Độc lập, tự chủ: Niềm mong ước của Dân Tộc

 

Vơ Phương

 

Cách đây hơn nửa thế kỷ, trong cuốn Chính Đề Việt Nam, Phần Kết Luận có một đoạn -- tác giả Ngô Đ́nh Nhu, cố vấn chính trị của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm -- đă dựa vào lời dạy của Đức Phật: “TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ” để biện chứng cho một hướng đi mà dân tộc ta cần phải noi theo và thực hiện; đồng thời cũng là lời cảnh báo gởi đến toàn dân, xác quyết một điều mà tác giả gọi là Sự bành trướng mà Trung Cộng bắt buộc phải thực hiện’. Và để đối phó với sự bành trướng đó, ông c̣n cho biết thêm:  chỉ có ‘trụ’ vào sức mạnh của dân tộc mới là giải pháp hữu hiệu.

 

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvnmnmn0n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1#phandau

Lời cảnh báo ấy đă đi vào lịch sử. Bây giờ, nh́n vào hiện trạng giặc Tàu đang tung hoành trên quê hương, đưa đến vấn nạn ‘thoát Trung’ rất khó giải quyết, đă chứng minh hùng hồn cho lời cảnh báo đó là hoàn toàn đúng.

 

Và dưới đây là trích đoạn trong phần kết luận của sách này (tôi xin được phép dùng italic font tô màu tím để dễ phân biệt, và xin phép tự ư tô đậm một số chữ để gây chú ư cùng bạn đọc):

Phật dạy “TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ”. Thâm ư cao siêu của lời dạy trên bao trùm khắp vũ trụ. Sự tiến hóa của nhân loại đều căn cứ trên nguyên tắc nằm trong lời dạy trên. Có trụ mới có vị trí để mà tiến. Nhưng khi vị trí đă mất tác dụng, mà vẫn cứ cố bám để trụ vào đó th́ mọi tiến hóa lại chấm dứt, và những kết quả đă thu hoạch được lại có thể bị mất.

 

Phải trụ vào cho đúng lúc mới tiến được. Và phải không trụ vào cho đúng lúc mới bảo đảm được vừa những thắng lợi đă chiếm, vừa con đường tiến cho tương lai.


TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ là một chân lư thể hiện trong những sự việc vĩ đại của loài người, cũng như trong các sự việc nhỏ nhặt của cá nhân trong đời sống thường ngày.

 

Nhiều cộng đồng đă phôi thai được một nền văn minh v́ nhờ trong một lúc nào đó, các nhà lănh đạo đă ư thức được một cách sung măn những vị trí cần phải trụ vào. Nhưng sau đó hoặc v́ sự thiếu lănh đạo, hoặc v́ thử thách, do hoàn cảnh bên ngoài đưa đến, vượt qua mức độ mà sinh lực của cộng đồng có thể ứng phó nổi, nên cộng đồng vẫn tiếp tục trụ vào một vị trí không c̣n là sinh lộ nữa. Do đó, nền văn minh vừa mới phôi thai, đă ngừng phát triển và lâu ngày thành cằn cỗi và chết dần như cây khô.

 

Các dân tộc Da Đỏ ở Bắc Mỹ đă phôi thai một nền văn minh trụ vào sự thích nghi hóa đời sống thường ngày với vũ trụ thiên nhiên bao quanh ḿnh. Ví dụ, thay v́ t́m cách chế áo dầy hoặc cách xây nhà cửa giữ được sức nóng để chống lại với giá lạnh của mùa Đông, người Da Đỏ lại chủ trương huấn luyện cơ thể từ lúc nhỏ để chịu đựng được các thời tiết.

 

Thái độ của người Da Đỏ là một thái độ tùng phục, cố gắng thích nghi hóa cơ thể với vũ trụ thiên nhiên. Thái độ mặc áo và xây nhà là một thái độ dùng phương tiện thiên nhiên để chế ngự thiên nhiên.

 

V́ đă lựa chọn con đường như vậy cho nên nền văn minh phôi thai của người Da Đỏ đă đào tạo được một loại người mà sức chịu đựng đối với thiên nhiên lên đến một mức độ phi thường. Và sự thông cảm của họ với thiên nhiên vượt đến một tŕnh độ ít có.

 

Trên lĩnh vực này, người Da Đỏ đă khiến tất cả mọi người đều thán phục. Và người mà ông Baden Powell, nhà sáng lập ra phong trào hướng đạo thế giới, lấy làm mẫu là người Da Đỏ.

 

Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người có giới hạn, sức mạnh của thiên nhiên lại vô bờ bến. Tự trụ ḿnh vào công cuộc phi thường rèn luyện cơ thể để chống lại với thiên nhiên, người Da Đỏ đă dấn thân vào một con đường không có lối thoát.

 

Các nhà lănh đạo Da Đỏ không nh́n thấy sự bế tắc đó nên không lúc nào nghĩ cần phải chấm dứt sự trụ vào đó. V́ vậy cho nên, vừa mới phôi thai, nền văn minh Da Đỏ đă ngưng phát triển và lần lần cằn cỗi.

 

Theo những tài liệu khảo cổ mà chúng ta được biết tới ngày nay th́ các dân tộc ở chung quanh Bắc cực và các dân tộc ở trên các quần đảo ở Thái B́nh Dương đều lâm vào một t́nh trạng tương tự. Tự trụ vào công cuộc mang sức chịu đựng của con người để chống lại thiên nhiên. Lúc đầu khi trụ vào vị trí đó, cộng đồng phôi thai được một nền văn minh. Nhưng khi vị trí không c̣n thích nghi nữa, cộng đồng không biết thoát ra đúng lúc. Lỗi lầm đó đă đưa cộng đồng đến chỗ chết.

 

Ví dụ dưới đậy lại c̣n rơ rệt hơn nữa.

 

Luân lư Khổng Mạnh đă tạo cho cộng đồng dân tộc Trung Hoa, một trật tự xă hội bền vững với thời gian, một cách chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Suốt trong mấy ngàn năm, trật tự xă hội kiên cố, do luân lư Khổng Mạnh tạo nên, không có cuộc chấn động nào lay chuyển nổi. Nhờ trật tự xă hội vô cùng vững chắc đó, văn minh Trung Hoa phát triển đến tột độ và soi sáng khắp cả một bầu trời. Các triều đại Trung Hoa, kể cả các triều đại Hán tộc và các triều đại ngoại lai, Mông Cổ và Măn Thanh, đều bị chinh phục bởi sức kiên cố của trật tự xă hội của Khổng Mạnh. Các nhà lănh đạo đều trụ vào đó và gia công xây đắp cho trật tự Khổng Mạnh càng thêm vững chắc.

 

V́ vậy mà cho đến khi nền văn minh Trung Hoa, v́ quá trụ vào trật tự xă hội Khổng Mạnh, nên sinh lực phát triển đă suy đi, không một nhà lănh đạo nào nh́n thấy. Mài miệt trong sự thán phục một trật tự xă hội đă cằn cỗi và thành đá, không một nhà lănh đạo nào nh́n thấy nền văn minh Trung Hoa đă ngưng phát triển. Nếu không bị sự tấn công của Tây phương, có lẽ đến ngày nay, Trung Hoa c̣n ngon giấc triền miên trong cái trật tự xă hội Khổng Mạnh của ḿnh. Trụ vào trật tự xă hội Khổng Mạnh để phát triển nền văn minh. Nhưng chính cũng v́ trụ vào đó quá mức độ thời gian, nên văn minh đă ngưng phát triển.

 

Thâm ư của lời Phật dạy “Trụ mà không trụ” là bao quát như vậy đó.

 

Nhưng trong đời sống của cá nhân, lời dạy “trụ mà không trụ” cũng chi phối sâu xa đến các hành vi thông thường.

…………………………………

Đức Khổng Tử vượt lên trên hết tất cả v́ trong mọi trường hợp, ngài biết trụ vào đúng lúc và biết không trụ vào đúng lúc.

 

Phải biết trụ để có vị trí phát triển, nhưng phải biết không trụ để bảo đảm cho phát triển tiếp tục.

 

Sự phát triển của văn minh Tây phương đến mức độ bao trùm khắp nhân loại và khắp các lĩnh vực của đời sống, như chúng ta mục kích ngày nay, là một sự kiện chưa t́m có trong lịch sử nhân loại. Sinh lực đó bắt nguồn từ chỗ người Tây phương đă thấu triệt nguyên tắc “Trụ mà không trụ” và đă đưa nó lên thành một lợi khí khoa học và sắc bén để t́m hiểu vũ trụ. Trong bất cứ ngành nào của kỹ thuật Tây phương, lịch sử phát triển của ngành đó đều mang dấu vết của nguyên tắc “Trụ mà không trụ”. Ví dụ dưới đây là thông thường nhất.

 

Khi quang học mới phôi thai, tất cả các nhà vật lư học Tây phương lúc bấy giờ, Descartes, Fermat, Malus, Huygens đều trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” để khảo sát, thí nghiệm và t́m ra những định luật của quang học h́nh học. Quang học h́nh học, như chúng ta đă biết, là những bậc thang đầu tiên và vô cùng quan trọng của quang học.

 

Nhưng, những thế hệ các nhà vật lư học sau đó, mục kích nhiều hiện tượng quang học mà thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” không làm sao giải thích được. Fresnel, Young và Newton, mặc dầu vẫn công nhận sự nghiệp di sản của quang học h́nh học, đă nh́n thấy đúng lúc giới hạn của thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” và nhận thức đă đến lúc không nên trụ vào đó nữa.

 

Nếu không trụ vào đó nữa, tất nhiên phải trụ vào một vị trí khác để tiếp tục phát triển Quang học. Do đó, thế hệ các nhà quang học này trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo làn sóng” để khảo cứu thí nghiệm và cuối cùng phát minh những định luật mới về quang học vừa bao quát, vừa phong phú hơn. Tất cả sự nghiệp quang học ba động đều xây dựng trên thuyết mới này.

 

Giả sử thế hệ các nhà vật lư học đầu tiên không trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” th́ sự nghiệp quang học h́nh học không bao giờ thành h́nh, và những bậc thang đầu tiên đó của ngành quang học, không bao giờ được xây dựng lên và sự phát triển của quang học không được manh nha.

 

Nhờ những bậc thang đầu tiên đó, thế hệ các nhà vật lư học sau mới vói tay lên được đến các hiện tượng lạ lùng đối với thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng”. Nhưng, giả sử các nhà vật lư học của thế hệ này không đập phá được sự trụ vào thuyết “đường thẳng” th́ sự phát triển của quang học đă ngừng ở đó và lâu ngày sẽ cằn cỗi mà chết dần.

 

Nhưng trong thực tế, họ đă biết không trụ đúng lúc nên đă bảo đảm được sự tiếp tục phát triển của quang học.

 

Đến giai đoạn này, lịch sử phát triển của quang học cũng đủ để thuyết minh cho tính cách sắc bén của nguyên tắc “Trụ mà không trụ”, trong mọi lĩnh vực phát triển.

 

Nhưng, quang học c̣n phát triển hơn nữa. Và thành tích phát triển gần đây của quang học, lại chỉ rơ hơn nữa rằng, văn minh Tây phương đă khoa học hóa và chính xác hóa nguyên tắc “Trụ mà không trụ” để biến nó thành một kỹ thuật vô cùng hiệu quả để phát triển.

 

Sau thế hệ các nhà quang học ba động, một thế hệ vật lư học giả khác lại phát minh ra nhiều hiện tượng vật lư, mà thuyết “ánh sáng phát quang theo làn sóng” cũng không thể giải thích được. Cũng như lần trước, các nhà quang học chấm dứt đúng lúc sự trụ vào quang học ba động. Nhưng lần này, các nhà quang học đă xem việc không nên trụ vào quang học ba động, như là một phương pháp phát minh. Thế hệ của De Broglie lại trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang thành ly tử di chuyển theo làn sóng” để khảo sát, thí nghiệm và phát minh nhiều định luật về quang học bao quát hơn thêm và phong phú hơn thêm. Tất cả sự nghiệp quang học xạ tử ba động đều xây dựng trên thuyết mới này. Và những phát minh tối tân nhất hiện nay về các quang tuyến đều căn cứ trên sự nghiệp quang học xạ tử ba động.

 

Nhưng sự nghiệp xạ tử ba động sẽ không bao giờ có, nếu sự nghiệp quang học ba động không thành h́nh. Và sự nghiệp ba động không bao giờ có nếu sự nghiệp quang học h́nh học không thành h́nh. Nhờ trụ mà có quang học h́nh học. Rồi nhờ không trụ mà có quang học phát triển. Rồi nhờ trụ mà quang học ba động thành h́nh. Rồi nhờ không trụ mà quang học ba động phát triển. Rồi nhờ trụ mà quang học xạ tử ba động thành h́nh.

 

Chúng ta có thể đoán rằng, cơ thức “Trụ mà không trụ” sẽ theo đó mà tiếp tục diễn tiến, và vạch con đường cho sự phát triển không ngừng của quang học.
Những sự kiện trên có giá trị, không phải riêng cho lĩnh vực quang học mà cho tất cả các ngành của khoa học Tây phương.

 

Những sự kiện trên có giá trị, không phải riêng cho lĩnh vực khoa học mà cho tất cả các ngành của khoa học Tây phương, nghĩa là cho tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực chính trị như chúng ta sẽ thấy dưới đây.

 

Tóm lại “Trụ mà không trụ” là một chân lư phát triển. Một điều đáng cho chúng ta nêu lên làm một câu hỏi, là chính Đông Phương đă t́m ra chân lư trên, nhưng v́ sao văn minh Đông Phương, Ấn Độ, cũng như Trung Hoa, lại trụ vào một vị trí cố định từ mấy ngàn năm? Những trả lời câu hỏi này vượt ra rất xa khuôn khổ của lời kết luận này.

 

Trở lại vấn đề chính trị của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hiện tại, đề tài của tập sách này, chúng ta nhận thấy các điểm sau đây:

Trong t́nh h́nh chính trị thế giới hiện nay và trong tŕnh độ tiến hóa của nhân loại hiện nay, các vấn đề của dân tộc Việt Nam, trong thời kỳ này chỉ có thể t́m được một giải đáp nếu chúng ta trụ vào vị trí dân tộc.

 

Đương nhiên là vị trí dân tộc mà chúng ta đă quan niệm trong suốt mấy trăm trang của tập sách này, không thể là một vị trí dân tộc bế quan tỏa cảng, hẹp và nông như dưới các triều đại quân chủ xưa kia. Vị trí dân tộc mà chúng ta quan niệm là một vị trí dân tộc nằm trong khung cảnh thế giới, với tất cả các dây liên hệ tinh thần và vật chất cần phải có.

 

Nhưng vị trí trụ vào phải là vị trí dân tộc.

 

Đến lúc nào chúng ta cần phải chấm dứt sự trụ đóng vị trí dân tộc nói đây để bảo đảm cho sự phát triển tương lai của dân tộc, đúng theo nguyên tắc “TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ”?

 

Chắc chắn trong thời kỳ này của cộng đồng dân tộc, chưa có sự chấm dứt nói đây. Thời kỳ này gồm nhiều thế hệ sắp đến. Chúng ta phải tin tưởng vào sự sáng suốt của các nhà lănh đạo sau này, để quyết định đúng lúc sự thôi không trụ vào vị trí hiện tại.

 

Các nhà lănh đạo Cộng Sản ở miền Bắc đă trụ vào lư thuyết Cộng Sản trong thời kỳ tranh giành độc lập. Chúng ta đă thấy trong các trang trên, sự đi đúng đường một phần nào của họ trong một giai đoạn. Nhưng chúng ta cũng đă phân tích các lư do v́ sao sự tiếp tục trụ đóng vào phương tiện Cộng Sản hiện nay, là một lối bế tắc cho sự nghiệp tiến hóa của dân tộc. Chẳng những như chúng ta đă phân tích, sự tiếp tục trụ đóng vào lư thuyết Cộng Sản sẽ không làm sao giải quyết được công cuộc phát triển cho dân tộc, mà lại c̣n mở cửa đưa các thế hệ sau này, vào một đời sống vô cùng đen tối không lối thoát.

 

Trung Cộng tự ḿnh cũng chưa giải quyết được vấn đề phát triển cho dân tộc Trung Hoa. Từ ngày các sự viện trợ của Nga đă chấm dứt, các công cuộc phát triển của Trung Cộng hoàn toàn đ́nh trệ. Do đó, tự đặt ḿnh vào ṿng ảnh hưởng của Cộng Sản, nghĩa là của Trung Cộng, các nhà lănh đạo Bắc Việt tự ḿnh đă từ bỏ công cuộc phát triển cho dân tộc.

 

Hơn nữa, sự phát triển của một khối người gần 800 triệu dân như của Trung Cộng, là một mối đe dọa cho toàn thế giới. Và v́ vậy công cuộc t́m phát triển của Trung Cộng tự nó, dù mà Trung Cộng không có gây hấn với ai cả, cũng gây nhiều kẻ thù. Những người này nhất định sẽ cản trở không để cho Trung Cộng phát triển.

 

Các biến cố chính trị gần đây đều xác nhận sự phân tích trên. Nay nếu chúng ta gắn liền số mạng của dân tộc Việt Nam vào với số mạng của Trung Cộng th́ hành động đó có nghĩa là chúng ta sẽ từ bỏ công cuộc phát triển đang cần thiết cho sự sống c̣n của dân tộc.

 

Trung Cộng giải quyết không được công cuộc phát triển của dân tộc Trung Hoa. Nhưng số người 800 triệu dân cần phải nuôi, là một thực tế không thể phủ nhận được. Sự bành trướng mà Trung Cộng bắt buộc phải thực hiện dưới áp lực nhân khẩu kinh khủng đó đă mở màn. Nếu chúng ta không thức tỉnh th́ một trong những nạn nhân đầu tiên của sự bành trướng nói trên sẽ là chúng ta. Chỉ tưởng tượng đến viễn cảnh đó cũng đủ cho chúng ta khủng khiếp.

 

V́ vậy cho nên, công cuộc chống sự xâm lăng của miền Bắc, không lúc nào khẩn thiết cho cộng đồng dân tộc Việt Nam bằng trong lúc này.

 

Và v́ vậy cho nên, chúng ta thành khẩn mong mỏi các nhà lănh đạo miền Bắc, kịp thời nhận định đă đến lúc, v́ sự tiến hóa của dân tộc, không c̣n nên tiếp tục sự trụ đóng vào phương tiện Cộng Sản nữa. (Hết trích)

 

“Luận cổ suy kim” là lời khuyên nhủ của tiền nhân, không phải chỉ dành riêng cho mỗi cá nhân b́nh thường, mà đặc biệt là dành cho các vị lănh đạo các tổ chức chính trị, các vị lănh đạo các quốc gia cần phải luôn luận bàn về việc cũ để có viễn kiến chính trị cho hướng đi mới, thích nghi với hoàn cảnh luôn thay đổi của thế giới, để đem lại lợi ích cao nhất cho việc phát triển đất nước. Nhưng, khốn nỗi những nhà lănh với định kiến nhỏ nhen, ích kỷ, cục bộ -- cho dù có thấy rơ những khuyết điểm/sai lầm của quá khứ -- họ cũng không muốn sửa chữa mà ngược lại c̣n muốn mở rộng thêm, chỉ v́ những sai lầm đó mang đến lợi ích riêng cho phe cánh của họ. Cho nên đó là lư do đă đẩy dân tộc đến ngơ cụt, đưa đến hậu quả cực kỳ tai hại, không phải cho một thế hệ mà cho nhiều thế hệ kế tiếp.

 

Căn cứ vào trích đoạn (trong cuốn Chính Đề Việt Nam) nêu trên, chúng ta thấy, cách đây hơn nửa thế kỷ, ông Ngô Đ́nh Nhu đă thành khẩn mong mỏi các nhà lănh đạo miền Bắc, kịp thời nhận định đă đến lúc, v́ sự tiến hóa của dân tộc, không c̣n nên tiếp tục sự trụ đóng vào phương tiện Cộng Sản nữa.”

 

Phải thấy rằng, hơn nửa thế kỷ là một khoảng thời gian quá dài, quá đủ để cân nhắc lợi/hại về một lời ‘thành khẩn mong mỏi’. Thiết nghĩ, sự mong mỏi đó không phải là của riêng ông cố vấn chính trị Ngô Đ́nh Nhu (thời Đệ Nhất Cộng Ḥa), mà của toàn thể dân tộc Việt Nam. Cứ nh́n vào các sự kiện ‘đ̣i dân chủ’ ở quê nhà hiện nay đang bị trù dập, th́ thấy rơ sự thành khẩn mong mỏi của lương dân ra sao, và bạo quyền Hanoi cũng đă ‘trụ’ vào cộng sản độc tài, bất chấp những mong mỏi đó như thế nào.

 

Đọc và hiểu thấu đáo lời ‘thành khẩn mong mỏi’ này, th́ cho dù một người có sẵn định kiến xấu về một giai đoạn lịch sử đă qua, cũng không thể phủ nhận được tinh thần yêu nước cao độ của một nhân vật có trách nhiệm, đă sống và làm việc trong một giai đoạn mà t́nh h́nh ở Nam Việt Nam cực kỳ phức tạp sau ngày chia cắt đất nước (1954).

 

Nội dung cuốn Chính Đề Việt Nam đă đưa ra những luận cứ sắc bén, lối dẫn giải rơ ràng đầy thuyết phục, chỉ rơ một hướng đi với lời tiên đoán thần sầu về hiểm họa bành trướng của Tàu Cộng, đă cho thấy tác giả đă ‘luận cổ suy kim’ để chuẩn bị cho dân tộc một cuộc hành tŕnh đúng hướng. Mặc dầu đây là sự thật, nhưng chính quyền đương thời lúc ấy đă bị phe cánh Cộng Sản và tay sai, cũng như những thành phần lừng khừng và đảng phái chính trị ‘xôi-thịt’ miền Nam tuyên truyền xuyên tạc, ngăn cản, dẫn đến nhiều đổ vỡ.

 

Thật đáng tiếc, lời ‘thành khẩn mong ước’ ấy đă không được các chính quyền đi sau quan tâm. V́ thế mà niềm mong ước đă hơn  50 năm, đến nay vẫn chỉ là mong ước; không hề nhúc nhích.  Nhưng không phải chỉ dừng lại ở đó, mà hiện nay mọi diễn biến trên địa bàn chính trị, xă hội ở trong nước, càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Nước ‘Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa’ của Cộng đảng Hanoi vẫn đi ngược chiều với ‘sự tiến hóa của dân tộc’ và văn minh nhân loại!  Chỉ v́ phe cánh cầm quyền ở Hanoi, do quyền lợi riêng tư làm mờ mắt. Họ vẫn ôm cứng bóng ma Cộng sản! Vẫn đàn áp, đánh đập, bắt bớ người yêu nước, bất đồng chính kiến! Vẫn chà đạp nhân quyền! Vẫn tham nhũng! Vẫn dung túng tham quan ô lại! Vẫn cấu kết với giặc ngoại xâm bán rẻ tài nguyên thiên nhiên của đất nước! Vẫn cấu kết với du đăng để đàn áp tôn giáo, đàn áp tiếng nói tự do dân chủ! Cộng đảng Hanoi vẫn man trá coi giá trị nhân quyền như một dụng cụ dùng để trao đổi quyền lợi riêng tư của ‘đảng’.

 

C̣n về sản xuất th́ vẫn ‘trụ’ vào nền ‘kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa’, không tiến lên được. V́ không phát minh, không sáng kiến. Chỉ biết đi làm công,ở trong nước cũng như ngoài nước. Mặc dù phe cánh các công ty quốc doanh làm ăn thua lỗ nhưng vẫn được ưu tiên vay vốn. Công ty quốc doanh tuy lỗ vốn, công nhân đói khổ, nhưng đảng viên cộng sản và phe cánh, chủ nhân ông của công ty vẫn có lời.

 

Ta hăy nh́n về quá khứ của Nam Hàn, 50 năm trước họ cũng chỉ ngang tầm với Bắc Hàn, Bắc Việt, và c̣n lạc hậu hơn ‘Ḥn Ngọc Viễn Đông’ (Saigon, Nam Việt Nam) rất nhiều. Thế mà ngày nay, Nam Hàn đă ngang nhiên đứng vào hàng ngũ các ‘cường quốc kinh tế’ trên thế giới. Những thành tựu đáng ngưỡng mộ của Nam Hàn lúc gần đây, được bắt nguồn từ sáng kiến của tổng thống Park Chung-hee. Người có tầm nh́n bao quát, thấu suốt một chặng đường dài kiến thiết xử sở sau cuộc chiến tranh Nam-Bắc (1950-1953); tương tự như cuộc chiến Việt Nam, nhưng Nam Hàn đă thoát ra khỏi thảm cảnh nghèo đói, không như Việt Nam bây giờ. Nhiều người ví tổng thống Park Chung-hee như một nhân vật ‘độc tài đáng yêu’ tương tự như tổng thống Lư Thừa Văn của Singapore. Sau chiến tranh, ông đă sớm loại bỏ ngay cái gọi là ‘tính ưu việt của chủ nghĩa xă hội!’ do Nga-Tàu bịp bợm, mà người anh em phía Bắc đă và đang ‘trụ’ vào. Chính nhờ viễn kiến chính trị và tài lănh đạo của ông mà cho đến nay, các công ty Nam Hàn đă thủ đắc được vô số các tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới. Ngày nay họ đang là chủ nhân ông của nhiều xí nghiệp quan trọng ở Việt Nam. Họ có quyền quyết định về đời sống lương bổng của hàng ngàn công nhân Việt Nam đang làm việc dưới quyền điều khiển của họ.

http://cafef.vn/tai-chinh-quoc-te/50-nam-truoc-han-quoc-giong-het-trieu-tien-2013040513405312317ca32.chn#slidecontainer

 

Ví thử, cách đây hơn 50 năm, cùng thời ‘hàn vi’ như Nam Hàn, nếu ‘Ḥn Ngọc Viễn Đông’ (Saigon) không bị Cộng sản Hanoi manh động làm cho ‘sự tiến hóa của dân tộc’ bị ngưng lại -- làm mồi cho Cộng Sản Quốc Tế Nga-Tàu -- và bị xâm chiếm dưới chiêu bài láo khoét ‘giải phóng miền Nam’, th́ chắc chắn ngày nay dân tộc và dân sinh trên quê hương ta đă đi theo chiều hướng khác, thuận lợi hơn, tiến bộ hơn, không thua kém Nam Hàn và nhiều nước khác trong khu vực Á châu. Người dân không đến nỗi chịu nhiều nhục nhă như bây giờ; trong đó, nỗi nhục nhă lớn nhất là làm nô lệ cho giặc xâm lăng Tàu Cộng.

 

Để so sánh, ta hăy điểm lại một vài thành tích đáng kể vào những năm đầu của thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, cách đây hơn nửa thế kỷ, ở Nam Việt Nam. Trước hết, hăy đọc một số ḍng chữ trong tác phẩm ‘Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’, của tác giả Hồ Sĩ Khuê, một người không ưa tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng ông không thể phủ nhận thực tế trước mắt (xin trích nguyên văn ở trang 270, sách đă dẫn, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1990):

 

‘Nông thôn đang hồi thay đổi mạnh. Xưa miền Nam có người nghèo túng, tuy không hề biết cảnh “bần cố nông” của miền Bắc. Nay th́ dân cầy Nam Bộ không c̣n thiếu thốn quá đáng, háo hức theo cuộc sống có nhiều thay đổi. Cầy tay đổi sang cầy máy, phân hóa học thay phân tươi, sông rạch lưu thông đă có thuyền máy, có ghe đuôi tôm, nhà cửa bắt đầu có những tiện nghi tối thiểu, radio, tủ lạnh quạt máy, ti vi, dần dà gia đ́nh nào cũng có một vài món làm vui. Cuộc sống hàng ngày con nhà nông không c̣n đầu tắt mặt tối quá đáng.

……………………..

Giáo dục mở mang, trường ốc mở rộng thêm nhiều. Trẻ em miệt vườn trước không qua bậc tiểu học, nay đi vào trung học là chuyện thường. Báo chí sách vở tràn lan khắp nơi, mở rông tầm hiểu biết phổ thông. Người lớn trẻ con đều thạo tin tức thế giới và chuyện xảy ra hàng ngày trong nước. Không c̣n mấy ai ch́m trong ngu tối nữa.

……………………..

Tài xế tắc xi nhưng trưa đến không kể khách, nằm gác chân xem báo. Đạp xích lô, nhưng mỗi chiều ngồi nhậu nhẹt lai rai, bàn chuyện thời cuộc với xóm giềng.

Những cảnh như thế xóa sạch mọi đẳng cấp thầy thợ trong xă hội, tạo một không khí ḥa đồng vươn cao. Con em gia đ́nh lao động đă bắt đầu vào đại học, làm giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, sánh vai cùng bạn bè đồng lứa xuất phát từ đủ mọi thành phần trong xă hội.

Đấy là những thành tựu xă hội có thể đưa ông Diệm đến thành công, nếu ông không là toàn quyền.

…………………….

T́nh h́nh bấy giờ giải thích tâm lư hôm nay của một số người nuối tiếc, nhất là các bà: “Ông Diệm c̣n tốt hơn ông Hồ nhiều.”

 

Thực thế, dân miền Nam thời “Cộng Ḥa Nhân Vị” 30 năm trước có một cuộc sống vật chất đầy đủ hơn thời xă hội chủ nghĩa ông Hồ 30 năm sau. Đầy đủ. Chưa đúng. Thừa thăi.’ (Hết trích).

 

Trên đây mới chỉ là vài nét phác họa về xă hội miền Nam (cách đây đă hơn nửa thế kỷ) của một người phê phán tổng thống Ngô Đ́nh Diệm là ‘toàn quyền’, đồng nghĩa với ‘độc tài’. Nhiều người nghĩ, thật đáng tiếc là tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă không độc tài đủ (như các tổng thống Lư Thừa Văn của Singapore và Park Chung-hee của Nam Hàn) để cho ‘sự tiến hóa của dân tộc’ không bị ngưng lại! Và cái chết tức tưởi của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cũng như hai bào đệ của ông vào năm 1963, 1964 giữa lúc nhiều công tŕnh đang tiến triển tốt đẹp là một sự mất mát rất lớn của dân tộc! Kẻ thù của dân tộc ta, Trung Cộng và Việt Cộng rất mừng.

 

Trong trích đoạn (từ tác phẩm Chính Đề Việt Nam) nêu trên, tác giả Ngô Đ́nh Nhu cũng đă nhấn mạnh: ‘Trong t́nh h́nh chính trị thế giới hiện nay và trong tŕnh độ tiến hóa của nhân loại hiện nay, các vấn đề của dân tộc Việt Nam, trong thời kỳ này chỉ có thể t́m được một giải đáp nếu chúng ta trụ vào vị trí dân tộc.’ Trạng từ ‘hiện nay’ dùng trong đoạn văn này, tuy đă đi vào quá khứ hơn nửa thế kỷ. Nhưng xét cho kỹ về thời gian, không gian, hiện t́nh Việt Nam, hiện t́nh thế ǵới, th́ ngay bây giờ việc trụ vào vị trí dân tộc để khai tử đảng cộng sản cũng vẫn chưa muộn, vẫn c̣n hợp thời, hợp thế, hơn bất cứ lúc nào khác. Muốn ‘thoát Trung’ th́ trước hết phải khai tử đảng cộng sản.

 

Riêng nói về quá khứ hơn 50 năm trước, ông Ngô Đ́nh Nhu đă nhắc nhở là phải ‘trụ vào vị trí dân tộc’ để giải quyết vấn đề Việt Nam. Cho nên không ai lạ ǵ, ngay những năm đầu sau khi chấp chánh (sau 1954), tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cũng đă dựa và dân tộc, để đề ra và bắt tay ngay vào việc thực thi chính sách Tam túc’: tự túc về tư tưởng; tự túc về tổ chức và tiếp liệu; tự túc về kỹ thuật. Một khi đă thực hiện được đầy đủ ‘tam túc’ th́ sẽ không c̣n bị lệ thuộc vào bất cứ một sự viện trợ nào từ bên ngoài nữa. Lúc đó mới có độc lập, tự chủ trọn vẹn. Công tác đang thực hiện th́ bị ‘thù trong, giặc ngoài’ phá hoại. Tuy nhiên, với thời gian ngắn ngủi (1954-1963), chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cũng đă vượt qua được vô vàn khó khăn, vất vả, để đạt tới những thành quả đáng ngưỡng mộ về kinh tế, giáo dục, nông nghiệp, xin tóm lược như sau(*):

 

-Về công nghiệp nhẹ đă được xúc tiến ngay từ 1955, lập thêm nhiều nhà máy cưa, nhà máy xay lúa, nhà máy dệt, nhà máy đường, nhà máy thủy tinh, khai thác mỏ than Nông Sơn…Kết quả cho đến 1957 nhà máy cưa tăng từ 200 lên 300. Nhà máy xay tăng từ 400 lên 1000. Nhà máy dệt, 6000 khung cửi tăng lên 10,200.

 

-Về nông nghiệp, cho đến tháng 5 năm 1961, xây dựng được 147 khu dinh điền trên diện tích 89,126 hectares. -19 khu trù mật.  -457,149 hectares đất truất hữu của 1584 gia đ́nh địa chủ đă được chia ra cho 123,802 gia đ́nh tá điền. Đến tháng 11 năm 1963 xây dựng xong 8,000 ấp chiến lược trong dự trù 12,000 ấp. Số lúa thu hoạch là 5,380,000 tấn; xuất cảng 400,000 tấn.

 

-Về y tế, năm 1955 có 112 bệnh viện, năm 1960 tăng gấp 10 lần nghĩa là 1,126. Số giường bệnh từ 7,000 tăng lên 20,824.

 

-Về giáo dục, văn hóa, kỹ thuật, năm 1954 số người mù chữ (tuổi từ 13 đến 50) là 2,284,144 đến năm 1960 chỉ c̣n 778,453 trong tổng số dân miền Nam lúc đó là 13,731,052, tức chỉ c̣n 5,6%. Tiểu Học công lập, niên khóa 1954-1955 có 1598 trường với 7,000 lớp. Tới niên khóa 1959-1960 tăng lên 4,418 trường với 20,109 lớp. Bậc Trung Học và Đại Học cũng phát triển tương tự. Ngày 1-3-1957 khai giảng ViệnĐại Học Huế. Năm 1959 khai giảng Viện Đại Học Đà-Lạt. Năm 1956 thành lập Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, Trường Mỹ Thuật và Học Viện Quốc Gia Âm Nhạc. Năm 1955 Trường Quốc Gia Hành Chánh được dời từ Đà-Lạt về Sài-G̣n với tên mới là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được đổi danh thành Liên Trường Vơ Khoa. Trường Vơ Bị Quốc Gia được tổng thống đặc biệt lưu tâm và chính ông vẽ đồ án.

 

Mọi chương tŕnh đều được cải tiến cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Mọi trường học, tư cũng như công, mọi bảng hiệu thương mại, ngoài đường, góc phố phải để tên Việt Nam. Ngoại ngữ chỉ được phép để ở dưới và nhỏ hơn chữ Việt Nam. Người Việt Nam chính thức làm chủ mọi cơ quan, gia đ́nh, đất nước.

 

(*)Tài liệu của nhà biên khảo Minh Vơ căn cứ vào Thành Tích 6 năm hoạt động của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, 1960, do Hồ Đắc Huân tái bản năm 2007.

 

Những thành quả này đă bổ túc cho nhận xét của ông Hồ Sĩ Khuê nêu trên. Thiết nghĩ, ngày nay cũng c̣n rất nhiều quư vị đă từng sinh hoạt trong xă hội Nam Việt Nam từ 1954 đến 1963 có thể xác minh cho sự thật đó. Thực ra ‘những con số’ cũng không đáng quan tâm bằng ‘tinh thần dân tộc tự chủ’ mà nền Đệ Nhất Cộng Ḥa đă hun đúc cho học sinh, sinh viên và toàn dân. Khi nêu ra những thành quả này, tôi chỉ nhắm giải thích thêm: nên ‘trụ’ vào dân tộc để giải quyết mọi vấn đề của đất nước.

 

Những khẩu hiệu rỗng tuếch của ‘Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa’ ngày nay không c̣n lừa giối được ai nữa, nhưng sở dĩ nó vẫn hiện diện là v́ đă có bạo lực của bàn tay sắt che chở, cũng chính là sản phẩm của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ 70 năm trước. V́ ngay từ khi ra đời, đảng của ông Hồ  đă ‘trụ’ vào Mác-Lênin-Mao, nhưng lại không nhất quán, khi th́ ‘trụ’ vào Nga, lúc th́ ‘trụ’ vào Tàu. V́ không có óc tự chủ, tinh thần luôn chao đảo, chỉ có bạo lực của bàn tay sắt là giữ nguyên, cho nên đă đưa dân tộc đến nô lệ giặc Tàu như ngày nay.

Một khi đă nói đến ‘thoát Trung’ mà năo trạng c̣n non nớt, yếu hèn, chao đảo, không dám mạnh dạn ‘trụ’ vào dân tộc, mà ngược lại, lúc nào cũng coi dân tộc như là một thứ công cụ để phục vụ cho ‘đảng’ th́ không thể ‘thoát Trung’ được.

Chỉ có ‘trụ’ vào dân tộc th́ mới giải quyết được mọi vấn đề hiện nay, mới có ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, và đă từ lâu, chính là NIỀM MONG ƯỚC CỦA DÂN TỘC.

 

Vơ Phương

15.12.2014

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo