Năm con Ngựa, tản mạn vài chuyện Ngựa

 

Trần Hữu Vinh

 

 

 

CON NGỰA SẮT CỦA PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

 

Ở nước ta, vào đời vua Hùng vương thứ 6, tại làng Phù dổng, huyện Vơ giàng, tỉnh Bắc ninh, có đôi vợ chồng nọ sinh hạ được một bé trai kháu khỉnh, khiến cha mẹ đúa bé rất vui mừng và hết ḷng nuôi nấng để mong ngày sau nối dơi tông đường. Nhưng rồi sự vui mừng đó giảm dần đi để nhường chỗ cho sự lo âu, phiền muộn, v́ không hiểu sao đứa bé suốt ngày chỉ nằm yên một chỗ, không cử động la khóc ǵ cả, măi đến năm ba tuổi mà vẫn chưa biết nói và đi được bước nào. Cha mẹ bé đă đi cầu đảo nhiều nơi nhưng vẫn không hiệu quả.

 

Giữa lúc đó th́ có tin giặc Ân đă tràn vào xâm lấn bờ cơi, thanh thế rất mạnh, đi tới đâu tàn sát dân lành tới đó, quan quân triều đ́nh không chống cự nổi. Tin cấp báo bay về đến kinh sư, nhà vua rất lấy làm lo lắng, vội sai sứ giả đi rao truyền khắp nước để t́m người tài giỏi ra dẹp giặc. Khi sứ giả đi đến làng Phù đổng th́ bỗng nhiên cậu bé nói trên ngồi nhổm dậy và cất tiếng nhờ cha mẹ đi mời sứ giả vào nói chuyện. Cha mẹ cậu bé lấy làm kinh ngạc, tưởng chừng như đang sống trong giấc chiêm bao. Nhưng với thực trạng rơ ràng trước mắt, cha mẹ cậu bé đi từ kinh ngạc đến vui mừng và cuối cùng, theo lời cậu bé, đi t́m sứ giả đến cho cậu ta tiếp kiến. Cậu bé nói với sứ giả về tâu vua cho đúc một con ngựa và một cây roi bằng sắt thật to lớn để cậu dùng đi đánh giặc. Sứ giả về tâu lại, nhà vua lấy làm lạ bèn cho đ̣i cậu bé vào chầu, sau đó cũng cho đúc ngựa và roi như lời xin của cậu bé. Khi đúc xong, toán thợ rèn đem ngựa đến, cậu bé vỗ vào đầu ngựa một cái, lập tức con ngựa đó nát ra từng mănh vụn. Lần thứ nh́ cũng thế. Đến lần thứ ba, triều đ́nh trưng tập cả ngàn thợ rèn, thu gom hết sắt trong dân chúng, đúc một con ngựa và một cây roi cực lớn rồi h́ hục khiêng đến sân chầu. Cậu bé trông thấy rất bằng ḷng, lập tức vươn vai một cái, tự nhiên con người trở nên cao lớn hơn một trượng, đoạn từ biệt nhà vua, cha mẹ và mọi người rồi nhảy phóc lên ḿnh ngựa, ra roi phi nước đại, không mấy chốc đă tới trận địa của giặc Ân. Cậu bé - mà lúc nầy đă trở thành một con người to lớn - thúc ngựa vào trận giặc, tới đâu ngựa phun lửa ra tới đó, c̣n cậu th́ vung roi đánh tới tấp, bọn giặc ngả lăn ra chết, nằm ngổn ngang như rạ. Bỗng chiếc roi bị gảy, cậu liền vói tay nhổ cả một bụi tre làm vũ khí, tiếp tục tấn công quân giặc. Không bao lâu, toàn bộ quân giặc bị tiêu diệt sạch, nhưng rồi ngay sau đó, người con trai Phù đỗng cũng phóng ngựa đi luôn, đến núi Sóc sơn th́ cả người lẫn ngựa đều bay thẳng lên trời, từ đó về sau không c̣n ai trông thấy nữa. Vua nhớ ơn, sai lập đền thờ ở làng Phù đỗng và phong tước là Phù đổng Thiên vương. Hằng năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng Tư, dân chúng trong vùng mở hội linh đ́nh để tưởng nhớ vị anh hùng đă có công cứu nước. Ngoài ra, dân gian c̣n có thành ngữ ỏVươn vai Phù đổngơ để chỉ một sự lớn mạnh phi thường, như cậu bé làng Phù đổng chỉ trong nháy mắt đă trở thành một con người vĩ đại.

 

 

NGƯẠ ĐÁ HAI PHEN PH̉ XĂ TẮC

 

Theo lối kiến trúc cuả nước ta ngày xưa th́ mỗi khi xây dựng đền đài, lăng miếu để thờ các vị vua chúa hay các bậc vĩ nhân trong lịch sử, người ta thường tạc h́nh các ngưạ voi băng đá đặt trước sân chầu, có lẽ để cho các vị nói trên sai khiến như lúc c̣n sinh tiền vậy. Chiêu lăng, nơi thờ các vị vua nhà Trần ở Long hưng, chính là một trong những nơi như thế.

 

Sử chép rằng vào thế kỷ thứ 13, dưới triều đại nhà Trần, nước ta đă ba lần bị quân Mông cổ sang xâm chiếm, nhưng cả ba lần chúng đều thảm bại, phải từ bỏ mộng thôn tính nước ta như chúng đă thôn tính nhà Tống bên Tàu và nhiều nước khác. Để làm nổi bật chiến công hiển hách cuả quân dân ta dưới đời nhà Trần, thiết tưởng cũng nên biết qua về sự hùng mạnh của quân Mông cổ. Nguyên người Mông cổ thuộc giống rợ Đạt đát, ở về phía tây bắc tỉnh Hắc long giang bên Tàu. Đó là một giống người hung bạo, hiếu chiến, có tài cưỡi ngựa bắn cung và xông pha trận mạc. Truyền đến Thiết mộc Chân th́ đă rất cường thịnh, ông ta bèn đại hội các bộ lạc và lên ngôi Đại hăn (như Hoàng đế), lấy hiệu là Thành cát tư hăn (Gengis Khan - 1206). Đến đời các Đại hăn A hoạt đài, Mông kha, Hốt tất liệt... th́ vó ngựa của quân Mông cổ đă tung hoành khắp nơi trên hoàn vũ. Họ đă diệt nước Kim, b́nh nước Tống, đoạt Tây bá lợi á, vào Nga la tư, tiến thẳng đến bờ sông Danube; một đạo quân khác từ Ba lan tiến đánh thành Venise cuả Ư, khiến các nước Âu châu rúng động, gọi quân Mông cổ là hoàng họa (cái họa da vàng), hoặc cây gậy cuả Thượng đế. Cũng may là v́ trong nước có biến, quân Mông cổ phải rút về nên các nước Âu châu mới thoát nạn. Nhưng cũng chính đạo quân hùng mạnh đó, ba lần sang chinh phục nước ta th́ đều bị đánh tan không c̣n manh giáp. Lần thứ nhất (1257), tướng Mông cổ là Ngột -lương -hợp- thai, từ Vân nam theo đường sông Thao giang xuống đến tận Thăng long, vua tôi nhà Trần phải tạm thời triệt thoái để rồi sau đó phản công ở Đông bộ đầu, khiến quân Mông cổ phải chạy thất điên bát đảo. Lần thứ hai (1284), tướng Mông cổ là Thái tử Thoát Hoan thống lănh 50 vạn quân, dùng kế “dĩ đồ diệt Quắc” (mượn đường nước Ngu mà đi đánh nước Quắc), giả tiếng mượn đường nước ta đi đánh Chiêm thành, nhưng kỳ thực là để thôn tính nước ta. Bị triều đ́nh ta cự tuyệt, quân Mông cổ bèn tràn sang, thế như vũ băo. Quân ta phải tạm thời rút lui rồi sau đó đánh tan quân địch ở các trận Hàm tử, Chương dương, Tây kết v.v.. khiến Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho quân sĩ kéo chạy về Tàu. Lần thứ ba (1287). cũng lại chính Thoát Hoan quyết tâm sang đánh báo thù, mượn tiếng đưa Trần ích Tắc về làm An nam quốc vương, nhưng cũng như hai lần trước, lần nầy quân Mông cổ cũng bị quân dân ta đánh bại ở sông Bạch đằng, các tướng Ô mă Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc v.v..bị bắt, Thoát Hoan phải nḥ bọn Trịnh bằng Phi, Áo lỗ Xích ...hộ vệ mới chạy thoát được về bên kia biên giới.

 

Khi đă quét sạch quân Nguyên ra ngoài bờ cơi, vua tôi nhà Trần bèn đem bọn tướng giặc bị bắt vào làm lễ hiến phù ở Chiêu lăng. Nhân thấy các ngựa đá ở trước lăng, con nào chân cẳng cũng lấm đầy bùn đất, vua Trần Nhân tôn cho rằng nhờ khí thiêng sông núi nên đến ngựa đá cũng ra trận và góp phần đánh thắng quân thù, do đó Ngài xúc cảm làm hai câu thơ chữ Hán:

Xă tắc lưỡng hồi lao thạch mă

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

(Ngựa đá hai phen pḥ xă tắc

Âu vàng muôn thuở giữ sơn hà)

 

(Ghi chú : Quân Mông cổ ba lần sang xâm chiếm nước ta, nhưng lần đầu có tính cách thăm ḍ. Hai lần sau mới thực sự ác liệt nên vua Trần Nhân tôn mới nói là “Ngựa đá hai phen pḥ xă tắc...”).

 

 

Chuyện ông già ở cửa ải mất ngựa (tái ông thất mă)

 

Theo sách Hoài nam tử cuả Lưu An  đời Hán (trong Hán văn tinh túy cuả Lăng Nhân) th́ có một ông già ở cửa ải, một hôm bị mất một con ngựa qúy. Mọi người chung quanh đến hỏi thăm và chia buồn cùng ông, nhưng ông nói: “Biết đâu đó chẳng phải là cái may cho tôi?” (Thử hà cự bất vi phúc hồ?). Được vài tháng, con ngựa đó trở về, lại dắt thêm về một con ngựa Hồ rất tốt. Mọi người đến chúc mừng, nhưng ông lăo lại nói: “Biết đâu đó chẳng phải là cái rủi của tôi?” (Thử hà cự bất năng vi hoạ hồ?). Sau đó không lâu, người con trai ông lăo cưỡi con ngựa mới, bị nó lồng lên, hất cậu ta té xuống đất, gảy cả hai chân. Mọi người chung quanh đều đến chia buồn, nhưng ông lăo lại nói: “Biết đâu đó chẳng phải là cái may cho gia đ́nh tôi?” (Thử hà cự bất vi phúc hồ?) Một năm sau, có giặc Hồ tràn vào cửa ải, hầu hết trai tráng trong vùng đều chết v́ giặc giă, riêng người con ông lăo v́ cớ gảy chân nên c̣n sống sót, cha con đều được an toàn. Rồi Lưu An kết luận :ơơXem thế th́ trong cái rủi có cái may, trong cái may có cái rủi, sự biến hoá không biết đâu là cùng và lẽ sâu xa không thể lường trước đượcơơ (cố phúc chi vi họa, họa chi vi phúc, hóa bất khả cực, thâm bất khả trắc dă).

 

C̣n nhớ cách đây mấy năm, sau khi đến Mỹ, kẻ viết bài nầy có đi học một lơp Anh ngữ buổi tối dành cho người lớn tuổi, gặp cô giáo cho học một bài có nhan đề “We never know what will happen in life” (Chúng ta không bao giờ biết được điều ǵ sẽ xảy ra trong đời), nội dung y hệt như bài Tái ông thất mă trên đây, khiến tôi nghĩ rằng có lẽ người Anh (hay người Mỹ) dịch bài đó ra cho người bản xứ đọc để hiểu rơ cái lẽ họa phúc trên đời vậy.

 

 

Ngựa kư kéo xe muối (kư phục diêm xa)

 

Trong các loài ngựa, có ngựa kỳ và ngựa kư được gọi là thiên lư mă, v́ mỗi ngày chúng có thể chạy được hàng ngh́n dặm. Có một người họ Tôn tên Dương, tự là Bá Nhạc, sống dưới đời Tần Mục công, rất có tài xem tướng ngựa. Một hôm ông đi qua vùng Ngu bản, gặp một con ngựa kư già bị người ta bắt kéo một xe muối lên núi Thái hàng. Móng nó duỗi ra, đầu gối nó khuỵu lại, mồ hôi rỏ xuống đầm đ́a. Giữa dốc nó thụt lùi, ráng đội càng xe lên nhưng không lên được nữa. Bá Nhạc trông thấy, xuống xe, ôm đầu nó mà khóc, cởi áo mà phủ cho nó. Nó cúi đầu xuống mà ph́ hơi, ngưỡng cổ lên mà hí, tiếng hí động tới trời như tiếng kim tiếng thạch. V́ sao nó phản ứng như vậy? V́ nó biết Bá Nhạc là ngươi thông cảm cho t́nh cảnh của nó.

 

Đời nhà Đường, văn hào Hàn Dũ có bài Thiên lư mă, đại ư như sau: Đời có Bá Nhạc rồi sau mới có thiên lư mă. Thiên lư mă thường có mà Bá Nhạc chẳng thường có. (V́ không có Bá Nhạc) cho nên dù là danh mă th́ cũng chỉ bị nhục nơi tay kẻ tôi tớ, chết nơi xó chuồng máng cỏ mà thôi, chẳng bao giờ được nổi danh thiên lư. Ngựa mà đi được hàng ngh́n dặm, mỗi lần ăn thường hết một thạch thóc. Người nuôi nó không biết cái hay thiên lư của nó nên không cho nó ăn đầy đủ, do đó tài nghề giỏi dắn không xuất hiện ra được, dẫu muốn cùng ngựa thường so sánh c̣n chẳng được thay, làm sao cầu cái hay ngh́n dặm cuả nó? Quất nó chẳng đúng phép, nuôi nó chẳng hợp với tài cuả nó, bắt nó hí mà không hiểu được ư cuả nó rồi than phiền rằng: “Thiên hạ không có ngựa” (Thiên hạ vô mă dă). Than ôi! Kỳ thật không có ngựa ư? Kỳ thật là không biết ngựa vậy!(Ô hô! Kỳ chân vô mă da? Kỳ chân bất tri mă dă!). Đời sau có thành ngử “Kư phục diêm xa” (Ngựa Kư kéo xe muối), ám chỉ những ngươi có tài năng mà không được ai biết tới hoặc không được dùng đúng chỗ.

 

 

CHỈ HƯƠU NÓI NGỰA

 

Theo sách Sử kư cuả Tư mă Thiên (bản dịch cuả Nguyễn hiến Lê) th́ sau khi Tần Thủy hoàng chết rồi, Thừa tướng Lư Tư và hoạn quan Triệu Cao giả chiếu buộc Thái tử Phù Tô phải tự sát rồi lập con thứ là Hồ Hợi lên thay, lấy hiệu là Tần Nhị thế. Sau đó Triệu Cao t́m cách hăm hại Lư Tư để được lên làm Thưà tướng. Lúc nầy thế lực nhà Tần đă vô cùng suy yếu, bên ngoài th́ lực lượng chư hầu đă làm chủ t́nh h́nh mà trong triều th́ Triệu Cao chuyên hoạnh, không coi Tần Nhị thế ra ǵ. Y đă nuôi dă tâm làm phản, nhưng c̣n e ngại sự chống đối cuả quần thần nên t́m cách thăm ḍ thái độ cuả họ. Một hôm y hội họp các quan rồi dâng cho Nhị thế một con hươu, nhưng bảo đó là con ngựa. Nhị Thế cười nói: “Thừa tướng lầm đấy chứ! Sao lại gọi con hươu là con ngựa?” Rồi Nhị Thế hỏi các quan, nhiều người im lặng, nhưng cũng có người nói là ngựa để vừa ḷng Triệu Cao, trong khi một số ít nói đó là con hươu. Triệu Cao bèn chú ư những người nói hươu để rồi t́m cách hăm hại. Từ đó ai nấy đều sợ Cao, đến nỗi y giết Tần Nhị thế và lập Tử Anh lên thay, tức là Tần Tam thế. Nhưng rồi y lại bị Tử Anh đâm chết ỏ trai cung trước khi ông nầy ra đầu hàng Lưu Bang và Hạng Vơ. Cơ nghiệp nhà Tần đến đây là hoàn toàn chấm dứt.

 

Khi vua Thủy Hoàng nhà Tần thống nhất Trung quốc, lên ngôi hoàng đế, đă tin tưởng rằng ông sẽ truyền ngôi cho đến vạn đời nên  lấy hiệu là Thủy hoàng (vị hoàng đế đầu tiên), đời con sẽ là Nhị thế, đời cháu là Tam thế và măi măi cho đến Vạn Vạn thế. Nhưng không ngờ chỉ trong ṿng 15 năm th́ sự nghiệp tan thành mây khói. Sở dĩ như vậy là v́ ông ta đă thi hành một chính sách cai trị độc tài tàn bạo, đốt hết sách vở cuả thánh hiền, chôn sống hàng ngàn nho sĩ và áp dụng nhiều h́nh thức đàn áp nhân dân trong nước. Đời nhà Hán, Giă Nghị có làm bài Quá Tần luận, phê b́nh chính sách nhà Tần một cách nghiêm khắc và xác đáng. Đến đời nhà Đường, thi hào Đỗ Mục có bài phú về cung A pḥng rất nổi tiếng (cung nầy do Tần Thủy hoàng xây dựng nên), trong đó có đoạn kết đáng làm bài học cho đời sau: “Ô hô! Diệt lục quốc giả, lục quốc dă, phi Tần dă. Tộc Tần giả, Tần dă, phi thiên hạ dă. Ta hồ! sử lục quốc các ái kỳ nhân tắc túc dĩ cự Tần; Tần phục ái lục quốc chi nhân tắc khả chí vạn thế nhi vi quân, thùy đắc nhi tộc Tần dă. Tần nhân bất hạ tự ai nhi hậu nhân ai chi; hậu nhân ai chi nhi bất giám chi, diệc sử hậu nhân nhi phục ai hậu nhân dă” (Than ôi! kẻ diệt sáu nước chính là sáu nước chứ không phải nhà Tần. Kẻ diệt cả họ nhà Tần chính là nhà Tần chứ không phải là thiên hạ. Ôi! nếu người sáu nước biết đoàn kết thương yêu nhau th́ đủ sức chống cự nhà Tần (ư nói v́ người sáu nước chia rẻ nhau nên bị nhà Tần tiêu diệt). Nếu nhà Tần biết yêu thương dân sáu nước th́ có thể truyền ngôi đến vạn đời chứ ai diệt nhà Tần cho nổi? Người Tần không rănh để tự thương cho ḿnh mà để đời sau thương giùm cho họ. Người sau thương giùm cho họ mà không biết lấy đó làm gương th́ lại khiến đời sau nữa thương cho đời sau đó vậy). Than ôi! Nếu các nhà làm chính trị đời nay mà rút được bài học đó th́ có thể khỏi bị thân bại danh liệt, nhân dân nguyền rũa và để tiếng xấu cho đời sau.

 

 

“B̉ KHÔNG THỂ ĐẺ RA NGỰA”

 

Vua Hoàn công nước Tề, một hôm đi săn, đuổi một con hươu chạy vào trong cái hang có một ông già đang ở. Vua hỏi hang nầy tên là hang ǵ, ông lăo nói:

-  Tên là hang Ngu công.

-  V́ sao mà đặt tên như thế?

- Tại kẻ hạ thần nầy mới có cái tên ấy.

-  Coi h́nh dáng lăo cũng không phải là người ngu, tại sao đặt tên cái hang như thế?

-  Để hạ thần xin nói: “Nguyên hạ thần có nuôi một con ḅ cái, đẻ được một ḅ con. Khi ḅ con đă lớn, hạ thần đem đi bán, lấy tiền mua một con ngựa đem về nuôi chung với ḅ cái trong cùng một chuồng. Một hôm có một chàng thanh niên đến, lấy lư rắng ḅ không thể đẻ ra được ngựa nên bắt ngang con ngựa đem đi. Thần cô thế không căi lại được, đành phải chịu mất con ngựa, do đó mọi người đều cho thần là ngu và đặt tên cái hang nầy là hang Ngu công.”

 

Hôm sau, trong buổi chầu, Hoàn công đem câu chuyện nói trên kể lại với quan Tướng quốc là Quản Trọng, tức Quản di Ngô. Ông nầy nói: “Đó chính là cái ngu cuả Di Ngô nầy chứ không phải cuả ông Ngu công nào cả. Thần làm Tướng quốc mà không giúp được ǵ cho Chúa công trong việc sửa sang phép nước, đến nỗi có người dám ngỗ ngược lấy không ngựa cuả người ta như vậy th́ rơ ràng h́nh pháp ngày nay không ra ǵ. Vậy xin nhà vua kíp chỉnh đốn kỷ cương để cho người dân thấp cổ bé miệng như ông Ngu công nầy khỏi bị người ta ức hiếp...”

 

Nhà học giả Nguyễn văn Ngọc, trong sách Cổ học tinh hoa, khi đề cập đến chuyện nầy đă b́nh luận như sau:

 

“Ông lăo cam tâm mất ngựa, lại chịu mang cái tiếng là “ngu” v́ trong ư lăo nghĩ rằng gặp thời buổi người trên tham nhũng, kẻ dưới hung bạo, thà để êm chuyện đi c̣n hơn dở khôn đi kiện, chẳng những mất ngựa mà có khi mất cả ḅ và bao nhiêu tiền bạc, th́ giờ vào đấy nữa. Quản Trọng nghe chuyện mà biết nhận ngay cái lỗi cuả ḿnh, thế là có tinh thần trách nhiệm, không đổ lỗi cho người khác...”.

 

Nh́n lại thế giới ngày nay, có nhiều nơi như Việt Nam (CS)c̣n tồn tại rất nhiều tệ nạn bất công, tham nhũng, cướp giật, băng đảng, mạnh đuợc yếu thua, khôn sống mống chết, khủng khiếp gấp trăm ngàn lần so với chuyện cướp ngựa nói trên, nhưng ít có ai đủ can đảm nhận trách nhiệm về ḿnh mà chỉ đổ cho hoàn cảnh, môi trường, hoặc cấp trên đổ cho cấp dưới, ngành nọ đổ cho ngành kia, nhiều lúc những người có lỗi lại được thăng quan tiến chức, so với Quản Trọng ngày xưa thật khác nhau một trời một vực.

 

 

BỘ XƯƠNG NGỰA GIÁ 500 NÉN VÀNG

 

Đời Chiến quốc, vua Chiêu vương nước Yên muốn báo thù nước Tề, v́ các đời vua trước từng bị nước Tề đánh bại. Một hôm nhà vua nói với quan Tướng quốc là Quách Ngỗi rằng:

-  Mối nhục cuả tiên vương, ngày đêm ta vẫn hằng ghi nhớ. Nếu bây gị có được người hiền trợ giúp cùng mưu việc đánh Tề th́ ta sẽ hết ḷng trọng dụng. Vậy tiên sinh hăy v́ ta mà t́m xem ai là người hiền để ta mời về cộng tác.

 

Quách Ngỗi nói:

-   Ngày xưa có một vị vua sai một viên quan đem ngh́n nén vàng đi t́m mua một con thiên lư mă, giữa đường gặp một con ngựa chết mà có một số đông người xúm lại tỏ ḷng thương tiếc. Viên quan bèn dừng xe, hỏi thăm duyên cớ th́ người ta trả lời rằng đó là một con thiên lư mă, mỗi ngày có thể đi được hàng ngh́n dặm, nay tự nhiên nó chết nên mọi người đều thương tiếc. Viên quan nghe nói bèn bỏ ra 500 nén vàng, mua lấy bộ xương gói lại đem về. Vua tức giận bảo rằng đó là bộ xương ngựa chết, c̣n dùng được việc ǵ mà bỏ nhiều tiền ra mua như vậy? Viên quan nói: “Thần sở dĩ mua bộ xương đó là v́ muốn chứng minh rằng ngựa chết mà c̣n được Chúa công quư trọng đến mức đó, huống ǵ ngựa sống? Thần tin chắc rằng  nay mai sẽ có nhiều người đem ngựa quư đến bán cho Chuá công...” Quả nhiên chỉ một thời gian sau vị vua nọ đă mua được ba con thiên lư mă. Nay Chuá công muốn cầu hiền sĩ trong thiên hạ th́ truớc hết hăy dùng Ngỗi tôi, coi như một bộ xương ngựa chết. Mọi người thấy một kẻ bất tài như Ngỗi tôi mà c̣n được trọng dụng th́ những kẻ có tài hơn tôi gấp bội, sẽ t́m đến mà phục vụ cho Chúa công, như vậy Chuá công sẽ không c̣n lo thiếu hiền sĩ nữa.

 

Vua Chiêu vương nghe lời, bèn trọng dụng Quách Ngỗi hơn trước, xây lâu đài tráng lệ cho ở, cung phụng như bậc thầy. Từ đó tiếng tăm trọng hiền cuả nhà vua đồn đăi khắp nơi, khiến Trâu Diễn ở Tề sang, Tô Đại ở Chu lại, Kịch Tân ở Triệu đến v.v.., tất cả đều được vua Chiêu vương trọng dụng và nhờ thế, nước Yên đă có một thời cường thịnh.

 

Qua câu chuyện trên đây, ta thấy Quách Ngỗi đă t́m được một ví dụ rất hay để tự tiến ḿnh, và vua Chiêu vương cũng biết nghe lời nói phải để làm cho nước nhà giàu mạnh.

 

 

MỘT CON NGỰA BỊ CHẾT OAN

 

Đời vua Cảnh công nước Tề, đất nước bị ngoại xâm đe dọa mà trong triều th́ không c̣n tướng giỏi, nhà vua lấy làm lo lắng, bèn hỏi  quan Tướng quốc là Án Anh th́ ông nầy tiến cử một  người tên là Điền nhương Thư, rất có tài thao lược nhưng c̣n  ẩn thân nơi thôn dă. Nhà vua liền triệu đến, nghe họ Điền giảng giải về binh pháp, rất lấy làm vừa ư bèn phong ngay cho làm chức Đại Nguyên soái, cầm quân ra biên thùy chống giặc. Điền nhương Thư tâu:

-  Hạ thần xuất thân trong đám b́nh dân, chưa có tên tuổi ǵ, nay Chúa công cho giữ binh quyền e ḷng người không phục. Vậy xin Chúa công cử cho một vị đại thần có danh vọng làm chức Giám quân th́ hiệu lệnh của hạ thần mới thi hành được.

 

Tề Cảnh công y tấu, bèn sai quan Đại phu là Trang Giả đi làm Giám quân. Khi bải triều, Trang Giả hỏi Điền nhương Thư bao giờ th́ xuất quân? Điền nhương Thư hẹn đúng ngọ ngày mai th́ tề tựu tại giáo trương để điểm duyệt quân mă rồi sẽ lên đường. Ngày hôm sau, Điền nhương Thư đến giáo trường, cho dựng một cây nêu để đo bóng mặt trời (v́ ngày xưa chưa có đồng hồ) rồi ngồi chờ Trang Giả. Trong khi đó th́ Trang Giả cậy ḿnh là cận thần cuả nhà vua, coi thường Điền nhương Thư nên ở nhà dự tiệc tiển hành do bạn bè khoản đăi, đến chiều mới ngất ngưởng tới nơi. Điền nhương Thư nghiêm sắc mặt hỏi:

-  Ngài đă hẹn với tôi đúng ngọ hôm nay đến giáo trường để điểm duyệt quân mă, sao bây giờ mới đến?

-  V́ biết tôi sắp đi xa nên có một số bạn đồng liêu bày tiệc khoản đải, tôi uống hơi quá chén nên đến trễ, xin Nguyên soái miễn chấp. Điền nhương Thư nổi giận nói:

- Phàm đạo làm tướng, trong ngày chịu mệnh vua th́ phải quên nhà ḿnh; khi đă tuyên bá hiệu lệnh cho quân sĩ th́ phải quên cha mẹ ḿnh; khi cầm dùi trống xông pha tên đạn th́ phải quên cả thân ḿnh. Nay nước nhà đang có giặc, Chúa công ăn ngủ không yên, đem việc lớn phó thác cho chúng ta, như vậy c̣n ḷng dạ nào mà ăn uống say sưa nữa? Nói xong, quay qua hỏi quan chấp pháp:

- Theo quân pháp, khi có lệnh tập hợp quân sĩ mà đi đến trể th́ xử như thế nào?

- Bẩm, xử chém.

 

Điền nhương Thư liền thét quân sĩ bắt Trang Giả trói lại và điệu ra ngoài viên môn xử trảm. Người hầu cuả Trang Giả thấy vậy bèn chạy tuốt về triều phi báo. Vua Tề Cảnh công nghe báo giật ḿnh, vội rút một cây lịnh tiễn trao cho quan Đại phu là Lương khâu Cứ, bảo phải đi gấp ra giáo trường truyền lệnh cho quan Nguyên soái tha tội chết cho Trang Giả. Khâu Cứ cậy ḿnh là sũng thần cuả nhà vua, tới viên môn không thèm xuống ngựa, cứ sồng sộc chạy vào. Điền nhương Thư truyền quân ngăn lại rồi hỏi quan chấp pháp:

- Vào viên môn mà không xuống ngựa th́ xử thế nào?

- Bẩm, xử chém.

 

Lương khâu Cứ nghe nói hồn phi phách tán, vội đưa lệnh tiễn cuả vua ra và nói rằng v́ có mệnh vua sai đi gấp nên quên xuống ngựa, mong quan Nguyên soái tha thứ. Nhương Thư thấy có lệnh vua nên tha tội chết cho sứ giả, nhưng truyền quân chém đầu con ngựa để nghiêm quân pháp. Thế là con ngựa bị chết oan v́ sự hống hách, kiêu căng của những người có quyền cao chức trọng. Đầu đời nhà Hán cũng có một trường hợp tương tự, khi Hàn Tín được đăng đàn bái tướng, Lịch Sanh vào viên môn không xuống ngựa nên cũng bị xử phạt như trên. Nh́n lại thế giới ngày nay. trừ những nước có chế độ dân chủ pháp trị vững chắc mà đến một ông Tổng thống có tật hảo ngọt cũng bị đưa ra luận tội, c̣n những chế độ độc tài toàn trị th́ đều có cái dù che cái cán, những người làm lớn dù phạm tội tầy trời cũng b́nh chân như vại.

 

 

CON NGỰA THÀNH TROY (TROJAN HORSE)

 

Theo thần thoại Hy lạp th́ vào đời thượng cổ, ở về mạn bắc Tiểu-á-tế-á có thành Troy là một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, từng được thi hào Homère ca ngợi trong tập anh hùng ca Iliade. Người Hy lạp muốn chiếm cho bằng được thành Troy, nên đă phát động một cuộc chiến tranh kéo dài trong 10 năm nhưng vẫn không chiếm được. Cuối cùng, tướng Odysseus cuả Hy lạp bèn nghĩ ra một kế là chế ra một con ngựa bằng gỗ thực to lớn, cho quân sĩ nấp vào trong ruột rỗng cuả con ngựa rồi đẩy tới trước cổng thành. Sau đó quân Hy lạp kéo trở về, làm ra vẻ như muốn bỏ tham vọng chiếm thành từng theo đuổi lâu nay. Từ trong thành, quân Troy trông thấy vội mở cửa kéo ra, đoạt lấy con ngựa kéo vào thành. Đến tối, quân Hy lạp từ trong bụng ngựa tuông ra, cùng với quân mai phục ở ngoài tràn vào đánh phá và chiếm được ngôi thành. Từ đó điển tích con ngựa thành Troy được dùng để chỉ những âm mưu qũy quyệt nhưng được che đậy bằng những h́nh thức tốt đẹp bên ngoài.

 

 

NGỰA TRONG THÀNH, ĐIỂN TÍCH.

 

Ngựa Hồ chim Việt: Ngày xưa, ở mạn nam nước Tàu có nước Việt (không phải nước Việt nam ta ngày nay), sinh sản một loài chim mà dù bay đến xứ nào cũng chỉ chọn cành cây phiá Nam mà làm tổ (v́ nước Việt ở về phương nam). Trong khi đó, về phía bắc sông Hoàng hà có nước Hồ, sinh sản một loài ngựa mà mỗi khi nghe gió thổi từ phương Bắc th́ cất tiếng hí vang (v́ nước Hồ ở về phương bắc), từ đó phát sinh thành ngữ Việt điểu sào nam chi, Hồ mă tê bắc phong. Thành ngữ nầy dùng để chỉ tấm ḷng tưởng nhó quê hương xứ sở, như cụ Phan bội Châu có biệt hiệu là Sào Nam, hoặc có người lấy hiệu là Nam Chi v.v.., đều nằm trong ư nghĩa đó.

 

Da ngựa bọc thây: Do câu của Mă Viện nói với vua Quang Vũ nhà Hậu Hán: “Đại trượng phu nên chết ở chiến trường, lấy da ngựa bọc thây chứ lẽ đâu lại chết trên tay đàn bà..”. Câu nầy nói về chí khí làm trai là nên xông pha nơi trận mạc chứ chẳng nên ru rú ở xó nhà. Trong bản Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán, ông Đặng trần Côn có dẫn điển tích nầy trong mấy câu:

Trượng phu thiên lư chí mă cách

Thái sơn nhất trịch khinh hồng mao

Bà Đoàn thị Điểm diễn nôm:

Chí làm trai dặm ngh́n da ngựa,

Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao...

 

Bám đuôi ngựa kư: Có những con vật tự nó không đi xa được, nhưng nếu nó bám  đưọc vào đuôi con ngựa kư th́  cũng có thể đi được hàng ngh́n dặm (ngựa kư đi tới đâu th́ nó cũng đi được tới đó). Câu nầy nói về một người nào đó nhờ sự giới thiệu, tiến cử cuả một nhân vật có danh vọng, uy tín nên đựợc mọi người biết đến và làm nên sự nghiệp, bằng không th́ cũng bị mai một mà thôi. Điển nầy rút từ việc thầy Nhan Hồi nhờ theo học đức Khổng tử và được Ngài khen là người hiền nên trở thành nổi tiếng. Đời sau có câu phụ kư vĩ nhi hành ích hiển (Bám đuôi ngựa kư mà công hành càng tỏ rơ). Ngoài ra, chữ phụ kư  c̣n có nghĩa là kết bạn với người giỏi.

 

Thẳng ruột ngựa: Trong cơ thể con ngựa, đoạn ruột nối liền với dạ dày hơi thẳng, ít quanh co như những con vật khác, do đó có thành ngữ nầy để chỉ những người bộc trực, có sao nói vậy, ít cong queo lắt léo, nói chung là người tốt, không có ác tâm. Ngựa quen đường cũ: Ám chỉ những người có khuyết điểm ǵ đó mà không chịu sửa chữa, vẫn chứng nào tật nấy như con ngựa cứ theo đường cũ mà đi, không chịu theo đường khác. Ngựa non háu đá: Chỉ những người c̣n trẻ tuổi mà tự cao tự đại, háo thắng, ưa chống đối người nầy người khác như những con ngựa c̣n non, gặp đâu đá đó. Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ: Câu nầy mượn chuyện ngựa để nói về tinh thần tương thân tương ái giữa con người với nhau. Khi một con ngựa bị đau, những con khác trong chuồng (tàu) đều nhịn ăn để chia xẽ sự đau buồn cuả nó, tương tự như câu thố tử hồ bi (thỏ chết cáo thương). Loài vật c̣n đưọc thế, huống ǵ con người? Do đó thật không thể hiểu được vụ khủng bố ngày 11.9.2001. Ngưu tầm ngưu,mă tầm mă: Có nghĩa là trâu t́m trâu, ngựa t́m ngựa, ám chỉ người tốt thường giao du với người tốt, người xấu giao du với ngươi xấu, tương tự như câu Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu..

 

Trong tiếng Pháp có những thành ngữ: Brider son cheval par la queue:

Buộc cương ngựa ở đuôi, chỉ một việc làm trái khoáy. Changer son cheval borgne contre un aveugle: Đổi ngựa chột lấy ngựa mù, đổi cái xấu lấy cái xấu hơn. Cheval dans la main: Ngựa dễ bảo, ngựa thuần. Travailler comme un cheval: Làm việc hùng hục, làm việc như trâu ngựa.

 

Trong tiếng Anh, từ điển có ghi một số thành ngữ như sau: To change horses while crossing the stream: Thay ngựa giữa ǵ̣ng. To put the cart before the horse: Đặt cái xe trước con ngựa, ví như ta nói đặt cái cày trước con trâu. To flog a dead horse: Quất vào con ngựa chết, chỉ một việc làm phí công vô ích. To back the wrong horse: Đánh cá con ngựa thua, tức ủng hộ phe thua v.v...

 

o0o

 

Trên đây là vài câu chuyện tản mạn về con ngựa. Kể ra th́ c̣n nhiều chuyện nữa như phép bảo mă của Vương an Thạch, thuật đua ngựa cuả Tôn Tẫn và Điền Kỵ, trâu gỗ ngựa máy (mộc ngưu lưu mă) cuả Khổng Minh, ngựa Ô chuy cuả Hạng Vơ, ngựa Đích lư cuả Lưu Bị, ngựa Xích thố cuả Quan Công v.v… nhưng v́ bài viết hơi dài nên người viết xin tạm ngừng nơi đây và nhân dịp đầu năm con ngựa, xin kính chúc qúy đồng hương một năm mới mă đáo thành công, kỳ khai đắc thắng.

 

Đầu năm 2014

Trần Hữu Vĩnh

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính