Giáng Sinh ngày xưa


Trương Phú Thứ

 

 

Mùa Giáng Sinh năm 1957, gia đ́nh tôi vừa mới tạm yên ổn nơi ăn chốn ở tại miền đất mịt mùng có tên gọi là Cái Sắn, ngay gần cuối cái đuôi khoằm khoằm trên bản đồ nước Việt Nam có h́nh chữ S. Khu định cư Cái Sắn thuộc tỉnh Kiên Giang là đất tạm dung của dân miền Bắc, những người vào năm 1954 đă phải rứt ruột bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, mồ mả tổ tiên chạy vào miền Nam lánh nạn cộng sản. Hầu hết dân di cư ở Cái Sắn đều là những người đă một đời bầu bạn với con trâu cái cầy và là dân “có đạo”. Kiểu cách ăn nói thông thường của người miền Bắc ngày xưa gọi những người theo đạo Công Giáo là người “có đạo” và những người theo các tín ngưỡng khác hoặc không theo một tôn giáo nào là dân “ngoại đạo”. Người “có đạo” hay dân “ngoại đạo” chẳng ai suy b́ hay thắc mắc về cái tên gọi đời thường đă trở nên quen miệng và được mọi người mặc nhiên chấp nhận. Cả vùng định cư Cái Sắn mênh mông với trời nước bạt ngàn cũng thi thoảng có một gia đ́nh “ngoại đạo” hoặc một ít người đă từng sinh sống ở nơi đô thị của các tỉnh miền Bắc, được gọi là dân tỉnh thành. Sau này vùng Cái Sắn trở nên trù phú với ruộng lúa chạy dài đến tận chân trời, tôm cá đầy kinh rạch th́ những người “ngoại đạo” cũng đă hết thảy trở thành “có đạo” và dân tỉnh thành cũng đă biến mất khỏi nơi ruộng đồng chân lấm tay bùn.


Gia đ́nh tôi đến lập nghiệp ở Cái Sắn từ một vùng quê miền duyên hải Bắc Việt. Ḍng họ nội ngoại từ ông cố ông sơ cho đến thế hệ ăn không biết no, ngủ không biết chán chúng tôi chỉ biết bám chặt vào mảnh vườn sào ruộng đắp đổi khoai sắn sống qua ngày. Quê tôi nghèo lắm. Cả làng chỉ có dăm ba cái nhà ngói c̣n toàn là nhà tranh vách đất. Ruộng đồng th́ phèn chua nước mặn, cầy cấy mùa được mùa mất nên nhà nào cũng chỉ tiệm tạm đủ ăn. Thế nhưng làng tôi lai có một ngôi nhà thờ “kiểu Tây” bề thế nhất vùng. Cho đến bây giờ, cũng đă đến cả nửa thế kỷ rồi, tôi vẫn c̣n nhớ đến từng chi tiết ngôi thánh đường mà ḍng họ tôi đă một ḷng rau cháo qua ngày nhưng nhất định phải xây một đền thờ xứng đáng là nơi Chuá ngự. Tôi đă được đi thăm nhiều nhà thờ to lớn nổi tiếng trên thế giới nhưng lại chẳng có một cảm xúc nào với những kiến trúc đồ sộ và những công tŕnh mỹ thuật vô tiền khoáng hậu qua nhiều thời đại. Bao nhiêu tâm t́nh mến thương, t́nh nghĩa chất ngất dạt dào tôi đă để lại nơi tháp chuông của ngôi nhà thờ làng tôi. Chẳng biết ngày xưa làm thế nào mà cha ông chúng tôi chỉ với hai bàn tay gầy guộc và chiếc thang tre yếu ớt đă lại có thể xây được cái tháp chuông cao vút ngaọ nghễ dưới trời xanh. Ngọn tháp có ba quả chuông mua từ bên Tây về. Mỗi ngày ba lần tiếng chuông vang lên mời gọi con cái “chạy vội” về nhà Chúa kinh nguyện sớm tối. Tiếng chuông đánh thức dân làng thức dậy sau giấc ngủ miệt mài, người nào người nấy vội vơ cái áo đi mau ra nhà thờ cho kịp lễ. Những buổi trưa bận rộn công việc nhà cửa đồng áng không đến nhà thờ được nhưng khi vừa nghe tiếng chuông đổ hồi, mọi người đều nghỉ tay đồng áng đứng lên quay mặt về phía nhà thờ để cùng hợp ḷng hợp ư đọc kinh nguyện rất sốt sắng. Tiếng chuông ngân nga vào mỗi buổi chiều lúc dân làng quang gánh về nhà sau một ngày làm lụng vất vả. Nhiều người chỉ kịp chạy ào xuống dưới cầu ao giũ quàng bùn đất rồi vội vàng vào nhà thờ bắt đầu buổi kinh chiều. Tiếng kinh trầm bổng lăng văng trên rặng soan già bay cao vút lên chín tầng mây, âm vang vọng xa tới những cánh đồng xanh mầu mạ non con gái chạy dài đến tận chân trời. Lời kinh sốt sắng lan toả ra như hương trầm từ bao tấm ḷng cung kính nguyện cầu xin cho sống đời b́nh an. Nhà thờ làng tôi là địa chỉ cư trú thứ hai của dân làng, là nơi ẩn náu của những ngày loạn lạc và cũng là nơi hội hè đ́nh đám trong những ngày lễ tết quanh năm. Nghe tin Việt Minh về đến gần làng là mọi người già trẻ lớn bé chạy vào nhà thờ đóng chặt cưả lại rồi xướng kinh cầu nguyện xin Chúa giữ ǵn. Nếu chết th́ cả làng cùng chết. Chết trong nhà Chúa. Chết an lành trong tay Chúa. Kỳ diệu thay là Việt Minh cũng đă về đến làng nhưng chẳng đứa nào dám phá cửa nhà thờ để bắt “bọn phản động”. Mọi người vẫn b́nh an dưới sự che chở của Chúa. Ngày Tết th́ vui biết bao, những tṛ chơi và đám múa sư tử đều lấy cái sân thượng ngay cuối nhà thờ như là nơi mở hội. Sáng ngày mùng Một Tết tiếng trống của đội múa sư tử ngay khi thánh lễ đầu năm vừa xong là một đợi chờ náo nức của bọn trẻ chúng tôi. Sau ngày mùa, dân làng cười nói vui vẻ mừng Xuân đón Tết dưới bóng nhà thờ, đầm ấm yêu thương như nụ hoa đang độ xuân th́.


Nhà tôi chỉ cách nhà thờ một quăng đường. Từ cổng nhà tôi đi ngang con đường làng, qua cái ao lềnh bềnh những mảng bèo trôi chậm chạp là đă đến cuối nhà thờ. Con đường quá quen thuộc, tôi có thể nhắm mắt đi cũng chẳng sợ ngă xuống ao. Đă mấy năm rồi tôi học chữ quốc ngữ, học giáo lư ở gian nhà phía hông trái nhà thờ. Suốt ngày tôi chỉ quanh quẩn ở ngoài nhà thờ. Mỗi lần nghe tiếng chuông là tôi chạy vội vào nhà thờ ôm chặt cái sợi giây thừng to tướng mà ông bơ vóc người gầy ốm nhỏ thó đang cố đu cả thân ḿnh lên để giật chuông. Nhiều lần người bơ già này chỉ bám vào giây để giữ nhịp cho hồi chuông. Lần nào được giật chuông tôi cũng khoe với u tôi để nh́n nụ cười dịu hiền với chút hănh diện cuả bà mẹ suốt đời hy sinh, nhịn ăn nhịn mặc cho con cái.


Cứ đến những ngày lễ trọng th́ nhà thờ làng tôi chật như nêm cối. Không kể dân làng mà những giáo hữu từ các làng lân cận cũng đến dự lễ cho long trọng và nhất là được nghe tiếng phong cầm réo rắt từ trên gác đàn. Thày tôi đă lặn lội lên Hà Nội, đi lên đi về mấy lần mới mua được chiếc đàn này cho nhà thờ. Chiếc đàn có hai bàn đạp phía dưới, người đánh đàn phải đạp đều chân trong khi tay lướt trên những phím đàn hai mầu đen trắng. Ngày mang chiếc đàn về, tôi đă được nh́n ngắm sờ mó đến thoả thích. Sau khi khiêng chiếc đàn vào nhà thờ cho hội hát th́ tôi chỉ được đứng xa mà nghe âm thanh trầm bổng vọng lên.


Trước khi chạy nạn cộng sản di cư vào Nam, tôi đă “to xác” nên u tôi mới khâu cho chiếc áo dài đen để “đi nhà thờ nhà thánh”. U tôi khâu chiếc áo khá rộng, pḥng thằng con giai lớn lên “c̣n có cái mà mặc”. Chiếc áo dài đen rộng quá khổ đă làm tôi chững chạc hẳn lên, u tôi bảo “làng ḿnh đă có thêm một xuất đinh rồi”. Lần đầu tôi diện chiếc áo dài đen c̣n cứng bột hồ đi sau thày tôi ra nhà thờ mừng Chúa ra đời. Các anh chị tôi đă ra nhà thờ từ sớm để dọn dẹp và trang hoàng cho thánh lễ nửa đêm. Tôi không c̣n phải ngồi với đám trẻ con trên một chiếc chiếu gần gian cung thánh. Tôi đă mặc áo dài đi nhà thờ, hơn nữa tôi lại c̣n thông thạo chữ quốc ngữ và biết làm bốn phép tính cũng tạo ra một khoảng cách nào đó với bọn trẻ con cùng lứa trong làng mà đa số chỉ biết đi chăn trâu và làm những công việc lặt vặt ngoài đồng.


Tôi ngồi cạnh thày tôi trên băng ghế dài có bàn qùy dành cho người lớn. Bên trong nhà thờ không c̣n đến một chỗ trống, nhiều người phải đứng ngoài nh́n vào qua những khung cửa sổ được mở rộng . Mặc cho thời tiết giá lạnh của mùa đông nhưng người này chen vai người kia truyền hơi ấm cho nhau trong tiềng kinh cầu rầm ŕ cũng tạo nên môt khoảng không gian ấm cúng. Từ đáy ḷng của mỗi người là một tâm tư khấn hứa chân thành qua những nét mặt nghiêm trang kính cẩn nguyện cầu. Tiếng đàn phong cầm nhịp nhàng đệm theo những bài hát tiếng La Tinh với âm thanh quen thuộc trong không khí thinh lặng giữa nửa khuya quyện vào Đất Trời giao hoà trong Đêm Thánh Vô Cùng đón mừng Chúa xuống thế.


Thánh lễ xong, thày tôi dẫn tôi lên hang đá viếng Chúa Hài Đồng. Mùa đông miền Bắc cũng giá rét lắm nhưng tôi đi chân đất mà chẳng thấy lạnh lẽo ǵ bởi v́ đă mấy ngày rồi tôi đợi chờ đến quên ăn quên ngủ cho giây phút được đến bên hang đá dưới những lồng đèn h́nh ngôi sao phất giấy bóng kính mầu xanh đỏ mà chiêm ngưỡng tượng Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ. Chúa sinh ra trong nghèo khó để an ủi và đem b́nh an đến cho con cái khó nghèo. Đức Mẹ qùy bên Chúa, đôi mắt đầm ấm thiết tha như sưởi ấm thân thể Hài Nhi trong không khí giá buốt giữa đêm đông nơi đồng không mông quạnh. Những sợi giây kim tuyến treo lững lờ trước cửa hang đá bay dật dờ theo ánh nến lung linh huyền diệu. Tôi viếng hang đá mà ḷng ước mơ được làm người mục đồng lang thang nơi đồng cỏ dưới ánh sáng an b́nh từ Trời Cao.


Giây phút háo hức mong chờ để được chiêm ngắm bộ tượng Thánh Gia trong hang đá cũng chẳng được lâu. Tôi qùy bên cạnh thày tôi nhỏ nhẹ lập lại những lời cầu nguyện của thày tôi rồi phải nhường chỗ cho những người đứng sau. Giữa thời loạn lạc hai cha con tôi nguyện cầu Chúa Hài Đồng xin cho chiến tranh ngừng tan, xin cho chúng con sống đời bằng an. Đôi mắt thày tôi nhắm chặt, đầu cúi xuống như muốn gục vào ṿng tay thương yêu tŕu mến của Thánh Gia.


Tôi chạy xuống phía dưới nhà thờ t́m u tôi. Trong bóng tối chập chờn của chút ánh sáng từ cái đèn chai treo trên cột nhà thờ, u tôi ngước nh́n lên hang đá, miệng thầm th́ khấn xin. Chắc hẳn thế nào mà u tôi lại không cầu xin cho thằng con giai hay ăn chóng lớn, học hành giỏi giang và sau này trở thành người hữu ích cho xă hội. Tôi cầm vạt áo dài của u tôi lần ṃ ra ngoài đường làng đi về nhà. Lúc gần rẽ vào ngơ, u tôi móc trong túi ra hai cái kẹo bột làm quà Giáng Sinh cho tôi. Thật sự th́ ở vào thời điểm đó tôi cũng chẳng có một ư niệm ǵ về cái gọi là quà Giáng Sinh. Hai chiếc kẹo bột chỉ là một phần thưởng đặc biệt cho tôi v́ đă ngoan ngoăn đi lễ nửa đêm. Sáng hôm ngày lễ thày u tôi không ra đồng như mọi ngày. Lúc thức dậy tôi đă ngửi thấy mùi xôi đậu thơm ngào ngạt từ dưới nhà bếp. Bao giờ u tôi cũng dành cho tôi nắm xôi to gói trong cái lá chuối với cục đường phèn. U tôi mong ngày mong đêm cho thằng con chóng lớn để gửi ra tỉnh học nên nhà có đồng quà tấm bánh hay miếng ngon miếng ngọt bao giờ u tôi cũng dành phần hơn cho tôi. Nhà tôi ăn mừng lễ cũng như đa số dân làng, một chơ xôi đậu nhưng vui vẻ hạnh phúc biết bao. Quà bánh nhà quê chỉ có nắm xôi hay củ khoai luộc mà sao đậm đà thân thương đến như vậy.


Chạy nạn cộng sản vào đến miền Nam, dẫn dắt nhau xuống miệt Cái Sắn, thày u tôi cũng cắm được miếng đất gần nhà thờ để sớm tối đi về đọc kinh cầu nguyện. Cuộc đời của thày u tôi gắn liền với cửa ngơ nhà thờ. Bóng mát của ngôi nhà thờ là tài sản trân qúy và tiếng chuông nhà thờ là hạnh phúc vô biên của thày u tôi. Từ nhà tôi đi ra nhà thờ là con đường cạnh một kinh nước có những cây b́nh bát quanh năm xanh tươi. Dân di cư chia nhau mỗi gia đ́nh một lô đất làm nhà dọc theo hai bờ con kinh. Thấm thoát cũng đă hơn hai năm từ khi những người đến từ nhiều nơi ở miền Bắc gồng gánh nồi niêu với vài cái quần áo tả tơi đến vùng đất này. Những tấm phên lá dừa lợp nhà đă đổi mầu và nền nhà đất gập ghềnh bây giờ cũng đă nhẵn nhụi. Cuộc sống của dân di cư chưa thể nói là sung túc nhưng chẳng ai thiếu thốn. Mỗi ngày ba lần tiếng kinh từ nhà thờ ngân vang đến tận đầu thôn cuối xóm. Mọi người cần cù cầy cấy sống đời đạo nghĩa tạo lập cuộc sống mới nơi miền đất mưa nắng hai mùa.


Lối tắt đến nhà thờ phải đi trên một cái cầu khỉ ngang qua rạch nước trong veo rộng độ ba bốn xải tay với những bụi hoa dại không tên đủ mầu. Vừa bước xuống khỏi cầu là tới nhà chị Lan bánh đa. Chúng tôi đặt tên như vậy v́ nhà chị làm bánh đa. Nghe nói ở ngoài Bắc gia đ́nh chị ở ngoài tỉnh, nhưng vào Nam theo bà con họ hàng ở đây để đêm hôm tối lửa tắt đèn c̣n có người ruột thịt máu mủ mà nương nhờ. Chị Lan xinh đẹp, dáng người mảnh mai và đă học đến lớp Nhất. Khi đi nhà thờ chị luôn mặc áo dài trắng trông thật thanh lịch và duyên dáng. Tôi rất gần gũi với chị Lan v́ mỗi tuần ít nhất một lần tôi đều đến nhà chị mượn mấy tờ báo cũ về đọc. Chị coi tôi như một đứa em và tôi cũng rất qúy mến chị. Từ ngày vào Nam, chị Lan bỏ học và ở nhà phụ giúp gia đ́nh làm bánh đa, sau mở thêm hàng tạp hoá ngay tại nhà. Chị sống đơn sơ mộc mạc và rất được ḷng mọi người.


Lễ nửa đêm Giáng Sinh năm 1957, một mùa Giáng Sinh thật an hoà. Mọi người hân hoan mừng lễ trong không khí thanh b́nh hoan lạc. Nhà thờ xứ tôi cũng đă mua được máy phát điện. Mấy ngọn đèn ống và dăm chục bóng đèn nhỏ đủ mầu trước mặt tiền nhà thờ đă thay đôi hẳn sinh thái của cả xứ đạo. Chúng tôi đang lần ṃ đi trên lối ṃn chập chững bước vào ngưỡng cửa của một đời sống tiện nghi vật chất. Giáo hữu dự lễ năm nay người nào cũng ăn mặc chỉnh tề. Các bà các cô mặc áo dài ni-lông đủ mầu. Các ông ngoài một số lớn tuổi mặc quốc phục, các anh thanh niên đa số mặc quần áo tây có người lại c̣n thắt cà-ra-vát nữa. Vừa bắt đầu lễ, ban kèn đồng đứng ngoài cửa chính thổi bài Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…, mọi người hát theo thật trang nghiêm sốt sắng. Đến lúc cha xứ dâng Ḿnh Thánh Chúa lại c̣n có đốt pháo, tiếng nổ ṛn tan trong đêm khuya thanh vắng giữa trời nước bao la thật vui vẻ rộn ràng. Bên cạnh nhà thờ là hang đá lộ thiên với những giây đèn mầu chớp chớp dưới một rừng đèn ngôi sao huy hoàng.


Tôi vẫn mặc chiếc áo dài đen u tôi khâu cho mấy năm về trước, đứng từ xa ngắm bộ tượng Thánh Gia trong hang đá to gần bằng người thật mà chẳng dám chen chân giữa những bộ quần áo đẹp đủ kiểu đủ mầu đến gần để nh́n cho tỏ tường. Gia đ́nh tôi lúc này thật sa sút, gần như trắng tay. Có bao nhiêu vốn liếng thày tôi mang hết lên Sài G̣n để lo sắp đặt chỗ ăn học ở bậc trung học cho anh tôi. Trên một chuyến xe buưt, thày tôi bị kẻ trộm chen lấn móc túi lấy không c̣n đồng nào. Thày tôi về nhà như người mất hồn nhưng u tôi vẫn không một lời than văn. U tôi tin là bằng cách này hay cách khác, Chúa sẽ lo liệu cho chúng tôi học hành đến nơi đến chốn. Từ ngày gia cảnh nghèo túng, thày u tôi gần như xa lạ với cḥm xóm láng giềng. Mặc cảm tự nhiên chẳng hề dầy ṿ cuộc sống của gia đ́nh tôi nhưng thày u tôi đă tự đào ra một cái hố cách biệt ngay cả với những người thân quen trong các hội đoàn thuộc xứ đạo.


Tôi đi ra khỏi đám đông, thất thểu trong bóng đêm về nhà. Những giây đèn mầu chớp chớp trên hang đá cũng từ từ mờ dần. Lúc đi ngang qua nhà chị Lan, tôi nghe tiếng chị gọi. Tôi bước mau hơn đến cái cổng xinh xắn làm bằng những cây tre to trên ngơ vào nhà chị. Chị Lan đưa qua hàng rào một gói giấy báo có buộc giây gọn ghẽ nói là quà Noel. Tôi nhùng nhằng không dám lấy th́ chị bảo phải nghe lời chị. Tôi chưa biết nói lời cám ơn, cầm gói quà đi vội ra khỏi ngơ. Trời cuối năm tối âm u, những v́ sao mờ lấp lánh trong cơi không gian vô tận cũng không đủ sáng để soi lối ṃn đầy cỏ dại. Tôi nhẩy chân sáo mang gói quà Noel đến nhà anh Đáo để anh em chia xẻ niềm vui Giáng Sinh. Anh Đáo vừa mới mười chín tuổi, tướng người cao lớn rắn chắc là một thanh niên rất hoạt bát và vui tính. Nhà anh cách nhà tôi một quăng đường ngắn. Anh ở với bà mẹ và một người chị gái đă lớn tuổi. Nghe nói anh Đáo tu xuất, học giỏi nhưng đi thi hoài mà cũng chẳng đậu bằng cấp ǵ. Anh rất khéo tay, việc ǵ cũng làm được và làm một cách thành thạo nhuần nhuyễn. Anh có ngón đàn ghi ta mượt mà. Những bài nhạc cổ điển chằng chịt những nốt nhạc lên xuống tạo nên những âm thanh khi d́u dặt lúc dồn dập dưới mười ngón tay điệu nghệ của anh là cả một công tŕnh nghệ thuật. Trong khu xóm tôi chẳng có ai xứng đáng với chị Lan cho bằng anh Đáo, mặc dầu anh thua chị Lan vài tuổi.


Anh Đáo đang ngồi trước thềm nhà nh́n trăng sao. Thấy tôi, anh vội chạy ra đón và tôi khoe anh gói quà Noel của chị Lan. Tôi theo anh Đáo xuống dưới nhà bếp chỗ gần chuồng heo cách xa nhà trên một cái vườn rộng có những luống rau cải thẳng đến men bờ kinh. Chúng tôi ngồi trên một cái chiếu rách trải trên lớp rạ khô c̣n thơm mùi nắng, bên nùi rơm cháy âm ỉ khói nghi ngút để đuổi muỗi và chút hơi ấm giữa đêm khuya. Gói quà Noel của chị Lan cho tôi chỉ mươi cái kẹo và dăm cái bánh quy nhưng cũng đủ cho hai anh em có được chút ǵ nhấm nháp giữa đêm khuya trong không khí mừng vui thánh thiện của ngày lễ. Anh Đáo rút trong túi ra một điếu thuốc lá Cotab mồi lửa hút. Mùi thuốc lá thơm ngào ngạt. Tôi xin anh Đáo thử một hơi cho biết. Lần đầu tiên “kéo” thuốc lá thơm làm tôi ho sặc sụa. Anh Đáo dạo đàn rồi bắt đầu hát những bài mừng lễ Chúa Giáng Sinh bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Giọng anh trầm buồn nhưng giai điệu reo vui của những cung nhạc ngày lễ cũng làm cho cả hai chúng tôi rạo rực. Tôi nh́n lên một ngôi sao sáng nhất trên bầu trời và tin rằng nơi đó Chúa Hài Đồng đang nh́n xuống chúng tôi với tất cả ḷng thương yêu tŕu mến. Anh Đáo nói không có duyên với chữ nghĩa nên kỳ này nghỉ ở nhà vài tháng rồi t́nh nguyện đi học lớp sĩ quan Thủ Đức, không có số làm quan văn th́ làm quan vơ vậy. Tôi chẳng có một ư niệm ǵ về việc binh lính nên cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Kẹo bánh cũng gần hết, tôi và anh Đáo lăn xuống cái chiếu rách ngủ cạnh bếp rơm cháy âm ỉ. Buổi sáng lúc tôi thức dậy th́ mặt trời đă lên cao.


Thời gian qua đi như một giấc mơ. Năm 1972 tôi đă là một thanh niên chững chạc làm công chức tại một tỉnh ở ngay cửa ngơ vào thủ đô Sài G̣n. Tôi đă cố công học hành để thày u tôi vui ḷng và nhất là để lời cầu nguyện ngày đêm của u tôi được thể hiện nơi sự xếp đặt và quan pḥng của Chúa. Một buổi chiều gần đến ngày lễ Chúa Giáng Sinh, tôi sang ty Cảnh Sát thăm anh bạn. Chúng tôi liên lạc mật thiết với nhau v́ thành phần có chút chức tước trong tỉnh th́ chỉ có tôi và anh c̣n độc thân. Lúc đi ngang qua một cái sân rộng đến văn pḥng của anh tôi nh́n thấy nhóm mấy người đàn bà đi theo một viên cảnh sát. Người phụ nữ đi cuối cùng nh́n tôi bằng ánh mắt cầu khẩn thiết tha. Gương mặt và vóc dáng quen thuộc tôi làm sao quên được:Chị Lan! Tôi chạy đến hỏi “Chị Lan trước ở Cái Sắn phải không?”. Chị đáp nhỏ nhẹ “Dạ, thưa ông…” Nghe giọng nói của chị, tôi không c̣n một chút nghi ngờ ǵ nữa. Đúng là chị Lan bánh đa của tôi rồi.


Tôi đi vội vào văn pḥng của anh bạn mà tôi vẫn gọi đùa là Ông C̣. Chuyện gẫu một lúc về mấy cô giáo sư bên trường trung học, tôi hỏi anh về mấy người đàn bà chắc là đang ngồi ở trong pḥng tạm giam. Anh cho biết là mấy người này bị bắt v́ buôn bán đồ Mỹ ở ngoài chợ. Ngày nào cũng bắt mấy người. Kỳ này cảnh sát bố ráp thường xuyên v́ nhiều người bán những đồ quân dụng mà văn pḥng cố vấn Mỹ đă nhiều lần nhắc nhở cần phải có biện pháp tích cực ngăn chận, người nào chậm chân chạy không kịp là bị bắt. Mấy người bị bắt v́ tội này thường th́ chỉ bị giữ lại mấy tiếng đồng hồ, ngoài giờ làm việc có thể bị giam qua đêm, tịch thu hiện vật, làm mấy cái giấy tờ rồi thả. Sáng hôm sau đă nh́n thấy họ ra chợ buôn bán lại. Bắt lui bắt tới cũng chẳng giải quyết được ǵ. Tôi nói với anh bạn về chị Lan và ngỏ ư nếu không có ǵ trở ngại th́ tôi xin lănh chị ra. Đàn bà con gái bị nhốt ở pḥng tạm giam một đêm nguyên cái vụ muỗi cắn cũng đủ khốn khổ, nói chi đến chồng con đang từng giây từng phút mong chờ. Anh bạn cười xuề xoà nói mấy phút nữa sẽ đưa “người đẹp” lên đây để tôi nhận bà con rồi ra về thơ thới hân hoan. Chúng tôi trở lại với đề tài cố hữu mà đối tượng vẫn là mấy cô giáo sư . Cô Vân dậy toán có mái tóc đẹp như suối mơ. Cô Hảo dậy sinh ngữ có nụ cười t́nh tứ hớp hồn người. Cô Thanh có thân h́nh mời gọi, và nhiều cô nữa.


Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa dồn dập chạy nhẩy trong miền kư ức vốn rất đậm đà của tôi ngay khi chị Lan vừa bước vào văn pḥng. Sau vài câu thăm hỏi, hai chị em nh́n nhau ngỡ ngàng. Chị nói : “Không ngờ lại gặp…ông ở đây.” Tôi cố vồn vă : “Em vẫn là em của chị mà.” Sau một lúc ôn lại những kỷ niệm Cái Sắn thiết tha với tiếng cười và nước mắt nghẹn ngào, tôi xin phép Ông C̣ đưa chị về nhà. Ngồi trên xe, hai chị em ôn lại những chuyện cũ và tôi được biết chồng chị Lan chính là anh Đáo qúy mến. Anh chị có hai con. Cô con gái lớn đi tu được nhà ḍng gửi sang bên Pháp học. Đứa con trai trọ học ở nhà người bà con trên Sài G̣n. Anh Đáo mang lon đại úy và hiện đang dưỡng thương ở nhà. Trong một cuộc hành quân, anh bị đạn gẫy chân trái, vết thương khá nặng chắc không có ngày trở lại quân ngũ. Chị Lan phân bua lương sĩ quan không đủ nuôi sống gia đ́nh, do vậy phải chạy ra ngoài chợ bươn chải kiếm đồng ra đồng vào. Hôm nay chỉ mất vài cây thuốc lá v́ phần lớn số hàng đă chạy kịp vào nhà một người quen ở ngay chợ.


Nhà chị Lan ở chỗ rẽ từ xa lộ Biên Hoà vào quận Đức Tu. Từ ngày Mỹ lập căn cứ Long B́nh, dân tứ xứ về đây lập nghiệp biến khu đất này trở nên nhộn nhịp đô hội. Chị Lan chỉ cho tôi ngừng xe ngay trước một căn nhà hai tầng xinh xắn với giàn hoa giấy mầu tím. Chị xuống xe, chạy vội vào trong nhà. Đứng trước cửa nh́n vào đă thấy một hang đá Noel nhỏ nhắn xinh xinh ở góc pḥng khách. Anh Đáo chống nạng đi ra. Anh nói oang oang không ngờ anh em ḿnh lại gặp nhau ở đây, trái đất nhỏ xíu, trái đất tṛn mà. Mắt anh đỏ quạch, nước mắt nhạt nhoà. Anh Đáo trông phong sương và đẫy đà hơn trước nhiều. Chuyện xưa chuyện nay với vợ chồng anh Đáo đă hơn hai giờ đồng hồ , tôi xin phép về và hẹn chắc sẽ trở lại vào đêm lễ Noel để cùng đi nhà thờ và sau đó về nhà ăn mừng lễ Chúa Giáng Sinh.


Đêm lễ Noel, tôi trở lại nhà anh Đáo. Chị Lan diện thật đẹp. Anh Đáo mặc quân phục, chân trái bó bột khập khiễng với đôi nạng. Chúng tôi đi nhà thờ lúc mười giờ tối. Thời buổi chinh chiến, rất ít nơi c̣n cử hành thánh lễ nửa đêm. Tôi đỡ anh Đáo vào nhà thờ đă gần hết chỗ đứng. Thấy anh Đáo, vài thanh niên đứng dậy nhường chỗ ngồi cho thương binh. Ban hợp ca từ phía trên gian cung thánh đă bắt đầu những cung điệu Giáng Sinh, “trong đêm u tối chúng con mong ngày mau tới”. Tôi ngước mắt nh́n lên phía trái nhà thờ, tấm bảng đỏ kẻ hàng chữ mầu vàng B́nh An Cho Người Thiện Tâm Dưới Thế. Tiếng đàn lời ca hợp cùng với những tiếng thầm th́ nguyện cầu cũng không át đi được âm thanh của những loạt đạn pháo binh từ xa vọng lại. Xương máu của con dân Việt Nam vẫn đổ ra ngay trong đêm rất thánh nhiệm mầu. Tôi ôm mặt cúi đầu khấn nguyện Chúa Hài Đồng, xin ban b́nh an cho chúng con.


Trương Phú Thứ

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính