Tệ trạng trong đạo Phật tại Việt Nam ngày nay

Trịnh Khải Hoàng

 

 

   Tôi chỉ là một người sinh sau Đức Phật Gotama Sakyamuni tới 27 thế kỷ. Do vậy khi t́m hiểu về Đạo Phật th́ phải kham khó và nhẫn nại học và hành rất nhiều từ Tam Tạng: Kinh – Luật – Luận : Digha Nikaya – Sila – Abhidhammatthasangaha và phải có phước duyên gặp được những vị Thiện – Tri – Thức tu chứng giảng dạy, tỏ bày phương tiện thiện xảo để khai ngộ mà loại bỏ ít nhiều chấp ngă ngay cả học thuật trong phạm trù tục đế cho dù tất cả những thứ, loại đó vốn là qui ước của ngôn ngữ để chúng ta giao tiếp và thông hiểu với nhau. Sở dĩ tôi phải đề cập tới Tục Đế là qui ước và cũng chính là phương tiện để chúng ta căn cứ và dựa vào để diễn đạt hầu hết sự việc xảy ra trong thế gian này gọi là Vạn Pháp chế định do loài người chúng ta định danh, định h́nh, định sự lư ... V́ ngoài bản chất của Tục Đế c̣n có bản chất thật hiển hiện ngoài ngôn từ ước lệ, chế định là Chân Đế, là nền tảng của bản chất thật không cần có qui ước chế định, thí dụ như khi chúng ta nói về “Nước” th́ qui ước chung của loài người và Người Việt th́ gọi là Nước, người Mỹ th́ gọi là Water và người Hoa th́ gọi là Xủy… Nhưng trong Chân Đế th́ bản chất của Nước là có 2 thành phần Hydrogen và 1 thành phần Oxygen kết hợp lại th́ thành Nước, Đó là sự thật ngoài ngôn từ qui ước và chế định.  Giáo pháp của Đức Phật giảng dạy cho chúng sinh trong đó có chúng sinh loài người chúng ta là chỉ bày hiển lộ sự thật của vạn pháp vận hành vốn tự nhiên, như nhiên và toàn hảo trong vũ trụ này. Vậy muốn hiểu về Đạo Phật th́ chúng ta phải căn cứ vào Lịch Sử v́ chúng ta là người hậu sinh đă qua 27 thế kỷ xa xưa rồi… Đức Phật là ai ? Ngài tu hành ra sao để thành vị Giác Ngộ và là Phật được người đời kính trọng , tôn thờ là Phật Bảo ngôi thứ nhất trong Tam  Bảo? Ngài truyền dạy giáo pháp như thế nào mà là Pháp Bảo ngôi thứ nh́ trong Tam Bảo và kho tàng Pháp Bảo này được chúng đệ tử và Phật tử đọc, tụng và ghi chép cẩn trọng   là Tam Tạng Kinh  lưu lại măi cho tới ngày nay,  không một chúng đệ tử,  hay Phật tử nào là người ngay lành, dám tự ư viết thêm hay  cắt bỏ bớt một câu văn kinh nào trong Tạng Kinh nguyên thủy là Kinh Theravada với hệ ngữ văn Pali Ấn Phạn. Ngay cả ngài Anan vị đại đệ tử chấp Kinh của Đức Phật cũng luôn cẩn trọng khi lập lại lời giảng dạy của Đức Phật là “Avam me sutam” (Ê văn mê su tăn) Tôi nghe như vậy, là câu nói mở đầu tất cả bài giảng nguyên bản của Đức Phật  Sakyamuni do chính ngài Anan đọc, nói lại, tức là Tôi nghe Đức Phật nói như vậy, chứ không bao giờ dám thêm, bớt một chữ nào trong bài giảng của Đức Phật để lưu lại hậu thế. Ngài dạy và truyền pháp cho ai và những vị đệ tử của ngài phàm Tăng, thánh Tăng đă và đang tu hành hướng đến giác ngộ là Tăng Bảo ngôi thứ ba trong Tam Bảo ?  Theo trong Kinh Điển th́ Đức Phật Gotama Sakyamuni phải tu hành tới 4 Đại Tăng Kỳ kiếp, và 100 kiếp trái đất th́ Ngài mới thành bậc Toàn Giác và nét đặc biệt là do Ngài tự ngộ, không có vị thầy nào chỉ dạy nên là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác – Samma Sambuddha (Sam ma Sam bút tha). Trong kiếp cuối cùng Ngài là vị Thái tử tên là Siddhartha Gautama ḍng Sakya (Sít đa tha Gô ta ma Sakya), Ngài từ bỏ cung điện, dấn thân vào đời sống du sĩ khổ hạnh, để  tầm đạo giải thoát… và cho tới khi thân thể tiều tụy gần chết vẫn chưa thấy thành quả giác ngộ để thoát khỏi Sinh Tử luân hồi vốn là qui luật vận hành tự nhiên trong vũ trụ.  Sau cùng Ngài ư thức lối tu lợi dưỡng và khổ hạnh bản thân không đem tới giác ngộ và Ngài từ bỏ, rồi Ngài bước xuống sông Ni Liên Thiền tắm gội thân thể sạch sẽ, thọ thực bát sữa từ bà tín nữ Sujata (Su ja ta), xin người cắt cỏ mớ cỏ lót làm đệm, rồi Ngài ngồi xếp bằng dưới bóng mát tàng cây Bồ Đề Bodhi (Bô thi) mà tham Thiền với tuệ giác quán chiếu nội tâm và ngoại giới, truy t́m căn nguyên của Sinh – Tử và ngay trong đêm đầu tiên Ngài đă chứng ngộ giải thoát. Nhưng cũng bởi Đức Phật tu hành với hạnh Trí Tuệ khác với những 6 vị cổ Phật trước Ngài, những vị cổ Phật có vị tu với các phẩm hạnh Ba La Mật (Panna Paramita (Pan nhá - Pa ra mi ta) như Hạnh Tinh Tấn, Hạnh Từ Bi, Hạnh kham nhẫn ,… và không có vị nào Tu với Hạnh Trí Tuệ mà thành Đạo. Do vậy Đức Phật Sakyamuni thành đạo viên măn là bậc Toàn Giác,  nên Ngài để lại Giáo Pháp cho chúng đệ tử hậu học nương tựa, và y cứ vào Giáo Pháp làm căn bản học nghiệm mà được Giác Ngộ như Ngài. Vậy cho nên Phật Tánh có đồng vị mặn như nước đại dương là tính chất đồng đẳng Phật Tánh, mà chúng ta có thể học tu hành đạt được sự giác ngộ ngay trong đời sống này. Chúng ta không phải tu tới 4 Đại Tăng Kỳ và 100 kiếp trái đất mới giác ngộ như Đức Phật đă tu hành như xưa kia, v́ Đức Phật đă để lại cho chúng ta Giáo Pháp như bản đồ hành tŕnh tâm linh đi tới Giác Ngộ - Giải Thoát. Đức Phật và những vị đệ tử đă giác ngộ, giải thoát xa xưa xứng đáng là bậc đáng để cho chúng ta đănh lễ và cúng dường, nhưng tất cả đều đă quá văng… Họ để lại cho chúng ta tấm gương sáng và phẩm hạnh tốt đẹp, cao thượng và giáo pháp cho chúng ta noi theo mà tu học hành điều thiện lành, gạn lọc thân tâm sống có ích cho bản thân, xă hội trên tiến tŕnh hoàn thiện và vượt qua cơi vật chất bằng Tâm lực vốn có tính năng không bị giới hạn của bộ năo vật chất và trực ngộ nguyên lư Vô Ngă – Vô Thường – Khổ Năo  Anata – Sankhara – Dukha ( A na ta – Săn kha ra – Đu kha ) … Tuyệt nhiên Đức Phật không hề truyền dạy phải xây dựng chùa to, tượng Phật lớn vốn là thói tánh cao ngạo của phàm phu c̣n nhiều ngă mạn dù trong vi tế. Nhưng với tâm từ bi, trong sạch, hướng thượng  muốn cho Phật tử có nơi khang trang để hội tụ thính pháp tu học th́ cũng không phải là điều xấu.  

 

Ngoài Tam Tạng Kinh chính thống do chính Đức Phật Lịch Sử có thật và có nhiều thánh tích để lại cho tới ngày nay. Giới Phật tử đang gặp phải vấn nạn và là tệ trạng v́ đă có quá nhiều Kinh là man thư, giả hiệu cũng gọi là “Tam Tạng Kinh Phật Đạo” do nhiều vị tiền nhân cư sĩ, tăng sĩ vốn cũng có thiện tâm trước tác với ư nghĩa giảng luận cho riêng từng dân tộc, dân vực khác nhau với nền tảng phong tục, tập quán khác nhau, ngữ pháp khác nhau… Song cốt hướng tới đạo giác ngộ và giải thoát làm mục đích tối hậu. Nhưng sau dần dần sai lạc và xa rời chân lư mà trở thành tính nặng lễ lộc, phương tiện thói tục đồng với tham sân si, vô học tánh cao thượng và trở thành tệ trạng xă hội có nhan nhăn trước mắt chúng ta như ở Việt Nam ngày nay. Đây cũng là thể hiện câu nói của những vị cổ đức đă cảnh giác cho hậu thế chúng ta: “ Ĺa Kinh thuyết là ma thuyết – Y Kinh thuyết là oan cho ba đời chư Phật” ! Tại các nước c̣n giữ được nhiều tinh hoa Pháp Bảo như : Tích Lan, Miến Điện, Nepal, Thailan … th́ vị Tăng sĩ nào Tu và Hành tinh thông Văn Pháp là giáo pháp và chứng quả giác ngộ tất cả ba Tạng : Kinh – Luật – Luận mới được xem là hạng Pháp Sư, tức tinh thông Tam Tạng  và bậc Tăng này xứng đáng là đệ tử thinh văn của Đạo Phật xứng đáng được thọ nhận sự cúng dường của Phật tử. Nhưng ở Việt Nam ngày nay th́ đám lưu manh, gian tà cạo đầu, mặc y Casa chỉ cần học thuộc một vài bài Kinh thật hay ngụy Kinh thư đi tụng các đám tang cũng gọi là “Pháp sư” thật là đại vô học, đại lưu manh đểu giả.  

 

Bọn ma Tăng này bày nhiều tṛ dị đoan, mê tín cho giới Phật tử có thiện tâm, ít hiểu biết Phật pháp nguyên thủy, biến những điều khuyến thiện trở thành tệ trạng xă hội như: bẫy bắt chim muông, thú vật rồi mua nhốt, thả ra phóng sinh rất là nhiễu hại làm hao tốn tiền bạc, của cải cho Phật tử là gây đau khổ chết chóc cho muôn thú … thật vô trí và xa rời Phật pháp vốn trí tuệ, thiện lành đem an lạc tới chúng sinh hữu t́nh.

 

 

Bọn ma Tăng lưu manh, ngông cuồng bày ra tṛ “An Vị Phật” và “Điểm Nhăn Phật” : Chúng bày biện lễ lộc, hoa quả, nhang đèn, đàn phướng đầy màu sắc sặc sở như phường hát, đội măo “pháp sư”, tăng bào kim tuyến, dát vàng, đi giày nâu, viết sớ thị cáo chư Phật, khua chiêng trống bát nhă phường chèo, hô hoán thị chúng, rên ư ử thần chú Dharani ( Đà ra ni) “namô hát ra ta bà rị dô rị ra bà lô thước đế  thước bát ra ma … nhất bái, nhị bái, tam bái…”, xong tay cầm miếng giấy vàng , vẽ họa phù rồi chu mơm thối thổi phù hơi văng cả nước bọt  vào đạo linh phù, rồi dán vào tượng phật để “an vị Phật”, là tên ma Tăng đă làm phép hô thần nhập tượng để đặt cho “ông” Phật được phép ngồi ở chổ này canh chùa cho chúng thu tóm tiền của cúng dường của hạng Phật tử ít học, mê tín … thiện tai, thiện tai và ngu thay !

 

Bọn ma Tăng c̣n bày thêm tṛ “Điểm Nhăn Phật”, sau khi làm lễ dán phù chú và đít tượng Phật để an vị cho ông ngồi yên trên bệ thờ xong, chúng tay cầm bát nước lă, tay cầm cành hoa hay nhánh cây dương liễu, mồm tru rống thần chú “ án lam án ma ni bát di hồng xóa ha… “ rồi hà hơi thổi văng nước bọt thối tha vào bát nước, xong tay cầm cành hoa nhúng vào nước  vung vẩy vào bản mặt tượng Phật để điểm nhăn, từ đây ông Phật đă được bọn ma Tăng ta khai mắt, mở nhăn và ông được mở con mắt ra mà nh́n thấy bọn ma Tăng lưu manh, đểu cáng  diễn tṛ mê tín thật là đại vô học khắp nước Việt ngày nay.

 

Bên Tàu như thế, Việt Nam cũng y như vậy… Tất cả là tai họa mà tiểu quốc Việt Nam lỡ phải ăn thứ ngụy Phật Giáo theo Hán Tạng, đă ăn sâu vào đời sống dân dă Việt ta hơn ngàn năm rồi khó gột rửa. Cốt tủy chân thật của Đạo Phật từ vị Phật Gautama Sakyamuni (Gô ta ma – Sakya muni ) Lịch Sử đă bị Hán hóa, cộng hưởng nền văn hóa Đạo Giáo và lề thói phong tục, tập quán của người Hán nhiều đời, đă gom thành mớ hỗn độn tả pín lù, có thứ hay, có loại dở trộn lẫn, rồi truyền thừa vào nước ta… Dân Việt chúng ta ăn nuốt vào mớ bă chưa tiêu hóa của người Hán Hoa Hạ mà thành nền “đạo Phật” quái đản nhất hành tinh này.  Thật ra trong nền tảng Đạo Học của Trung Hoa có rất nhiều điều hay để chúng ta kham học làm lợi ích như các bậc cổ đức, thánh nhân xưa đă vốn biết “cái biết” trí tri rất giới hạn mà Đạo th́ vô cùng … Nên chỉ mượn nửa lời ngôn từ chỉ bày cho kẻ hậu học như ẩn dụ chứ không ngu cuồng mà định nghĩa “cái” uyên nguyên nhốt vào hạn hẹp bày chuyện dối gạt người …! Nhưng  nửa lời tạm chỉ “cái” sở Dụng () của Đạo, lấy biểu tượng Âm - Dương , nhị nguyên cũng là nguyên lư đối đăi và từ sự biến hoá, chuyển động của Âm Dương mà phát sinh biến thiên vạn pháp, ứng vạn thù thế giới thiên h́nh vạn trạng… Đạo là thể vô h́nh, vô tướng, không sinh không diệt, nhưng hằng hữu và vạn vật tuần tự được hóa sinh ra, tác động với nhau, sinh trưởng, rồi tiêu tan để trở về trạng thái uyên nguyên bản thể vốn là gốc của Đạo. Đạo Giáo học chủ trương tu tánh thiên về Giác Ngộ, quay về với nội Tâm t́m sự thanh tĩnh để đạt Đạo và trên con đường tiệm tu, đi từ thấp đến cao, từ thô tới tinh vi tế, từ hữu vi đến vô vi; có mục tiêu tu hành cải lăo hoàn đồng, khang kiện, trường sinh tuổi thọ tức là chủ trương tu tạo nên một thân thể tráng kiện, dần dần tiến đến Thân - Tâm an lạc và cuối cùng khai mở Tuệ Giác và chung cuộc vẫn đi đến chỗ Thiên - Nhân hiệp nhất, huyền đồng cùng Trời Đất. Đạo danh từ Triết Học khởi nguồn từ Văn Hoá Phương Đông đă được biết trước khi bộ Đạo Đức Kinh - Lăo T xuất hiện, Đạo ban đầu có nghĩa là “Con Đường Chân Chính". Với  Lăo Tử, Đạo như là Nguyên Vận Hành trật tự, tuần hoàn xuyên suốt vạn vật… Theo kinh văn, Đạo là hiện thật uyên nguyên chi phối toàn thể cơi sắc giới và vô sắc giới … Do vậy không có chi là không ở trong Đạo ? Nhưng trong “cái “ đạo Phật tào lao do bọn ma Tăng ngự trị trong các ngôi chùa khang trang lớn nhỏ trong nước Việt Nam ngày nay chỉ là cơ sở đặc t́nh tôn giáo của đảng, hầu hết bọn Tăng chúng vốn là công an với nghiệp vụ an ninh tôn giáo, đặt dưới sự kiểm soát và quản lư của đảng và với tŕnh độ tu học Phật Pháp yếu kém, mặc dù đảng Cộng Sản Bắc Việt đă cho hơn 58 000 cán bộ du học Đạo Phật tại các nước Miến Điện, Thailan, Tích Lan… rồi trở về nước quản trị các chùa chiền từ hơn 3 thập niên qua. Nhưng không khá hơn. Thực chất là công cụ an ninh cho guồng máy cai trị của đảng Cộng Sản Bắc Việt.

 

 

Trịnh Khải Hoàng

California -  HOATỰDO

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính