao Văn Viên, th́ ngược với những ǵ đă tuyên bố trên Đài phát thanh, nay Tổng thống cho vị Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1 được “tự do hành động”. V́ không thể nào pḥng thủ nổi ba căn cứ Huế, Đà Nẵng, Chu Lai cùng một lúc, nên Tổng thống khuyên Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1 tuỳ nghi ứng phó và làm sao chỉ giữ một ḿnh Đà Nẵng mà thôi.

 

 

Ngày 25. 3. 1975: Lực Lượng Quân Khu 1 Rút Khỏi Huế.

 

Vương Hồng Anh

 

● Diễn tiến về kế hoạch rút quân khỏi Huế ngày 25 tháng 3. 1975.

 

Theo hồi kư của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, vào ngày 25 tháng 3/1975, tất cả các lực lượng của Quân đoàn I, Quân khu 1 đều tập trung tại ba địa điểm: Đà Nẵng (gồm cả Hội An), phiá Bắc thành phố Huế và phiá Nam Chu Lai. Nhận định về cuộc rút quân của Quân đoàn I, Quân khu 1, Đại tướng Viên ghi nhận rằng “hành tŕnh cuộc rút về ba địa điểm này vô cùng gian khổ và đắt giá. Phần lớn binh sĩ đều ră rời. Đă bao lâu nay, họ chiến đấu hết trận này tới trận khác, hết năm này đến năm khác, nhưng chưa bao giờ họ cảm thấy nản ḷng bằng giờ phút ấy. Hy vọng có bàn tay nào đó giúp đỡ để họ đánh chiếm lại những vùng đất bị lọt vào tay địch, để đủ sức đương cự với kẻ thù nay đă tan biến như chuyện đời xưa.”

 

Cũng theo ghi nhận của Đại tướng Cao Văn Viên, trong giờ phút nản ḷng đó, th́ một bức điện khác cũng của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu gửi đi cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1, trong đó, Tổng thống chỉ thị lực lượng tại 3 nơi tập trung này phải rút về Đà Nẵng để tổ chức pḥng thủ bảo vệ thành phố trọng yếu này. Nhận được chỉ thị của Tổng thống, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1 ra lịnh cho Sư đoàn 1 Bộ binh và các đơn vị khác tại Huế phải rút về Đà Nẵng. Cùng lúc, Trung tướng Trưởng cho Sư đoàn 22 Bộ binh cùng với lực lượng Tiểu khu Quảng Ngăi, rút về đảo Ré, nằm ngoài khơi cách Chu Lai chừng 20 dặm.

 

Tại Huế, các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh pḥng ngự ở phía Bắc và khu vực cận sơn ở phía Đông thành phố Huế đă được lệnh rời bỏ pḥng tuyến và chuyển quân về gần Huế để cùng với Bộ Tư lịnh và các đơn vị yểm trợ rút quânkhỏi chiến trường Trị Thiên. Trong khi đó, các tiểu đoàn Bộ binhvà Biệt động quân đang án ngữ pḥng tuyến dọc trên Quốc lộ 1 được lệnh di chuyển về bờ biển và tập trung tại các điểm hẹn để tàu Hải quân vào đón.

 

Theo kế hoạch tổng quát, Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 doTrung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy sẽ chịu trách nhiệm điều động và kiểm soát cuộc rút quân này. Về phương tiện vận chuyển, Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải do Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại làm tư lịnh có nhiệm vụ cung cấp tối đa tàu để chở tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân và lực lượng quân sự của hai tiểu khuThừa Thiên và Quảng Trị vào Đà Nẵng. Bộ chỉ huy Quân vận Quân khu1 sẽ dùng LCU để đưa các đơn vị từ bờ ra tàu, Công binh sẽ lập những cầu phao tại các cửa sông để đoàn quân đi qua.

 

● Những biến cố xảy ra trong hành tŕnh rút quân.

 

Theo ghi nhận của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục chiến, do lệnh rút quân quá nhanh, các đơn vị không có thời gian chuẩnbị nên kế hoạch rút quân đă không thể thực hiện đúng theo thời biểu. Cũng theo lời Thiếu tướng Lân, khi Trung tướng Trưởng quyết định cho rút quân khỏi Thừa Thiên và thành phố Huế th́ Thủy quân Lục chiến có Lữ đoàn 369 đang hoạt động tại chiến trường này. Bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 đóng tại căn cứ Tân Mỹ ở cửa Thuận An, 2 tiểu đoàn đang pḥng thủ tại pḥng tuyến An Lỗ, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 17 km, tiểu đoàn thứ ba đang pḥng thủ ở phía Bắc quận Hương Điền và ở phía Nam của sông Mỹ Chánh.

 

Trước t́nh h́nh đó, nhiều đơn vị đă tự t́m ra cách rút quân bằng phương tiện tự túc. Một đơn vị Thủy quân Lục chiến rút theo Quốc lộ 1 để vượt qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng đă bị Cộng quân phục kích chận đánh và bị tổn thất nặng. Một số đại đội Thủy quân Lục chiến và bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 do Đại tá Lương, Lữ đoàn trưởng chỉ huy, từ Thuận An đi bộ dọc theo bờ biển để về hướng Đà Nẵng.Trên đường đi, đoàn quân đă được LCU và tàu Hải quân vào đón.Trong khi đang đứng trên bờ để điều động quân sĩ lội ra tàu ở ngoài biển, Đại tá Lương đă bị thương ở chân.

 

Một tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến và một số đơn vị Bộ binh cũng rút theo đường biển nhưng khi đến phá Tam Giang ở cửa Tư Hiền th́ gặp phải con sông chắn ngang quá rộng, trong khi phía bên kia sông đă bị Cộng quân chiếm giữ. Một số chiến binh quyết vượt qua sông nhưng đă bị tử thương do đạn Cộng quân bắn sang. Theo ước tính của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, th́ chỉ có một số nhỏ chiến binh Thủy Quân vào đến Đà Nẵng, số đông c̣n lại bị tử thương v́ trúng đạn pháo kích hoặc bị kẹt lại ở Huế. Những người bị kẹt lại đă lập thành từng phân đội quyết tử với Cộng quân cho đến khi hết đạn.

 

Về cuộc chuyển quân bằng hải vận, Đại tướng Cao Văn Viên cho biết: trong ngày rút quân, biển động mạnh nên tàu Hăi quân đến trễ. Cầu phao tại cửa sông cũng chưa hoàn tất kịp để sử dụng. Đến trưa th́ thủy triều lên cao, không làm sao qua được. Cũng vào thời gian đó, Cộng quân biết có cuộc chuyển quân nên bắt đầu tập trung hỏa lực pháo binh bắn dồn dập vào các vị trí ẩn quân tại cửa Tư Hiền cùng tại nhiều điểm hẹn để tàu đến đón. Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn I từ Mang Cá chuyển về đặt tại căn cứ Tân Mỹ cũng bị pháo kích nặng. Nhận định tổng quát về cuộc rút quân khỏi Huế, Đại tướng Cao Văn Viên ghi nhận rằng trong cuộc hành tŕnh triệt thoái này, th́ “kỷ luật không c̣n duy tŕ nổi. Do đó, chỉ có 1/3 số quân nhân về đến Đà Nẵng được. Nhưng khi về đến Đà Nẵng, th́ họ tự động bỏ hàng ngũ đi t́m gia đ́nh và thân nhân. Chỉ c̣n Thủy quân Lục chiến là giữ được trọn vẹn t́nh h́nh.”

 

Về đoàn quân của Sư đoàn 1 bộ binh, các tiểu đoàn của các Trung đoàn1,3, 51 và 54 Bộ binh và các đơn vị thống thuộc như Thiết giáp, Pháo binh, cũng lâm vào t́nh cảnh như Lữ đoàn 369 TQLC. Một số được tàu Hải quân chở, một số khác mở đường máu ven theo quốc lộ 1 và hoặc ven theo biển phần lớn đă hy sinh ngay trên đường rút quân

 

● Sư đoàn 1 Bộ Binh vĩnh biệt chiến trường Quảng Trị-Thưà Thiên.

 

Trở lại với t́nh h́nh Sư đoàn 1 Bộ binh, một trung tá trưởng pḥng của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (không muốn nêu tên) đă kể lại diễn tiến những giờ phút cuối tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở trong căn cứ Giạ Lê. Vị trung tá này nói ông không thể nào quên được buổi họp cuối cùng để nghe Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, phổ biến lịnh rút quân. Từ vị tư lịnh phó, tham mưu trưởng cho các sĩ quan trưởng pḥng, trưởng ban tham mưu như chết lặng khi nghe Thiếu tướng Điềm nói: Sư đoàn 1 Bộ binh có lệnh phải rút khỏi Huế. Và chỉ gần một giờ sau, cảnh tượng đó cũng đă diễn ra tại các bộ chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, Thiếtđoàn Kỵ binh và các tiểu đoàn yểm trợ.

 

Là một đại đơn vị đầu ḷng của Quân lực VNCH, thành lập ngày 01 tháng 01. 1955 trên sự quy hợp 3 Liên đoàn chiến thuật lưu động, Sư đoàn 1 Bộ Binh với danh hiệu đầu tiên là Sư đoàn 1 Dă chiến rồi đổi thành Sư đoàn 1 Bộ binh từ 1959, trong hơn 20 năm từ ngày thành lập cho đến ngày được lịnh rút quân khỏi chiến trường Trị Thiên,Sư đoàn 1 Bộ binh là Sư đoàn Bộ binh đầu tiên mà tất cả quân nhân thuộc Sư đoàn được mang giây biểu chương Bảo Quốc Huân Chương màu tam hợp. Suốt 20 năm trấn giữ tuyến đầu của Việt Nam Cộng Ḥa, Sư đoàn 1 Bộ Binh là h́nh ảnh của sự bảo bọc, ǵn giữ Huế trong suốt những năm dài lửa đạn.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính