Chiến tranh Iran: Tàu được ǵ và mất ǵ?

 

Trần Lư

 

 

Cuộc tấn công của Mỹ-Israel ngày 28 tháng 2, vào Iran đă nhanh chóng biến đổi cuộc chiến thành một tranh chấp rộng lớn toàn khu vực Trung Đông và một cơn lốc về năng lượng toàn cầu. Mỹ- Israel tấn công nhiều mục tiêu trên toàn lănh thổ Iran; để trả đũa Iran đă phóng phi đạn và drones vào các Căn cứ quân sự Mỹ, và vào các Quốc gia đă để cho Mỹ lập căn cứ; Iran cũng tấn công cả các hải cảng và đánh phá các tàu dầu đang cập bến Oman. Iran cũng đe dọa sẽ tấn công bất kỳ thương thuyền chuyển vận dầu thô hay hàng hóa đi qua Eo biển Hormuz mà không xin phép họ. Hiện tuyến hàng hải qua Eo Hormuz trên thực tế, đang tạm bị đóng?

   

Ngoài những trở ngại tức thời, các hệ lụy gây ra cho Tàu sẽ được biểu lộ trong những tháng sắp tới...

   

Một số Tỉnh và một số Phân ngành (subsectors) sản xuất công nghiệp của Tàu đă cho thấy các hậu quả, do Tàu phải tùy thuộc vào Trung Đông, như một nguồn cung cấp dầu thô, sản phẩm hóa dầu và LNG.

 

 

1- Tương quan giữa Tàu và các Quốc gia vùng Vịnh

   

Các nhà nhập cảng Tàu tùy thuộc rất nhiều vào các quốc gia Vùng Vịnh về dầu thô và các sản phẩm hóa dầu:

  • Khoảng ½ dầu thô Tàu cần dùng, đến từ Vùng Vịnh cùng với 1/3 số lượng LNG

  • Về mặt chính thức, Tàu không nhập dầu thô (trực tiếp) từ Iran

 

 

  • Biểu đồ trên cho thấy vùng Trung Đông cung cấp 50% tổng lượng dầu thô nhập cảng của Tàu: nhiều nhất là 17% từ Saudi Arabia, Iraq 11%, Oman 9%, Kuwait 8%, UAE 6% và Qatar 2%...

  • Về phần LNG: Qatar cung cấp 27% số lượng LNG nhập cảng của Tàu, và LNG không có ảnh hưởng quan trọng cho công nghiệp sản xuất của Tàu...

   

Các giới hạn và trục trặc về Dầu thô tạo những bất ổn cho công nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng của Tàu. Về phương diện quốc gia, việc thiếu dầu thô tạm thời, chưa phải là vấn đề quan ngại v́ Tàu c̣n có kho dữ trữ có thể đem ra sử dụng (trong 3-4 tháng); tuy nhiên thiếu dầu thô đă tạo ra một số ‘trục trặc’ không đồng đều cho các địa phương và các ngành sản xuất cần sử dụng đến năng lượng: 

  • Các cơ sở lọc dầu ‘độc lập’ tại Shandong bị ảnh hưởng nặng nhất. Tỉnh này nhập cảng dầu thô từ Trung Đông nhiều nhất, và cũng mua ‘chui’ nhiều dầu thô Iran với giá được giảm! Ngay khi bị mất nguồn dầu Venezuela, Shandong đă phải t́m nguồn dầu thô tạm thời từ Nga, (tuy phải chịu thiệt về giá và sự tranh mua của Ấn Độ (cũng càn dầu thô Nga). Các công ty độc lập từ Shandong trước đây, dựa vào dầu thô Iran giá rẻ, để giảm được giá thành của các sản phẩm, cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa...

  • Các sản phẩm hóa dầu của Tàu như của Công ty Zongshen, tùy thuộc hoàn toàn vào dầu thô của Saudi Arabia. Công ty Sinopec có hợp đồng đối tác với Saudi Aramco, cơ sở tại Phúc Kiến (Fujian) cũng đang gặp trở ngại khi Iran đóng Eo biển Hormuz...

  • Các ngành sản xuất hóa chất của Tàu đang gặp nhiều khó khăn do thiếu dầu thô, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nhỏ tại các tỉnh Zhejiang, Jiangsu và Quangdong…

  • Các ngành công nghiệp khác, kể cả thủy tinh và đồ gốm đều bị khủng hoảng do giá dầu thô tăng và nguồn cung cấp bị hạn chế. Ngành chế tạo thiết bị sắt thép, vật dụng xây dựng nhờ vẫn dùng năng lượng do than đá cung cấp, nên ít bị ảnh hưởng hơn. Các ngành này tuy không bị ảnh hưởng trực tiếp nhưng vẫn bị ảnh hưởng do ngưng trệ toàn cầu, giảm mua các sản phẩm do Tài sản xuất...

 

Sản phẩm từ Dầu hỏa

 

2- Tàu ‘im lặng’ trong cuộc chiến Iran?

     

Ngày 28 tháng 2, 2026: Thế giới khởi đầu kỷ nguyên”Luật Kẻ mạnh’ (law of the Jungle), Iran bị tấn công, tuy cũng có trả đũa, nhưng khó có hy vọng chống đỡ được lâu dài...

 

 Iran trông chờ vào sự trợ giúp của các Đồng Minh quan trọng nhất như Nga và Tàu. Nga đang bị trói chân tại Ukraine, chỉ c̣n có Tàu là có khả năng bênh vực Iran...Nhưng 2 ngày sau đó, Tàu đă đưa ra câu trả lời:

   

Bộ trưởng Ngoại giao Tàu, tuyên bố trong một cuộc họp báo thường lệ:  Việc giao thương của Tàu tại Trung đông vẫn tiếp diễn như b́nh thường (không xem Iran, đang là một đối tác chiến lược, đang bị tấn công).

   

Trước sự phản đối dữ dội của Truyền thông Iran, lên án thái độ im lặng của Tàu, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Tàu, mới ‘miễn cưỡng’ phản đối cuộc tấn công của Mỹ-Israel...

   

Những ngày sau đó, Tàu mới lên tiếng mạnh hơn với lời tuyên bố của Bộ trưởng Wang Yi:

 

“Might does not make right”, cảnh báo là cuộc tấn công đă chứng minh Luật rừng đang được áp dụng...‘the world has regressed to the law of jungle”

   

Tuy dùng các lời lẽ ‘cứng rắn’ nhưng Wang Yi lại tránh nêu đích danh Hoa Kỳ và Israel là hai quốc gia có trách nhiệm gây chiến, và xa hơn nữa là Tàu không giúp Iran bằng hành động mà chỉ giúp bằng lời nói suông!

   

Để chứng tỏ sự quan tâm, Tàu đă liên lạc với nhiều quốc gia Trung Đông và gửi một đặc sứ, làm một cuộc viếng thăm ngoại giao quanh vùng? một hành động thăm ḍ ư định của các quốc gia lân bang có thể sẽ tham gia và mở rộng cuộc chiến. Tàu không biểu lộ một hành động ‘đối đầu’ trực tiếp với Mỹ (kẻ gây chiến) và cũng không ‘trực tiếp’ gửi vũ khí Tàu đến giúp Iran!

   

Thái độ ‘im lặng’ của Tàu tiếp diễn, một cách khó hiểu, kể cả khi Iran tuyên bố phong tỏa Eo Hormuz và muốn ‘quốc tế hóa’ trận chiến với Mỹ-Israel. (Eo Hormuz là con đường hải vận đến 40% dầu thô cần cho công nghiệp Tàu)

   

Đứng trước một nguy cơ ảnh hưởng đến kinh tế của ḿnh, Tàu chỉ lên tiếng kêu gọi các phe lâm chiến ‘tự chế’, ngưng các tranh chấp và ngồi vào bàn thương thảo và tôn trọng các đường hải vận quốc tế.

   

Tàu cho thấy một thái độ rơ rệt: Iran không thật sự quan trọng với Tàu?

 

 

3- “Trung lập’ có tính toán (Calculated neutrality) 

                                           (Tạp chí The Diplomat – 03-2-26)

   

Thái độ của Tàu về Eo Hormuz phản ảnh cho khuynh hướng cố hữu của Chính sách ngoại giao Tàu: Trung lập có tính toán’

   

Các tuyên bố chính thức của Tàu, luôn nhấn mạnh đến việc làm giảm bớt căng thẳng, đối thoại đa phương. Tàu muốn trở thành một quốc gia có trách nhiệm toàn cầu, gịữ trật tự và ổn định trên thế giới. Vị thế này khiến Tàu giữ được ‘cánh cửa... c̣n mở’ để tiếp xúc được với các quốc gia  đang liên quan đến cuộc chiến như Iran, Saudi Arabia, UAE và cả với Israel, mà ‘không’ bị kéo vào cái ‘mớ ḅng bong’.

   

Tuy nhiên, ’Trung lập’ kiểu này (của Tàu) có thể, không phải là một chính sách ngoại giao mà là một chiến lược ‘ngư ông đắc lợi’:  “Tối thiểu hóa các nguy cơ, và kết hợp với hưởng lợi  tối đa  “.

 

Tàu giữ thái độ:

  • Không hưởng ứng lời kêu gọi của Mỹ để gia nhập vào lực lượng bảo vệ ‘an ninh hải lộ’...

  • Không đưa ra ư kiến riêng... liên quan đến việc khai thông Hormuz.

  • Không có ư định đưa HQ Tàu vào khu vực tranh chấp, tuy Tàu có một lực lượng HQ đáng kể và cũng hưởng lợi nhiều nhất khi Eo Hormuz được hoạt động lại b́nh thường!

     

Vị thế của Tàu, trên thực tế đă giúp Tàu; loại ra ngoài (“externalize’) các chi phí cao về an ninh’ trong khi vẫn giữ lại cho ḿnh (‘internalizing) lợi tức do ổn định. Trong khi đó Mỹ và các đồng minh vẫn phải chịu các gánh nặng trong việc giữ cho các hải lộ ‘mở’ cho vận chuyển, dù Tàu là nước hưởng lợi nhiều nhất về kinh tế. (TT Trump rất thực tế, khi không để HQ Hoa Kỳ ‘dính dáng’ vào việc hộ tống các thương thuyền và tuyên bố đơn giản’: Các quốc gia có nhu cầu nên tự lo... nếu cần th́ Mỹ sẽ... giúp thêm?).

     

Cách ‘tính toán của Tàu, không phải là ‘trung lập’ thật sự mà là ‘trung lập ‘không cân bằng (asymmetrical’).

   

Chiến lược của Tàu, áp dụng vào sự kiện trên, đă tạo ra những ‘nghi ngại’:

 

Chiến lược phong tỏa không hoàn toàn Eo Hormuz của Iran, tạo một t́nh thé ngăn ‘đường’ cản lối có lựa chọn, kiểu đ̣i tiền ‘măi lộ’ (gray zone tactics)!

        (Mỹ... không can thiệp v́ tàu chuyển vận của Mỹ... không cần qua Hormuz)                                                              

         

Tàu có ‘liên lạc’ phía sau, để chở được hàng qua Hormuz!

 

Tàu buộc phải liên quan đến Eo Hormuz v́ Tàu hoàn toàn tùy thuộc về năng lượng (energy dependence), và phần lớn dầu thô cần thiết buộc phải được chở từ Trung đông về Tàu qua Eo Hormuz, Dầu thô Trung Đông là ‘huyết mạch của Kinh tế Tàu (khác với Mỹ, không cần đến dầu Trung Đông do tự chủ về nhiên liệu. Chính sách Energy Independence, của Mỹ, thay đổi từ 2012, nhờ kỹ thuật fracking)

   

Chính sách ‘tùy thuộc’ vào năng lượng của Vùng Vịnh, đă không mang lại được sự ổn định cho kinh tế Tàu, khi Tàu đă lợi dụng sự bất ổn trong khu vực, như một cơ hội để khai thác kiếm lời trong việc giao thương với Iran: Khi Tây phương ‘trừng phạt, cấm vận’ và cô lập hóa Iran, th́ Tàu đă nhanh chóng trở thành quốc gia mua dầu của Iran, ép Iran giảm giá dầu; sau đó dùng các phương thức mua bán ’mờ ám’, qua nhiều ngơ ngách khác nhau...

     

Cách giao thương kiếm lợi nhuận của Tàu tạo những mâu thuẫn;

  • Tàu có lợi khi Iran bị giới hạn, buộc phải tùy thuộc hơn vào Tàu để có thể giao thương với bên ngoài và khi cần các nguồn vốn đầu tư.

  • Nhưng Iran lại muốn dùng Eo Hormuz như một chiến lược tạo áp lực kinh tế và quân sự trong cuộc chiến... Áp lực này gây những hiểm họa cho các nguồn dầu thô khác từ các quốc gia Arab mà Tàu mua tại vùng Vịnh!

   

Bắc Kinh có vẻ như đặt ‘cá cược’ vào một thái độ chấp nhận t́nh thế Iran chỉ tạm thời thu hẹp ‘kiểm soát’ nhưng chưa leo tháng đến mức đóng cửa hoàn toàn Eo Hormuz.

 

Tính toán này của Tàu khá bấp bênh v́ khó biết trước được các diễn tiên sắp xảy ra (trên thực tế là do Mỹ quyết định!)

   

Việc Tàu mua dầu thô Iran bằng giá rẻ, tạo h́nh ảnh không mấy đẹp; cho cách buôn bán kiểu bắt chẹt của Tàu; gây ra một nguy hại: tạo ra sự nghi ngờ về các chiến lược đầu tư của Tàu tại các quốc gia thứ Ba. Tàu trở thành một ‘tác nhân cần phải xét lại’. Khi Tàu giao thương với các chế độ’ bị tẩy chay, cách buôn bán của Tàu có thể thay đổi theo quyền lợi kinh tế của riêng ḿnh...?

 

 

4- Giữ cân bằng nhưng không nhận trách nhiệm?

     

Chiến lược ‘mở rộng’ ảnh hưởng của Tàu tại Vùng Trung đông, được các Nhà phân tích chính trị mô tả như một mô h́nh cân bằng chiến lược (model of strategic balance)

 

  • Giữ những liên kết chặt chẽ về năng lượng với các quốc gia trong GCC (Gulf Cooperation Council);

  • Gia tăng liên hệ đối tác với Iran...

  • Vẫn giữ các cộng tác kinh tế và kỹ thuật với Israel...

 

Cách tiếp cận ‘đa phương thức’ (multi-vector) này, giúp cho Bắc Kinh gia tăng ảnh hưởng vào khu vực, mà không bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp?

   

Cuộc khủng hoảng Hormuz, mặt khác, lại cho thấy sự mỏng manh của hành động giữ cân bằng kiểu Tàu này. Quyền lợi của Tàu vối các đối tác trong vùng, không chỉ đa chiều mà cỏn đối nghịch (divergent and antagonistic). 

  • Thái độ quyết liệt của Iran về Hormuz đe dọa trực tiếp đến các quan ngại về an ninh của các quốc gia Vùng Vịnh...

  • Các căng thẳng mổ rộng tại Khu vực, gây phức tạp hơn cho các liên hệ giữa Tàu với Israel và Phương Tây...

   

Trong bối cảnh hiện tại, Tàu áp dụng chiến thuật:’ giữ cân bằng nhưng không nhận ‘trọng trách’; 

 

  • Giữ các mối liên lạc với cả hai phe đang trong cuộc tranh chấp, nhưng không ‘cam kết và không can thiệp ǵ đến nhu cầu an ninh của các quốc gia liên hệ. Chiến thuật này tạm thời hữu hiệu trong những giai đoạn mà t́nh h́nh được tương đối ổn định, nhưng trở thành bấp bênh khi t́nh h́nh đổi sang khủng hoảng Các quốc gia trong khu vực đ̣i hỏi Tàu cần có một thái độ rơ rệt, đặc biệt là khi Tàu, đang ở vị thế của một cường quốc có ảnh hưởng kinh tế gia tăng mạnh trong khu vực...

   

Các tham vọng về kinh tế của Tàu qua Con đường ‘tơ lụa’ trên biển (Maritime Silk Road), gắn liền với sự ổn định của Eo biển Hormuz. Eo biển không chỉ là con đường trung chuyển (transit) mà c̣n là một mắt xích tối cần thiết kết nối các đường giao thương trong viễn kiến thương mại toàn cầu của Tàu, Các ngăn trở tại eo Hormuz, do đó, tạo ra một chuỗi phản ứng dây chuyền cho sư ổn định của Belt and Road Initiative

 

Mầu cam: Hành lang... kinh tế One Road-one belt

Màu đỏ: Đường tơ lụa trên biển

 

Đây là một hậu quả tất yếu của Chính sách kiếm lời, dựa vào một trật tự kinh tế ổn định trong khu vực, nhưng không đóng góp vào việc tạo dựng ra một cơ cấu an ninh khả thi.

   

Khoảng cách giữa tham vọng và trách nhiệm của Tàu đối với Trung Đông đă không thể che dấu được và cũng không thể biện minh (justify) được!

 

 

4- Giới hạn của thái độ nhập nhằng và mơ hồ?

   

Phương thức giữ thái độ ‘nhập nhằng’ của Tàu qua:

  • Thận trọng về ngoại giao...

  • Lợi dụng, khai thác tối đa những cơ hội kinh tế...

  • Tham gia tối thiểu vào các cam kết về an ninh trong khu vực

đă giúp Tàu luồn lách được trong các rối rắm phức tạp giữa các quốc gia trong khu vực, mà không phải  chịu một ‘chi phí’ nào đáng kể.

   

Nhưng thái độ này đang phải trả giá khi Tàu càng ngày càng phải tùy thuộc vào các nguồn năng lượng từ bên ngoài và càng ngày càng chịu ảnh hưởng bởi các thay đổi về địa chính trị.

   

Đặt giả thuyết là: “Các quốc gia đang đóng góp vào việc bảo vệ an ninh trong khu vực, sẽ phải tiếp tục đóng góp vô thời hạn, để bảo vệ cho chính quyền lợi của họ”.

 

Giả thuyết này trở thành không tưởng khi ở vào thời đại của những tranh đua giữa các Siêu cường, cùng một lúc với sự vỡ thành từng mảnh của khu vực, do ảnh hưởng của địa chính trị...

  • Sự kiện Tàu tỏ ra miễn cưỡng để giữ một vai tṛ cần tích cực hơn trong an ninh toàn cầu, khiến Tàu bị mất tin tưởng, để có thể được đánh giá như một Siêu cường, có khả năng định hướng được một trật tự toàn cầu...?

   

Có một số dấu hiệu sơ khởi cho thấy Bắc Kinh đang đánh giá lại ‘thế’ cân bằng (mô tả trên). Tàu đang mở rộng sự hiện diện của Hải quân trong Vùng Ấn độ dương; đầu tư vào xây dựng, thuê dài hạn các hải cảng có thể cùng dùng cho dân dụng và quân sự (dual-used); gia tăng các cam kết an ninh với một vài đối tác khu vực, theo kiểu xoay trục, với các tham gia giới hạn và có chọn lựa.

     

Các cố gắng này vẫn c̣n thận trọng và tăng dần theo từng giai đoạn, phản ánh cho thái độ của Tàu, tránh các đối đầu trực tiếp với Mỹ (?).

   

Cách thức tiếp cận thận trọng, tuy có thể hiểu được, lại được nhiều nhà quan sát xem là chưa đủ. Cuộc khủng hoảng Hormuz đă dẫn đến một tương lai trong đó các cường quốc kinh tế không thể tự ḿnh ‘bảo vệ’ an toàn được các quyền lợi chiến lược của riêng ḿnh... khi không có thiện chí tham dự vào các vấn đề an ninh toàn cầu và khi tránh né các đóng góp chung.

 

Tàu đă tự đặt ḿnh vào các t́nh thế riêng, mà các trục trặc khi xảy ra, sẽ khó tự giải quyết ổn thỏa...

   

 

5- Oil diplomacy: một chính sách ‘ngoại giao’ mới

   

Các biến động trong việc cung cấp Dầu thô Trung đông cho các quốc gia Á châu khiến Tàu đang tự quảng cáo cho một h́nh ảnh ‘cứu tinh’ cho các quốc gia Á châu đang khát dầu. Cung cấp ‘dầu thô’ tạm ứng đang là một kế hoạch ‘địa chính trị của Tàu.

   

Mặc dầu đang là một quốc gia nhập cảng dầu thô nhiều nhất thế giới, nhưng Tàu đang muốn ‘chuyển đổi’ thành vai tṛ của một quốc gia cung cấp (?) theo nhu càn chính trị!

 

Từ tháng Tư, theo SinoInsider, Tàu đă tự đặt ḿnh vào vị trí ‘nhà cung cấp’ nên đổi hướng (‘swing’) cho nhu cầu năng lượng trong vùng Đông Nam Á, Tàu có khả năng điều chỉnh được thị trường trong vùng, và tạo ảnh hưởng cung ứng nhiên liệu.

     

Tàu là một quốc gia lọc và chế biến dầu thô, quan trọng trên thế giới, năm 2025 đă xuất cảng 34.7 tỷ USD về các sản phẩm tinh luyện cho các nước Đông Nam Á.

   

Tàu đă đáp ứng được nhu cầu khẩn cấu tạo ra do Chiến tranh Iran, nhờ đă tích trữ sớm được một số lượng dầu thô chiến lược, tăng 15.8% trong năm 2026,  với khoảng 1.2 đến 1.3 tỷ thùng, đủ dùng cho nhu cầu nội địa, khi nguồn cung cấp bị ngưng trệ trong thời gian dài.

   

Ngay đầu tháng Ba, Tàu đă công bố lệnh cấm xuất cảng nhiên liệu, giới hạn vào xăng, diesel và nhiên liệu phản lực. Lệnh cấm xuất cảng sau đó được đổi thành ‘cung cấp theo lựa chọn’

   

Theo Bloomberg: trong tháng Ba, Tàu đă giao cho Philippines 260 ngàn thùng diesel như một giúp đỡ khẩn cấp. Lượng diesel này được chở đến Phi bằng 2 tàu dầu Dung Heng 36 và Auchentoshan.

   

(Philippines nhập cảng 98% nhu cầu dầu thô từ Trung Đông, Khi chiến tranh Iran xảy ra, Phi đă phải công bố t́nh trạng khẩn cấp về năng lượng: nhân viên chính phủ, công nhân làm việc 4 ngày trong tuần, giá xăng và diesel tăng gấp đôi và xăng bị đặt dưới chế độ phân phối, kiểm soát, lưu thông và chuyên chở hàng hóa ngưng trệ trên toàn quốc.

      

Việt Nam nhận được 100 ngàn thùng dầu thô đă chưng cất, chở đến bằng tàu dầu Great Ocean (VN đă phải tạm ngưng thu thuế ‘trị giá gia tăng-TVA’ đánh trên xăng, diesel và nhiên liệu phản lực; Các hăng hàng không cắt giảm các chuyến bay do thiếu nhiên liệu cho phi cơ)

                                                                                         

 

Trần Lư

4-2026.

 

Nguồn: https://bienxua.wordpress.com/2026/04/09/chien-tranh-iran-tau-duoc-gi-va-mat-gi-tran-ly/

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính