30 Tháng Tư Năm 1975 : Ngày Đau Thương Của Cả Nước!

 

Trần -Tinh Bạch Thái Tường

 

 

Lịch sử nước Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử hơn 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước.

 

Mỗi giai đoạn biến đổi đều có một mốc thời gian nhất định để đất nước chuyển từ trạng huống này sang trạng huống khác, nói một cách rơ hơn là sự thay đổi của một chính thể hay một thể chế.

 

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 là một dấu mốc lịch sử, là một bước ngoặc đổi thay cả một thể chế 20 năm Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam. Kể từ đó, Cộng sản Việt nam tiến hành cưỡng đặt chế độ "Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa" trên địa bàn cả nước (sau này đổi thành "Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam", một danh xưng “mỹ miều” của chủ nghĩa Cộng sản).

 

Đi sâu hoặc phân tích để t́m hiểu cái hay , cái dở của từng chính thể hẳn phải đ̣i hỏi nhiều thời gian và tài liệu nghiên cứu.

 

Trong phạm vi của bài cảm nghĩ hôm nay, thử t́m hiểu xem ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày thế nào, hằn chứa những suy tư và ư nghĩa ǵ ?

 

Sau khi Tổng Thống (3 ngày) Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn thể Quân, Cán, Chính ngưng mọi sinh hoạt để sẵn sàng bàn giao nhiệm sở cho “cái gọi là” "lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam" (hay theo ngôn từ của ông Minh là “người anh em phía bên kia), th́ tâm trạng của toàn quân, toàn dân miền Nam Việt Nam đều ngỡ ngàng và uất nghẹn. Sự uất nghẹn và ngỡ ngàng đó thậm chí đă làm cho một số Tướng lănh, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ và Cảnh sát t́m cái chết oanh liệt của họ là tự sát hay cố chiến đấu đến gần hơi thở cuối cùng rồi quay súng tự kết liễu đời ḿnh!

 

Sau đó, rồi tới những chuỗi ngày tiếp nối, Sĩ quan các cấp (quân đội cũng như cảnh sát), các Hạ sĩ quan thuộc các "thành phần nguy hiểm" (theo đánh giá của Việt cộng lúc bấy giờ), các vị chỉ huy hành chánh , các cán binh Cộng sản chiêu hồi , các cảnh sát viên đặc biệt bị lùa vào các " trại tập trung cải tạo" bằng những thông cáo với ngôn từ mập mờ làm cho mọi người hiểu rằng "chỉ đi học tập cải tạo 10 ngày (đối với sĩ quan cấp úy trở xuống) và một tháng" (đối với sĩ quan cấp tá trở lên).

 

Về phần dân chúng th́ không an tâm, lúc nào cũng nơm nớp về các vụ đấu tố hay tịch biên gia sản. Nên không ai bảo ai, lũ lượt mang các đồ đạc, tiện nghi trong nhà đi bán.

 

Thế rồi việc ǵ đến đă đến.


Những người gọi là đi học tập cải tạo đă không phải là 10 ngày hay một tháng mà bằng những thời gian không hạn định rơ rệt. “Các anh cứ học tập tốt, lao động tốt, rồi sẽ được nhà nước khoan hồng cho trở về xum họp với gia đ́nh để xây dựng cuộc sống mới”. Đại để là ở trại tập trung nào, cán bộ quản giáo (bộ đội hay công an) cũng đều đưa ra những “khuyên nhủ” như vậy để vỗ về và trấn an.

 

Không có ǵ ngạc nhiên khi có một số anh em đă t́m cách trốn trại. Ai may mắn th́ thoát, người xấu xố th́ bị bắt lại hay bị bắn chết. Nguyên do chỉ v́ học tập mà không biết thế nào là tiến bộ, mà chỉ biết được rằng khi nào được gọi tên thả về đấy là lúc ḿnh đă học tập tiến bộ.( Điều này phù hợp với câu nói của một số cán bộ quản giáo : “Anh nào được nhà nước cho về tức là đă tiến bộ”.)

 

Thực tế th́ đă có một số được cho về sớm không phải v́ lư do “học tập tiến bộ” mà v́ họ là những chuyên viên kỹ thuật hay những chuyên viên các ngành mà "nhà nước cần sử dụng" cấp thời để làm việc hay huấn luyện cho các cán binh Cộng sản trong lúc nhu cầu cho các hoạt động cần thiết đ̣i hỏi.Một số khác về sớm là v́ có giây mơ giẫy má với “gia đ́nh cách mạng”, hoặc giả thuộc thành phần sức khoẻ quá nguy kịch (bệnh nặng, hay sắp chết) không tiện lưu giữ trong trại.

 

Phải thẳng thắn mà nói rằng những sĩ quan , các hạ sĩ quan, các công chức cao cấp cùng thành phần cảnh sát viên đặc biệt, cán binh chiêu hồi, đă bị cầm tù không tuyên án trong các trại tập trung dưới một mỹ từ “cải tạo” để che mắt nhân dân trong nước và dư luận thế giới.

 

C̣n về phần dân chúng và gia đ́nh các tù nhân (cải tạo) thuộc chế độ Việt Nam Cộng Ḥa th́ sao ? Nhà nước Cộng sản đă minh định: "các gia đ́nh giàu có là những thành phần tư sản mại bản, làm giàu trên xương máu của đồng bào". C̣n gia đ́nh của các tù nhân thuộc chế độ cũ là thành phần “ngồi mát ăn bát vàng”, phi lao động.

 

Do đó, họ (Cộng sản) đă trắng trợn tịch biên gia sản của những người giàu có đồng thời mở ra những buổi học tập ngắn hạn trong các phường, khóm lên lớp và tuyên truyền, thậm chí nếu cần cưỡng bức dân chúng thuộc các đối tượng nêu trên đi các vùng kinh tế mới với lư luận muốn giúp họ tạo dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn theo đạo đức “xă hội chủ nghĩa”. Sự thật quá tàn nhẫn và đau thương khôn xiết khi những gia đ́nh gọi là “tư sản mại bản” sau khi bị cướp đoạt của cải và nhà cửa đă phải lần lượt theo chân các gia đ́nh tù nhân "cải tạo" đi về các vùng đất hoang vu gọi là "vùng kinh tế mới” để cuốc đất trồng khoai... Một số không ít những thương gia trước kia, v́ quá uất ức, đă t́m cách quyên sinh để giải quyết nợ đời. Một số không nhỏ các gia đ́nh khác v́ không chịu được cảnh thiếu thốn quá cơ cực đă phải t́m cách trở về thành phố hay trôi dạt đến những vùng tương đối dễ kiếm sống hơn.

 

Chính sách “xây dựng các khu kinh tế mới” nh́n một cách khách quan giống như h́nh thức trả thù cho bơ ghét đối với một số “thành phần” nhất định của miền Nam Viêt Nam. Một vài chứng minh cụ thể (về sự trả thù) không chối căi được : đó là, ngay sau khi có mặt tại Sài g̣n, Cộng sản đă không ngần ngại xua đuổi các anh thương binh Quân lực Việt Nam Cộng ḥa ra khỏi các quân y viện, bệnh xá ngay lập tức dẫu rằng có thương binh vết thương c̣n đang rỉ máu chưa kịp được băng bó!

 

Rồi khi t́nh h́nh tạm ổn định, việc học được tiếp tục th́ các em thuộc thành phần “gia đ́nh ngụy quân ngụy quyền”th́ không được thu nhận vào các trường đại học. Ngay cả, việc xin vào làm việc ở các xí nghiệp, công sở cũng bị phân biệt đối sử.

Cộng sản đă áp dụng guồng máy cai trị kềm kẹp một cách hết sức chặt chẽ qua h́nh thức “tổ dân phố” dưới sự giám sát của tổ trưởng, tổ phó, công an khu vực. Nhân dân trong mỗi tổ dân phố người người đều có một suy nghĩ tự đề pḥng và cảnh giác , chỉ sợ nhỡ ra vô ư, sẽ bị có kẻ tố giác ḿnh thế này, thế nọ.

 

Sau này, qua sự biến đổi của t́nh h́nh thế giới, nhất là sau khi có sự tan ră của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu và sự sụp đổ của Đế quốc Liên sô ( cái nôi của chủ nghĩa cộng sản quái gở), t́nh h́nh chính trị ở Việt nam có phần nào thay đổi : dân t́nh dễ chịu hơn, các tù nhân cải tạo được lần lượt cho về xum họp với gia đ́nh và cùng xuất ngoại sang định cư tại Hoa Kỳ theo chương tŕnh HO (Humanitarian Organization Program) dựa trên sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Hoa kỳ và Cộng sản Việt nam.

 

Tuy đổi mới theo xu thế của thời đại, nhưng nhân dân Việt nam vẫn bị cai trị, kềm kẹp bởi một tập đoàn lănh đạo bảo thủ thiếu văn hoá. Bộ máy cai trị từ thượng tầng xuống đến cơ sở gồm đa số các cán bộ có “máu” hủ hoá, quan liêu, cửa quyền nhất nh́ Đông Nam Á. Chính những thành phần “sâu dân mọt nước” này đă là những thủ phạm tạo cho Việt nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó nhất với mức thu nhập b́nh quân của nhân dân vào hạng gần chót trên thế giới.

 

Việt nam ngày nay đă bị liệt kê là một quốc gia không có dân chủ và nhân quyền. Các tệ nạn tham ô nhũng lạm đă là quốc nạn trên địa bàn cả nước. Cờ bạc, đĩ điếm, x́ ke, ma tuư,(kể cả căn bệnh hiểm nghèo AIDS) lan tràn đều khắp từ thành thị xuống đến thôn quê, từ đồng bằng ngược lên miền cao, những thiếu nữ đă phải ngậm đắng nuốt cay liều thân chấp nhận trong các cuộc hôn nhân gượng ép với đàn ông Đài loan, Đại hàn bất kể không tương xứng về gia cảnh, tưổi tác miễn là có ít tiền giúp gia đ́nh trang trải những khó khăn cấp thời. Rồi những công nhân phải chạy đôn chạy đáo hay chấp nhận vay nợ cắt cổ để được xuất ngoại lao động cũng với mong mỏi giải quyết được những khó khăn vật chất của gia đ́nh.

 

Tập đoàn lănh đạo CS đă cố t́nh hay làm ngơ trước việc những phần da thịt của Tổ quốc Việt Nam bị xâm phạm và gậm nhấm dần. Hiện tượng khai thác Bâu-xít ở Cao nguyên Trung phần theo sự nhận dịnh và phân tích của các vị thức giả, của các khoa học gia là một h́nh thức xâm phạm chủ quyền Việt nam một cách dưới chiêu bài “hợp tác” kinh tế và phát triển khoa học. Dù rằng CSVN có bao biện cách nào đi chăng nữa nhưng nhân dân Việt nam và “những người bàng quang’ trên thế giới đều có một nhận định tương tự : Nước Việt nam đang bị xâm thực .

 

Nh́n vào hoàn cảnh cụ thể ở Trường sa, Hoàng sa, lănh hải vịnh Bắc bộ, những Nam quan, Bản giốc nơi biên giới Việt Trung, có phải da thịt Mẹ Việt Nam đang bị Phương Bắc gậm nhấm không ?

 

Dân tộc ta rơ bị một cổ hai tṛng : giặc ngoài th́ xâm lấn biển, đất, bên trong th́ bị “cường hào ác bá tân thời” cưỡng chiếm ruộng vườn mà khiếu kiệu bao năm cũng chẳng đi tới đâu.

 

Những tỉ phú đô la Việt nam, những thành phần lănh đạo CSVN từ 1975 đến nay hẳn biết rơ hơn ai hết về thực trạng của tổ quốc ḿnh.

 

Làm một việc so sánh cuộc sống của nhân dân miền Nam giữa hai chế độ : Việt Nam Cộng Ḥa trước 1975 và "Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam" sau 1975 th́ rơ ràng cuộc sống trước 1975 tự do, thoải mái hơn nhiều so với cuộc sống hiện tại.

 

Việt nam ngày nay, nếu chỉ nh́n vào những thay đổi và sinh hoạt nơi phố thị th́ sẽ không phủ nhận có nhiều thay đổi. Nhưng nếu nh́n dưới một lăng kính tổng thể, nghĩa là “đi sâu đi sát” vào quần chúng, phónh tầm nh́n vào những hang cùng ngơ hẻm “vùng xôi đậu” của thành thị, tỉnh lỵ hay xa hơn nữa nơi các làng mạc xă ấp vùng ngoại ô, vùng đồng bằng , chốn cao nguyên hay những nơi xa chốn đô hội th́ người trung thực sẽ khách quan đánh giá : sự phồn vinh hiện hữu chỉ là giả tạo giữa hai bức tranh tương phản “thành thị và thôn quê”. Cái sự thay da đổi thịt nơi chốn phồn hoa

 

không khác ǵ một thiếu nữ cố trau truốt nhan sắc để thu hút nhăn quan của tha nhân.

 

Những xa hoa, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đang diễn ra ở thành phố, thị trấn chỉ có thể hiểu được là phát xuất từ những kẻ giàu tiền lắm bạc, của những doanh gia, của những thế lực cầm quyền, của những con ông cháu cha, của những người tiêu xài vô tội vạ do đô la đổ về từ thân nhân sống tha hương nơi xứ người, chứ không phải từ đại đa số quần chúng nghèo khó sống bữa nay lo bữa mai.

 

Mọi người dân Việt nam, ở hải ngoại cũng như trong nước, ngoại trừ một số ít vinh thân ph́ gia, gió chiều nào theo chiều đó ( không cần biết ư nghĩa của các chữ Tổ Quốc và Dân Tộc là ǵ ), thảy đều mong muốn một nước Việt nam có TỰ DO, DÂN CHỦ thực sự, được lănh đạo bởi những người biết v́ dân, v́ nước, biết tôn trọng nhân quyền, một ḷng một dạ đưa dân tộc đến ấm no, hạnh phúc như dân tộc của các nước tiên tiến trên thế giới.

 

Chính v́ thế, mà người dân vẫn không quên:

 

30 THÁNG TƯ NĂM 1975 LÀ NGÀY ĐAU THƯƠNG CỦA CẢ NƯỚC.

 

 

Trần -Tinh Bạch Thái Tường

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo