Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 

- Phần 4 -

 

Trần Đông Phong

 

 

TỪ DINH ĐỘC LẬP, SÀI G̉N

 

Trong thời gian Tướng Kulikov đang viếng thăm Hà Nội và cam kết Liên Xô sẽ gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt, ngày 6 tháng 12 năm 1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă triệu tập một cuộc họp với các cấp lănh đạo quân sự của Việt Nam Cộng Ḥa tại Dinh Độc Lập nhằm ước đoán về những cuộc tấn công của cộng sản Bắc Việt tại Miền Nam vào mùa khô năm 1975. Trong phiên họp này, các nhà lănh đạo quân sự Miền Nam đă ước tính rằng cộng sản Bắc Việt sẽ mở những cuộc tấn công trong Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long và miền Cao nguyên Trung Phần, tuy nhiên sẽ không có tầm mức đại quy mô như các cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân hồi năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

 

Hội nghị quân sự này cũng ước tính rằng các lực lượng quân sự của cộng sản vẫn c̣n trong t́nh trạng yếu kém và chưa đủ khả năng để tấn công và chiếm giữ bất cứ một Tỉnh hay Thành Phố lớn nào tại Miền Nam Việt Nam. Trong vùng chung quanh Thủ Đô Sài G̣n, hội nghị này cho rằng cộng sản sẽ mở các cuộc tấn công vào phía Tây Tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt-Miên, vào khoảng thời gian trước hay là sau Tết tức là vào đầu tháng 2 năm 1975 và sẽ tiếp diễn cho đến khi mùa mưa bắt đầu vào khoảng tháng 6 năm đó. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng đă đi đến quyết định là sẽ không gia tăng pḥng thủ vùng phía Tây Quân Khu II và bắt đầu thiết lập một lực lượng trừ bị chiến lược để pḥng thủ vùng ṿng đai Sài G̣n.

 

Trong cuốn sách The Final Collapse được xuất bản vào năm 1983 Đại Tướng Cao Văn Viên, cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1975, đă cho biết về phiên họp này như sau:

“chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa chấm dứt năm 1974 với một thẩm định về t́nh h́nh quân sự. Một buổi họp cấp cao diễn ra vào ngày 6 tháng 12 năm 1974 dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Thiệu, gồm có Tư Lệnh và các sĩ quan cao cấp của 4 Vùng Chiến Thuật và nhân viên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Buổi bọp kết luận rằng năm 1975 là năm cộng sản sẽ tấn công Miền Nam để phá hoại cuộc bầu cử (Tổng Thống) của Việt Nam Cộng Ḥa trong năm 1975 và gây tiếng vang trong cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ vào năm 1976. Cán cân quân sự đang nghiêng về phía cộng sản. Họ đă tích lũy được một số dự trữ đủ để duy tŕ liên tục một cuộc tổng tấn công quy mô trong 18 tháng như cường Độcuộc tổng tấn công năm 1972.

 

H́nh thức của cuộc tấn công mới sẽ là kết hợp giữa lối tấn công năm 1968 và 1972 của cộng sản: Đánh vào thành thị và cắt đứt các thông lộ huyết mạch. Chúng ta đă dự liệu cộng sản sẽ tấn công vào các Thành Phố Sài G̣n, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ. Cộng sản Bắc Việt tin tưởng nếu các Thành Phố lớn bị chiếm các Thành Phố nhỏ không cần đánh cũng đầu hàng. Vào những ngày cuối năm 1974 chúng ta có tin cộng sản Bắc Việt chuẩn bị xâm nhập những sư đoàn tổng trừ bị 316, 312, 341 và 308 vào Nam.

 

Ước lượng của ta là cộng sản sẽ tấn công Vùng II để cầm chân và làm tiêu bao lực lượng Tổng Trừ Bị của chúng ta trước khi các cuộc tấn công vào Vùng I và III. Vùng IV chỉ là nơi cộng sản đánh nhử với các cuộc tấn công lẻ tẻ và đóng chốt trên các tuyến lưu thông. Mục tiêu chính của cuộc tổng tấn công là cộng sản muốn thấy Việt Nam Cộng Ḥa tạo ra một Hội Đồng Ḥa Hợp Ḥa Giải Dân Tộc và sau đó là chính phủ liên hiệp. Tháng 3 năm 1975 theo dự đoán của chúng ta, sẽ là tháng bắt đầu cuộc tổng tấn công của cộng sản. Trong phần chú thích, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên nói thêm rằng “đây là một ước tính t́nh h́nh địch rất chính xác do Pḥng 2 Bộ Tổng Tham Mưu đạt được. Từ sự ước tính này, Bộ Tổng Tham Mưu đă có những biện pháp đối phó, nhưng v́ tương quan lực lượng hai bên nghiêng về phía cộng sản, chúng ta không đủ quân để đạt được kết quả mong muốn”. Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Ḥa, trang 96-97.

 

Gián điệp cộng sản Tại Dinh Độc Lập

 

Tuy nhiên, một điều mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như các nhà lănh đạo quân sự của Việt Nam Cộng Ḥa lúc đó không hề hay biết là có một điệp viên của cộng sản Bắc Việt hoặc là đă có mặt trong pḥng họp, hoặc là đă đọc được biên bản của phiên họp này. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1975, một bản phúc tŕnh đầy đủ về phiên họp, về các sự thảo luận cũng như là các quyết định của các giới lănh đạo quân sự Miền Nam đă được chuyển đến tận tay giới lănh đạo Bắc Việt cùng với Tướng Văn tiến Dũng.

 

Theo nhà báo Oliver Todd, “CIA của Mỹ ở Sài G̣n tin rằng trong số những người thân cận của Tổng Thống Thiệu, có một gián điệp cao cấp của Hà Nội. Người đó là ai? Trung Tướng Đặng Văn Quang? Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo? Hay là một người nào khác” Oliver Todd: Cruel Avril: 1975, La Chute de Saigon, éditions Robert Laffont, Paris 1987. Trang 51: “CIA est convaincue que. parmi les proches de Thieu, un agent renseigne Hanoi. Qui? Quang? Hao, ou un au tre?”

 

Oliver Todd không phải là nhà báo ngoại quốc duy nhất nói đến người “gián điệp cao cấp của cộng sản” bên cạnh Tổng Thống Thiệu.

 

Trong cuốn Decent Intenval, Frank Snepp cũng cho biết rơ hơn về việc này, tuy nhiên Frank Snepp không có đề cập đến tên của Tướng Quang và Phó Thủ Tướng Hảo như Oliver Todd: Một điệp viên trong Bộ Tham Mưu thân cận của Tổng Thống Thiệu đă gửi một bản báo cáo tối mật về những kế hoạch và ước đoán của chính phủ Sài G̣n cho Bắc Việt. Theo báo cáo của tên gián điệp này th́ vào hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm l974 có một phiên họp cao cấp về quân sự tại Sài G̣n nhằm vào việc thẩm định những dự tính của Hà Nội trong năm tới. [Trong phiên họp nầy, các Tướng lănh cùng đồng với quan điểm của Tổng Thống Thiệu là trong những tháng sắp tới, cộng sản “sẽ chiến đấu trên một b́nh diện đại quy mô” hơn trong năm 1974 tuy nhiên sẽ không tổng tấn công như hồi năm Mậu Thân 1968. Tên điệp viên nói thêm rằng Tổng Thống Thiệu đă kết luận rằng các lực lượng Bắc Việt sẽ không có đủ khả năng để tấn công chiếm giữ và bảo vệ các Thành Phố lớn, Tổng Thiệu đă tiên đoán rằng cộng sản sẽ nhắm mũi tấn công vào Tỉnh Tây Ninh thuộc Vùng III Chiến Thuật và cộng sản sẽ tấn công mạnh cho đến hết mùa khô vào tháng 6 (năm 1975) rồi sẽ ngưng các cuộc tân công để dưỡng quân, tái tổ chức và trang bị. Tên điệp viên này cũng báo cáo thêm rằng căn cứ trên những ước tính này, Tổng Thống Thiệu đă quyết định sẽ không tăng viện cho Vùng II và sẽ tập trung các lực lương trừ bị trong vùng phiá Nam mà thôi”.

 

Vốn là một chuyên gia cao cấp về phân tích t́nh báo chiến lược (Intelligence strategy analyst) tại Văn Pḥng CIA Ở Sài G̣n, Frank Snepp nhận định như sau về hậu quả do bản báo cáo của tên gián điệp cộng sản này gây ra:

 

“Cũng chẳng có ǵ khó khăn để tưởng tượng ra được các nhà lănh đạo Bắc Việt đă hồ hởi, khoái chí như thế nào khi họ nhận được bản báo cáo nầy. Đó là một bản báo cáo vô giá. Trong quyết nghị về kế hoạch quân sự tại Miền Nam năm 1975, giới lănh đạo Bắc Việt c̣n chưa có quyết định tối hậu v́ chưa có đủ yếu tố.

 

Nếu như ông Thiệu tiên đoán rằng cộng sản sẽ tấn công vào Tây Ninh th́ trước hết họ sẽ tấn công vào Tỉnh Phước Long, nếu ông Thiệu nghĩ rằng cộng sản sẽ không tấn công vào Vùng II th́ họ sẽ tấn công vào Vùng Cao Nguyên và đó cũng là nơi mà họ sẽ tập trung các lực lượng chính để thôn tính toàn bộ vùng này, nếu ông Thiệu nghĩ  rằng cộng sản không có đủ khả năng tấn công và chiếm giữ các Thành Phố lớn th́ họ sẽ làm y như vậy: Tấn công Phước Long và kế đến là Ban Mê Thuột rồi thay v́ phải rút lui Họ sẽ chiếm giữ luôn những Thành Phố đó”. Frank Knepp: Decent Intrval, Vintage Book, New York, 1978. Trang 133-135.

 

Trong số những người đă đóng góp công trạng cho sự chiến thắng của Bắc Việt, tên gián điệp nằ m vùng này trong Bộ Tham Mưu của ông Thiệu phải là người có công lao lớn nhất. Cho đến giờ này th́ tên tuổi của tên gián điệp này vẫn c̣n bí mật, chỉ có Hà Nội là biết rơ, nhưng vào thời gian y cung cấp tài liệu có giá trị vô giá này cho Bắc Việt vào cuối năm 1974 th́ văn pḥng CIA ở Sài G̣n có một bản danh sách gồm có 4 người trong Bộ Tham Mưu thân tín của ông Thiệu bị t́nh nghi là có thể làm gián điệp nội tuyến cho Bắc Việt. Một trong 4 người đó là một sĩ quan đang giữ chức Trưởng Ban Phản Gián của Cục An Ninh Quân Đội, người này là bà con rất gần với một nhân viên cao cấp trong Bộ Tham Mưu của Tổng Thống Thiệu.

 

“Dù rằng có đủ bằng chứng Nhưng CIA vẫn không có thể làm ǵ được đối với họ v́ cả bốn người đều là người tâm phúc thân cận với Tổng Thống Thiệu và trong đó có hai người, kể cả người phụ trách về phản t́nh báo của An Ninh Quân Đội, trớ trêu thay lại là cộng sự viên lâu đời của CIA. Nếu CIA mà làm tới và kết tội họ th́ việc đó sẽ làm cho chính CIA bỉ mặt, do đó mà CIA đành phải làm ngơ” Frank Snepp: Decent Interval, Vintage Books, New York. 1978. Trang 133-135.

 

Về chuyện nghe lén trong Dinh Độc Lập th́ ông Trần Văn Đôn sau này có cho biết rằng không những người Mỹ mà cả việt cộng cũng đều có thể nghe được:

“Th́ ra trong Dinh Độc Lập được sửa chữa lúc Dinh sau vụ ném bom năm 1962, trong mấy năm trời xây cất, Mỹ đă đặt máy vi âm để nghe tất cả những ǵ xảy ra trong Dinh Độc Lập. Từ đó suy luận ra th́ chắc chắn việt cộng dă cho cán bộ trà trộn làm công việc xây cất chỉnh trang và đă lén đặt máy truyền tin cũng như người Mỹ đă làm.

 

Năm 1976, tôi bảo trợ cho gia đ́nh ông Lê Ngọc An, Thiếu Úy Cận Vệ của Tổng Thống Thiệu. Tôi không biết ông An nhiều nhưng có người bạn điện thoại cho tôi biết ông An t́m người sponsor nên tôi đồng ư.

 

Sang đến Mỹ, ông An cho biết ngày việt cộng vào Dinh Độc Lập, chúng nhốt tất cả lại trong Dinh trừ Tổng Thống Dương Văn Minh và Thủ Tướng Mẫu th́ chúng chở đi nơi khác. Ông An thấy một người thợ điện làm việc trong Dinh suốt 7 năm trời, lúc bấy giờ ló diện ra là cán bộ cộng sản nằm vùng. Tên thợ điện đó dẫn cán bộ việt cộng đi hết mọi pḥng và chỉ dẫn rất rành mạch. V́ vậy không những Mỹ nghe tin mật ở Dinh Độc Lập mà có thể việt cộng cũng nghe được. Trần Văn Đôn: Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu, Califomia, 1989.

 

Nghe lén là một trong những vũ khí quan trọng trong Ngành T́nh Báo và cũng rất có thể là một trong những cán bộ cộng sản nằm vùng trong Dinh Độc Lập nhờ nghe lén mà đă phúc tŕnh những tin tức có tầm quan trọng vô giá này cho Bắc Việt.

 

Trong binh pháp, người xưa đă dạy rằng “bí mật và bất ngờ là hai yếu tố quyết định cho chiến thắng” và Tôn Tử cũng có dạy “biết ḿnh biết người, trăm trận trăm thắng”, do Đó, các Tư Lệnh chiến trường bao giờ cũng cố gắng t́m hiểu về các kế hoạch của đối phương trong khi che dấu, ngụy trang các kế hoạch hành quân của ḿnh. Vào cuối năm 1974, các nhà lănh đạo quân sự cộng sản Bắc Việt đă nắm được những yếu t ố chiến lược có tính cách quyết định tại chiến trường Miền Nam qua những tin tức t́nh báo về buổi họp của các nhà lănh đạo quân sự cao cấp tại Dinh Độc Lập trong bản phúc tŕnh mà gián điệ p cộng sản đă gởi về Hà Nội. Nhờ những yếu tố mới này, cộng sản Bắc Việt đă biết rơ những tiên đoán và kế hoạch đối phó của Việt Nam Cộng Ḥa cho năm 1975 và do đó họ đă phối hợp những tin tức t́nh báo có tính cách chiến lược này với những yếu tố mà họ đă có từ trước để hoàn tất các kế hoạch tổng tấn công cho năm 1975 mà trước đó vẫn chưa được thành h́nh và chưa có quyết định tối hậu.

 

Kế hoạch đầu tiên là chấp thuận tấn công Phước Long.

 

Một ủy viên trong Ban Thường Vụ của Trung Ương Cục Miền Nam và cũng là người được xem như là rất thân cận với Lê Duẫn trong thời gian Lê Duẫn c̣n làm Bí Thư Xứ Ủy Nam Bộ thời chiến tranh Đông Dương trước năm 1954.

 

Tưởng cũng nên nhắc lại là con đường này hồi đó được cả hai phe Việt Nam Cộng Ḥa và cộng sản gọi là “đường dây ông cụ “ chứ chưa được gọi là “đường 559” hay “ đường ṃn Hồ chí Minh” như sau này. Luật Sư Đinh Thạch Bích có cho người biết một chuyện lư thú là người đă đặt tên cho con đường bây giờ nổi tiếng là “Đường Ṃn Hồ chí Minh” lại chính là một vị Tướng lănh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, ông Bích có phục vụ tại Pḥng 2 của Sư Đoàn 22 tại Vùng 2 Chiến Thuật mà vị Tư L ệnh lúc đó là Trung Tá Nguyễn Bảo Trị. Ông Bích nói rằng hàng ngày các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu đều thảo luận về “đường dây ông cụ” tức là con đường liên lạc và chuyển vận người cũng như là vũ khí chiến cụ của cộng sản từ Bắc vào Nam. Ông Bích cho biết một hôm trong phiên họp Tham Mưu, ông hỏi “ông cụ nào vậy?” th́ Trung Tá Nguyễn Bảo Trị cười rồi nói “th́ đó là Hồ chí Minh chứ c̣n ai vào đây” Từ đó “đường dây ông cụ” trở thành “đường ṃn Hồ chí MInh” và sau này được người Mỹ gọi là “Hochiminh trail”.

 

Nhờ những nỗ lực và vận động của Phạn văn Đồng, Lê Duẫn đồng ư cho mời Phạm Hùng và Trần văn Trà đến tư dinh để thảo luận thêm.

 

Trần văn Trà hỏi Lê Duẫn lư do tại sao Hà Nội không chấp thuận kế hoạch tấn công Quận Đôn Luân thuộc Tỉnh Phước Long do B2 đề nghị và được Lê Duẫn cho biết Bộ Tổng Tham Mưu đă phúc tŕnh lên Lê Duẫn rằng nếu mở cuộc tấn công này th́ những đơn vị chủ lực của chiến trường B-2 sẽ phải được tung hết vào cuộc chiến từ lúc khởi đầu, nếu bị thất bại th́ sẽ tổn thất rất nhiều về nhân lực, vũ khí, đạn dược và chiến cụ. Sự tổn thất này sẽ ảnh hưởng quan trọng đến tiềm lực của Trung Ương Cục Miền Nam dành cho các cuộc tấn công dự trù vào năm 1975 và cuộc tổng tấn công tại Miền Nam dự trù vào năm 1976. Lê Duẫn nói rằng chính v́ lư do đó mà kế hoạch tấn công Đôn Luân không thích hợp.

 

Phạm Hùng và Trần văn Trà, hai đệ tử thân tín của Lê Duẫn thời Nam Bộ Kháng Chiến, đă thuyết phục Lê Duẫn rằng Quân Lực của Việt Nam Cộng Ḥa trong vùng Phước Long rất yếu kém, Miền Nam không có đủ khả năng để tiếp viện nếu Phước Long bị tấn công và Quốc Lộ 13 bị cắt đứt. Sau cùng th́ Lê Duẫn bị Phạm Hùng Trần văn Trà thuyết phục và chính Lê Duẫn lại đứng ra vận động với Bộ Chính Trị về việc tấn công Phước Long. The Fall of the South, trang 17.

 

Trong cuốn hồi kư Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Thượng Tướng Trần văn Trà có cho biết rơ hơn về chuyện này:

 

“Nhân lúc anh Phạm Hùng nói về triển vọng ta thắng lợi nhiều trong mùa khô này vừa dừng lại, tôi hỏi anh Ba (Lê Duẫn): “Vừa rồi anh điện vào không cho đánh Đồng Xoài, v́ nguyên do thế nào?

 

Anh Ba trả lời: “Bộ Tổng Tham Mưu báo cáo với tôi là các anh tung cả chủ lực ra đánh ngay từ đầu mùa khô. Đánh Đồng Xoài và tiếp theo một loạt các trận đánh lớn khác, như vậy là không phù hợp. Cần phải đánh thế nào để giữ họ giai sức, trong t́nh h́nh hiện nay phải luôn nắm trong tay một lực lượng sung sức để khi có thời cơ, anh mới có điều kiện dành thắng lợi”.

 

          Tôi lại tŕnh bày với anh về ư định của chúng tôi và về cách sử dụng lực lượng.

 

Tôi nói:

“Trong đợt đầu mùa khô chúng tôi vẫn nắm một lực lượng dự bị mạnh là sư đoàn 9 và một số trung đoàn khác.”

 

Anh Phạm Hùng nói thêm vào: “Đánh Đồng Xoài không cần lực lượng lớn đâu và chúng tôi chắc thắng, chúng tôi cũng đă cân nhắc kỹ”

 

Anh Ba nói: “Nếu đúng như vậy th́ cứ đánh chứ có vấn đề ǵ đâu”

 

Tôi tưởng tai ḿnh không nghe rơ, liền hỏi lại cho chắc: “như vậy anh cho chúng tôi giải quyết Đồng Xoài để có hành lang thông về phía Đông như kế hoạch chúng tôi đă dự định?

 

Anh Ba nói: Nhưng chắc thắng và không được sử dụng lực lượng lớn. Trần văn Trà: Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Nhà xuất bản Văn Nghệ, Thành Phố Hồ chí Minh, 1982, trang 170.

 

Ngay sau khi được Lê Duẫn đổi ư kiến cho phép đánh Đồng Xoài, Trần văn Trà đánh điện ra lệnh cho Lê đức Anh và vào ngày 14 tháng 12 năm 1974 th́ việt cộng khởi sự tấn công Quận Đức Phong, mở đầu cho chiến dịch tấn công Phước Long. Tuy nhiên, dù đă được Lê Duẫn chấp thuận nhưng dường như phe Văn tiến Dũng và các Tướng lănh của Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội mà Trần văn Trà châm biếm gọi là “lính nhà vua” cũng c̣n t́m cách chống đối. Trần văn Trà cho biết rằng ngay hôm đó, Trà viết một mệnh lệnh gửi cho Lê đức Anh ở B2 nhờ Bộ Tham Mưu của Văn tiến Dũng gửi đi, nhưng đến chiều hôm đó th́ Lê ngọc Hiền mang trả lại, không chịu gửi với lư do là v́ trong bức điện Trà đă cho phép dùng xe tăng và pháo lớn mà những giới hạn mà Quân Ủy không cho phép. Trần văn Trà nói rằng ông ta giận dữ và nói với Lê ngọc Hiền rằng: “Việc sử dụng vũ khí lớn tôi đă xin phép rồi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí cho điện đi và đồng chí sẽ phải chịu trách nhiệm nếu điện của tôi chậm trễ, lỡ thời cơ”. Sau khi hăm dọa như vậy th́ Lê ngọc Hiền mới cho đánh bức điện của Trần văn Trà vào Nam ra lệnh cho Lê đức Anh khởi sự cuộc tấn công Phước Long” Trần văn Trà: Sách đă dẫn, trang 178.

 

Frank Snepp nhận định rằng quyết định gia tăng các cuộc tấn công quân sự tại Miền Nam cũng gặp phải nhiều sự chống đố i của phe “bồ câu” và phe ôn ḥa trong Bộ Chính Trị Đảng Lao Động v́ họ vẫn c̣n e ngại việc Hoa Kỳ tái can thiệp và những trở ngại trong việc tái thiết sau này. Tuy nhiên, chính Tổng Bí Thư Lê Duẫn đă thuyết phục họ với lập luận rằng Quốc Hội Hoa Kỳ đang thảo luận về viện trợ cho Miền Nam và các cuộc tranh luận này cho thấy rất ít có cơ hội mà người Mỹ sẽ tái can thiệp ở Việt Nam, do đó mà dù Bắc Việt có gia tăng các cuộc tấn công th́ cũng chẳng có ǵ phải lấy làm lo ngại cho lắm. Để trấn an những phần tử c̣n thận trọng trong Bộ Chính Trị, Lê Duẫn đồng ư sẽ lấy vụ tấn công Phước Long làm một thí nghiệm: Nếu Hoa Kỳ mà không can thiệp để cứu tỉnh này th́ điều đó chứng  tỏ rằng ông ta đă đúng, c̣n nếu mà Hoa Kỳ có can thiệp th́ Bắc Việt vẫn c̣n có đủ th́ giờ để rút lui.

 

Sau cùng th́ Lê Duẫn thuyết phục được Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động và chính Lê Duẫn, nhân danh Bộ Chính Trị, ra lệnh cho khởi sự cuộc tấn công Tỉnh Phước Long. Lê Duẫn đă ra khẩu lệnh cho Phạm Hùng và Trần văn Trà trước khi hai người này lên đường trở về Miền Nam: “các đồng chí phải chắc rằng chúng ta sẽ chiến thắng ở Phước Long”.

 

Chiến Dịch Phước Long

 

Đầu tháng 12 năm 1974, cộng sản cho mở một vài cuộc tấn công gần Tây Ninh để nhử cho Việt Nam Cộng Ḥa gởi các đơn vị trừ bị đến tăng cường cho Tỉnh này rồi đến ngày 13 tháng 12, cộng sản khởi sự tấn công vào Tỉnh Phước Long.

 

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́ đầu tháng 10 năm 1974 qua tin tức thâu thập từ t́nh báo, phản gián hồi chánh viên và tù binh, Bộ Tổng Tham Mưu đă biết được kế hoạch cộng sản Bắc Việt chuẩn bị đánh chiếm Phước Long. Tin tức nầy đă được chuyển đến Quân Đoàn III và Tiểu Khu Phước Long. Cuộc tấn công của cộng sản vào Phước Long không phải là một sự bất ngờ ngoài sự ước đoán của chúng ta. Tướng Viên cho biết rằng lực lượng pḥng thủ toàn Tỉnh Phước Long gồm có 5 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân khoảng 4.000 người, 48 Trung Đội Nghĩa Quân khoảng 1.000 người và 4 Pháo Đội (Đại Đội) Pháo Binh. Như vậy th́ trong khu vực Tỉnh này, chỉ có những lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đảm trách việc pḥng thủ, không có một đơn vị tác chiến nào của Chủ Lực Quân cả, cho đến khi một số tiền đồn của ta bị rơi vào tay địch th́ Quân Đoàn III mới tăng viện cho Phước Long một Tiểu Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh cùng với hai Pháo Đội và 3 Đại Đội Trinh Sát.

 

Trong khi đó th́ cộng sản Bắc Việt đă sử dụng Quân Đoàn 4 do Tướng Hoàng Cầm làm Tư Lệnh và Đại Tá Bùi Cát Vũ làm Chính ủy gồm có ba sư đoàn, lúc đó được gọi là “Công trường 7 và 9 cùng với hai trung đoàn cao-xạ pḥng không và nhiều đơn vị pháo binh cũng như là xe tăng tấn công vào 5 mục tiêu trong Tỉnh Phước Long”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 99-100.

 

Theo Đại Tá William E. Leggro, cựu Trưởng Pḥng T́nh Báo của Pḥng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ (DAO) tại Sài G̣n th́ lúc đó, ngoài những đơn vị tác chiến kể trên, trong vùng lănh thổ Tỉnh Phước Long, cộng sản c̣n đặt căn cứ của nhiều bộ chỉ huy chiến thuật và tiếp vận nữa: Đồn điền Bù Dốp-Bố Đức là bản doanh của bộ chỉ huy M-26 của 3 tiểu đoàn chiến xa cách Phi Trường Sông Bé khoảng 45 cây số, bộ chỉ huy của các đơn vị công binh chiến đấu cũng gồm khoảng 3 tiểu đoàn, ngoài ra c̣n có các đơn vị khác nữa như quân xa, huấn luyện và hậu cần v.v... William E. Le Gro: Vietnam.from Cease-fire lo Capitulation. Washington D.C.: US Army Center of Military History, 1981, trang 133.

 

Ngày hôm sau, 14 tháng 12 năm 1974, cộng sản đă chiếm được hai tiền đồn là hai Quận Bố Đức và Đức Phong, tuy nhiên Quận Đôn Luân do một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ đă anh dũng đẩy lui được đợt tấn công đầu tiên của cộng sản. V́ Quốc Lộ 14 đă bị cộng quân cắt đứt. Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa phải vận tải tiếp liệu và di tản thương binh cùng thường dân bằng phi cơ C-130 và trực thăng CH- 47, nhưng sau đó cộng quân đă pháo kích vào Phi Trường Phước B́nh, tiêu hủy một chiếc C-130, làm hư hỏng một chiếc khác và Phi Trường Phước B́nh đă bị cộng quân pháo kích hàng ngàn trái đạn do đó không c̣n sử dụng được.

 

Ngày 26 tháng 12 năm 1974, sau 13 ngày anh dũng chống trả lại các cuộc tấn công biển người của cộng sản, tiền đồn Đôn Luân bị thất thủ sau khi bị cộng quân pháo kích hàng ngàn đạn pháo binh rồi sử dụng chiến xa và quân bộ chiến tràn ngập Quận lỵ này. Lúc đó, trừ Quận lỵ Phước B́nh và Thành Phố Phước Long, toàn thể Tỉnh này đă hoàn toàn rơi vào sự kiềm soát của cộng sản.

 

Sau khi Quận Đôn Luân bị thất thủ, một phiên họp khẩn cấp đă được triệu tập tại Dinh Độc Lập với sự chủ tọa của Tổng Thống Thiệu và sự hiện diện của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Phụ Tá An Ninh và Quốc Pḥng, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân, Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III và Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Liên Quân kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Mục đích của phiên họp này là thảo luận để đi đến quyết định là Sài G̣n có nên tăng viện cho Phước Long hay không và nếu tăng viện th́ tăng viện như thế nào về vũ khí, về nhân sự.

 

Trong cuốn The Final Collapse, Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết trong phiên họp này, Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III đă tŕnh bày về t́nh h́nh Phước Long và đề nghị xin một Sư Đoàn Bộ Binh hay Sư Đoàn Nhảy Dù lên tăng viện cho Phước Long và đồng thời ông xin được từ chức viện cớ là ông đă không đủ khả năng giải quyết được t́nh h́nh quân sự của vùng này. Lời yêu cầu của Tướng Dư Quốc Đống bị Tổng Thống Thiệu bác bỏ.

 

Tướng Cao Văn Viên cho biết sau khi nghiên cứu t́nh h́nh th́ kế hoạch tăng viện cho Phước Long bị hủy bỏ dựa vào những lư do sau đây: Bộ Tổng Tham Mưu không c̣n đủ quân trừ bị, hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang trấn đóng ở Vùng I và t́nh h́nh chiến sự ở đây không cho phép rút bất cứ đơn vị nào để tăng viện cho Phước Long, tại Vùng III, hai Sư Đoàn cơ hữu là Sư Đoàn 18 và 25 cũng không thể đưa lên tăng viện cho Phước Long v́ c̣n phải được dùng để án ngữ khu vực Tây Ninh ngăn chân hai sư đoàn cộng sản 5 và 9 tiến về Sài G̣n, nếu giả thử như có thể gửi một Sư Đoàn tăng viện cho Phước Long th́ phải mất từ 5 đến 7 ngày mới đến nơi và lúc đó th́ chưa chắc quân trú pḥng Phước Long c̣n cầm cự được trước sự tấn công của các lực lượng cộng sản đông gấp mấy lần, về tiếp tế th́ cần phải sử dụng Không Quân và Bộ Tổng Tham Mưu phỏng định là không quân sẽ bị thiệt hại rất nặng trước lực lượng pḥng không của cộng sản mà sự thiệt hại này sẽ không được thay thế v́ ngân sách dành cho Không Quân không c̣n nữa và sau cùng, lư do quan trọng nhất là về các phương diện chiến lược, kinh tế, chính trị và dân số, Phước Long không quan trọng bằng Tây Ninh, Pleiku hay là Huế. Theo Bộ Tổng Tham Mưu th́ trong thời điểm mà ngân quỹ Quốc Pḥng đang phải đối diện với một sự thiếu hụt ngặt nghèo, nếu phải giữ đất th́ nên củng cố lực lượng để giữ Tây Ninh hay Huế hơn là Phước Long. Buổi họp đi đến quyết định là chỉ sử dụng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù để tăng viện cho Phước Long như đă dùng đơn vị này để tiếp viện cho An Lộc hồi năm 1972. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 106-109.

 

Như vậy th́ sự tiên đoán của Phạm Hùng và Trần văn Trà nói rằng Việt Nam Cộng Ḥa sẽ không có đủ khả năng để tăng viện cho mặt trận Phước Long nếu Tỉnh này bị tấn công là không may sai sự thật. Và điều này cũng chứng tỏ cho thấy rằng Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n có đủ quân để tăng viện cho Phước Long chứ không phải như những lời đồn đại, những lời bàn luận mà người Sài G̣n hồi đó thường gọi là “lời bàn Mao Tôn Cương” nói rằng khi quyết định không tăng viện cho Phước Long, Tổng Thống Thiệu đă chơi tṛ “tháu cáy” cố t́nh để mất Tỉnh này vào tay cộng sản cốt là để thử xem người Mỹ có giữ đúng sự cam kết là sẽ can thiệp nếu Bắc Việt mở các cuộc tấn công ở Miền Nam sau Hiệp Định Paris hay không. Sau phiên họp này, v́ lư do thời tiết cũng như là chiến sự, đến sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, Không Quân mới thực hiện được 60 phi vụ oanh tạc để dọn băi đáp ở phía Bắc Thành Phố và đến 3 giờ chiều th́ khoảng 250 Quân Nhân thu ộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù mới hoàn tất được cuộc đổ bộ và tiếp xúc được với quân trú pḥng dưới những cơn mưa pháo mănh liệt của cộng quân.

 

Các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă chống trả các cuộc tấn công biển người của 3 sư đoàn cộng quân với sự yểm trợ của chiến xa T-54 và đại pháo 130 ly trong hơn 10 ngày. Biệt Cách Nhảy Dù đă chiến đấu vô cùng gan lỳ và dũng cảm trong nỗ lực phản công tái chiếm lại những mục tiêu đă mất, tuy nhiên sức người có hạn, hơn một nửa tổng số các chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Dù đă anh dũng hy sinh trong các tr ận đánh này. Hơn nữa, cộng sản đă cho thiết kế gắn thêm vào hông xe tăng của họ những cái “khiên kim loại” mới được biến chế khiến cho các loại súng chống chiến xa loại M-72 cũng như là súng không giật 90 ly của Hoa Kỳ chế tạo không c̣n hữu hiệu nữa.

 

Sự chiến đấu gan dạ của các Chiến Sĩ 81 Biệt Cách Nhảy Dù cùng các đơn vị Địa Phương Quân trong Thị Xă Phước Long đă khiến cho cuộc tấn công của cộng quân phải chùn lại. Trần văn Trà đang họp ở Hà Nội cho biết:

“Bỗng một hôm trong lúc đang họp, một đồng chí trong Cục Tác Chiến Bộ Tổng Tham Mưu đưa đến và đọc một bức điện từ chiến trường báo cáo rằng: “v́ địch đă tăng viện đượ c Lữ Đoàn 81 Biệt Kích Dù vào Thị Xă, chúng đă cố thủ nên chúng tôi tạm cho dẫn bộ đội ra chấn chỉnh để nghiên cứu đánh lại”.

 

“Tôi sửng sốt, không tin. Tôi ngồi gần như đối diện với anh Ba (Lê Duẫn,) khi nghe đọc xong, anh ngó thẳng vào tôi có v ẻ hỏi tại sao vậy. Trước đây, khi xin được đánh Phước Long và được sử dụng một ít pháo lớn và xe tăng, tôi đă khẳng định với anh Ba rằng ta đánh chắc thắng và địch không thể tăng viện được. Nay nếu đánh không nổi Tỉnh Lỵ Phước Long th́ mọi việc đánh giá khác của tôi sẽ khó mà tin được là đúng. Tŕnh độ tác chiến của quân chủ lực ta ở miền Đông rơ ràng sẽ chứng tỏ c̣n thấp kém. Trần văn Trà: Sách đă dẫn, trang 189.

 

Tuy nhiên sức người có hạn, đến nửa đ êm hôm 6 tháng 1 năm 1975, sau khi các vũ khí hạng nặ ng và trang bị truyền tin bị pháo binh và Chiến xa của cộng sản phá hủy hoàn toàn, với biển người trên 30.000 quân cộng sản tấn công ào ạt, một số mấy trăm chiến sĩ thu ộc các binh chủng Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân thuộc Tỉnh Phước Long đă rút được vào những khu rừng rậm quanh Tỉnh Lỵ Phước B́nh. Trong tổng số 5.400 chiến sĩ bảo vệ cho toàn Tỉnh Phước Long, chỉ có khoảng 1.000 người trong đó có 121 Quân Nhân Biệt Cách Nhảy Dù đă thoát được và trở về tŕnh diện Quân Đoàn III. Tỉnh Trưởng Phước Long, Quận Trưởng Phước B́nh, một số Tiểu Đoàn Trưởng cùng khoảng trên 3.000 Quân Nhân thuộc các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă được ghi nhận là mất tích và tử vong.

 

Kể từ khi cộng quân khởi sự tấn công vào ngày 13 tháng 12 năm 1974 cho đến khi Tỉnh Phước Long bị thất thủ vào ngày 6 tháng Giêng năm 1975, khoảng trên 5 ngàn Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đă anh dũng cầm cự được với 30 ngàn quân cộng sản trong 23 ngày th́ đó cũng là một cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng đáng ca ngợi của các Chiến Sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vào những ngày đầu của cuộc tổng tấn công Miền Nam Việt Nam.

 

Theo nhận định của một Quân Nhân thuộc lực lượng Biệt Kích Nhảy Dù có tham dự cả hai trận An Lộc hồi năm 1972 và Phước Long năm 1975 th́ trong trận Phước Long địch quân đánh không giỏi và gan d ạ như chúng ta nghĩ. Vấn đề là địch đông quá. Pháo binh của họ mạnh và chính xác hơn là ở An Lộc. Xe tăng của địch được trang bị khác hơn, súng M-72 của ta không ngăn chận được. Khi bị trúng đạn, xe tăng địch khựng một chút rồi tiếp tục tiến lên. Yểm trợ của Không Quân không hữu hiệu v́ phi cơ bay quá cao. Chỉ có B-52 như ở An Lộc th́ chúng ta mới có thể thắng được. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 113.

 

Nhưng năm 1975 th́ không có B-52, ngược lại về phía Hoa Kỳ, không hề có một phản ứng nào, không có một phản kháng nào đối với việc cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công chiếm Tỉnh Phước Long.

 

Trong cuốn The Final Collapse, Đại Tướng Cao Văn Viên nhắc lại rằng “Trong dịp sang Sài G̣n vào ngày 18 tháng 10 năm 1972 để trao cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bản sơ thảo viết bằng Anh Ngữ của Hiệp Định Paris, Cố Vấn Kissinger nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giữ các căn cứ tại Thái Lan và Hạm Đội Mỹ ở ngoài khơ i Việt Nam để ng ăn chận các cuộc xâm lăng của cộng sản...”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 39.

 

Trong thời gian cộng sản tấn công Phước Long, Tiến Sĩ Kissinger đang làm Ngoại Trưởng Hoa Kỳ và lúc đó có một Hạm Đội Hoa Kỳ đang ho ạt động trong vùng biển Á Châu, nhưng ông ta đă không nhắc nhở ǵ với Tân Tổng Thống Ford về lời hứa của ông gần hai năm về trước tại Sài G̣n để cho Tổng Thống Gerald Ford có thể ra lệnh cho một lực lượng Đặc Nhiệm Hải Quân trong đó có Hàng Không Mẫu Hạm nguyên tử Enterprise đang hoạt động trong vùng Thái B́nh Dương tiến vào vùng Hải phận gần bờ biển Việt Nam, nhưng thay v́ ở lại chung quanh vùng biển này như là một h́nh thức để ủng hộ một cách tượng trưng cho Việt Nam Cộng Ḥa th́ Hạm Đội này lại được lệnh đi thẳng sang...Phi Châu.

 

 

TỪ HÀ NỘI CHIẾN DỊCH 275

 

Theo Tướng Trần văn Trà th́ trong kế hoạch quân sự tại Miền Nam năm 1975 của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Bắc Việt, có một kế hoạch tấn công Quận Đức Lập thuộc Tỉnh Quảng Đức, một Quận lỵ gần biên giới cách Thành Phố Ban Mê Thuột khoảng 50 cây số về phía Tây-Nam. Theo kế hoạch này, Bắc Việt sẽ sử dụng sư đoàn quân chủ lực của B3 với sự yểm trợ của một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo binh 130 ly để tấn công Quận Đức Lập. Mục tiêu của Bắc Việt trong trận tấn công này là để khai thông con đường tiếp vận cho Miền Nam và thu hút Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa đến giải vây mà tiêu diệt.

 

Khi nghe nói về kế hoạch này, Trần văn Trà đă nói rằng: “Tôi không đồng ư. Tôi đă cười và nói vui: Thật các anh là những lính “nhà vua”. “Các anh đă đánh và luôn nghĩ đánh theo kiểu dồi dào lực lượng và súng đạn, khác xa với chúng tôi là những lính nhà nghèo ở chiến trường xa và khó khăn, từng viên đạn một, vừa thèm thuồng nh́n các anh.”

 

Trần văn Trà bày tỏ ư kiến rằng Đức Lập chỉ là một Chi Khu, một Quận lỵ chẳng có ǵ quan trọng cho lắm, nhưng nếu B3 đă huy động một lực lượng hùng hậu lên đến 3 sư đoàn như vậy th́ tại sao lại không tấn công thẳng vào Ban Mê Thuột, Tỉnh Lỵ và cũng là Tiểu Khu Darlac quan trọng hơn nhiều?

 

Trần văn Trà lập luận rằng: “đánh giải phóng Ban Mê Thuột là ta chiếm được một mục tiêu có giá trị chiến dịch chiến lược quan trọng, rung động toàn Tây Nguyên và tự khắc hành lang của ta được mở rộng vững chắc. Với lực lượng của ta đủ sức đánh Ban Mê Thuột v́ ở đây địch có nhiều sơ hở, chỉ xem như một Hậu Cứ của các Sư Đoàn, Trung Đoàn. Tuy là Tỉnh lớn nhưng địa h́nh thuận lợi, pḥng thủ yếu, lực lượng ít và nhất là địch không nghĩ rằng ta chủ trương đánh Ban Mê Thuột như vậy...

 

“Theo tôi đánh Kontum và Pleiku là đánh vào nơi địch cứng nhất. Chúng ta chuẩn bị pḥng thủ từ lâu. Là đánh vỗ đầu địch. Lâu nay địch luôn phán đoán ta sẽ đánh vào Kontum trước nên dồn lực lượng và mọi sự chú ư vào đây, tuy ta có điều kiện tập trung lực lượng lớn và chuẩn bị mọi mặt thuận lợi, nhưng địch đă đề pḥng, ta không phải dễ dàng trong tấn công. Có đánh vào Ban Mê Thuột là đánh đ̣n bất ngờ hoàn toàn đối với địch, đánh vào phía sau không được pḥng bị của địch. Chúng sẽ bị tiêu diệt và tan vỡ mau chóng, ta không cần phải sử dụng lực lượng nhiều...Tôi ví đánh chiếm Ban Mê Thuột đối với các Tỉnh Tây Nguyên c̣n lại giống như đốn một cây gỗ lớn từ gốc toàn bộ tàn lá và thân cây phải đổ. Đánh như vậy mới là đ̣n hiểm về chiến dịch chiến lược, dám bảo đảm chắc thắng và thắng to”. Trần văn Trà: Sách đă dẫn, trang 181-183.

 

Dường như sau khi việt cộng chiếm được Tỉnh Phước Long th́ ư kiến của Trần văn Trà trở nên có giá trị hơn và được nhiều người đồng ư hơn, cho nên vào ngày 8 tháng 1 năm 1975 tức là hai ngày sau khi việt cộng chiếm được Tỉnh Phước Long tại Miền Nam, Tổng Bí Thư Lê Duẫn đại diện cho Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương đă đọc một “Bản kết luận đợt hai Hội Nghị Bộ Cbính Trị” tóm tắt lại những điều đă được thảo luận trong hội nghị Bộ Chính Trị vừa qua, trong đó ư kiến tấn công Ban Mê Thuột của Trần văn Trà đă được chấp thuận.

Sau phần nhận định về t́nh h́nh tại Miền Nam hai năm sau Hi ệp Định Paris, trong phần nói về “Nhiệm vụ, Kế Hoạch Tác Chiến” của các đơn vị tại Miền Nam trong hai năm 1975 và 1976, Lê Duẫn nhấn mạnh đến 5 điểm quan trọng:

1.- Thực hiện tiến công và nổi dạy trên quy mô lớn.

2.- Mở những chiến dịch hợp đồng binh chủng.

3.- Kết hợp với đ̣n tiến công vào quân chủ lực ngụy và đ̣n đánh phá b́nh định nông thôn, thực hiện bao vây uy hiếp các thành thị lớn, nhất là Sài G̣n, phát triển phong trào đấu tranh chính trị lên quy mô rộng lớn, đ̣i ḥa b́nh, ḥa hợp dân tộc. Nếu Mỹ lật Thiệu th́ nhanh chóng phát động quần chúng nổi dậy đánh đổ ngụy quyền, xách động chính quyền cách mạng ở các cấp bên dưới, đấu tranh lập chính phủ liên hiệp bên trên.

4.- Đẩy mạnh công tác binh vận.

5.- Phá hủy các cơ sở hậu cần và phương tiện chiến tranh của địch.

 

Một điểm vô cùng quan trọng là trong điểm thứ 3 chỉ thị của Bộ Chính Trị nói rơ rằng nếu Tổng Thống Thiệu bị lật tức là không c̣n nắm chính quyền nữa th́ “đấu tranh chính lập chính phủ liên hiệp bên trên”. Như vậy th́ vào đầu tháng 1 năm 1975, khi chưa chiếm được Ban Mê Thuột, cộng sản Bắc Việt c̣n có dự định “lập chính phủ liên hiệp bên trên” với Miền Nam.

 

Bản kết luận nói thêm rằng kế hoạch trong năm 1975 chỉ ra nhiệm vụ cho từng chiến trường:

-                           Chiến trường Nam Bộ có ba nhiệm vụ quan trọng: “đánh phá b́nh định”, đánh phá quân chủ lực ngụy, vây ép thành thị. Để đánh phá b́nh định” mà trọng điểm là ở đồng bằng sông Cửu Long, phải sử dụng hai đến ba vạn quân chủ lực ở miền Đông Nam Bộ đánh xuống đồng bằng, kết hợp với những cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng quân sự chính trị tại chỗ, mở vùng giải phóng liên hoàn nối miền Đông với Khu VIII, Khu IX, đồng thời ép mạnh về phía Mỹ Tho, Sài G̣n nhất là Sài G̣n tạo thế cho quần chúng ở đây nổi dậy. Để góp phần vây ép Sài G̣n, quân chủ lực ta phải tiêu diệt cho được một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy ở miền Đông.

-    Chiến trường Khu V, Tây Nguyên: Dùng 3 sư đoàn chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực cơ động nhanh vào miền Đông phối hợp với quân chủ lực Miền để tiến đánh Sài G̣n. Mở trận đánh đầu chiếm Ban Mê Thuột, thọc thẳng xuống Tuy Ḥa, Phú Yên, cắt đồng bằng Khu V ra làm đôi, tạo thêm một hướng nữa để tiến nhanh vào phía Nam Sài G̣n.

-   Chiến trường Trị Thiên: Đánh chiếm đồng bằng làm chủ vững chắc từ Nam Thành Phố Huế trở vào, chia cắt Huế với Đà Nẵng, vây ép hai Thành Phố nầy không cho địch co cụm về phía Nam, thúc đẩy binh biến ly khai miền Trung.

 

Trên đây là những đ̣n tiến công quân sự chủ yếu trong kế hoạch chiến lược năm 1975. Chúng ta đều nhất trí về kế hoạch đó.

 

Kế hoạch tiếp theo cho năm 1976 sẽ do kết quả thực hiện kế hoạch năm 1975 quyết định. Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”. Văn Kiện Đảng: Trang 21-30.

 

Qua những chi tiết trong chỉ thị ngày 8 tháng 1 trên đây th́ kế hoạch quân sự năm 1975 của Bộ Chính Trị đảng cộng sản chưa có dự trù tấn công và chiếm giữ một Tỉnh nào ở Miền Nam trừ Ban Mê Thuột và Hà Nội dự trù nếu kế hoạch 1975 đạt được kết quả tốt th́ sẽ tiến t ới Tổng tấn công vào năm 1976. Kế hoạch này không dự trù tổng tấn công “dứt điểm” để chiếm trọn Miền Nam Việt Nam trong năm 1975.

 

Không thấy Hoa Kỳ có phản ứng ǵ sau khi Tỉnh Phước Long của Việt Nam Cộng Ḥa bị cộng sản chiếm, được sự khuyến khích và tăng viện của Liên Xô, theo tinh thần của phiền họp Trung Ương Đảng kết thúc vào ngày 8 tháng 1 năm 1975, cộng sản Bắc Việt chấp thuận cho thi hành kế hoạch thứ hai, đó là chiến dịch 275 tức là Chiến dịch nhằm tấn công và nếu có thể được th́ chiếm một số Tỉnh trong khu vực chiến trường B3 tức là Vùng Cao Nguyên và chiến trường B4 tức là vùng phía Nam sông Thạch Hăn thuộc hai Tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Cộng sản Bắc Việt đề cử Thượng Tướ ng Văn tiến Dũng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vào Nam để đích thân chỉ huy chiến dịch này.

 

Trần văn Trà cho biết ngày 15 tháng 1 năm 1975, Phạm Hùng và ông ta c̣n gặp Lê Duẫn trước khi lên đườ ng về Nam. Lê Duẫn chỉ thị: “Lănh đạo chỉ đạo chính trị ở Sài G̣n sắc bén lắm mới được v́ chính trị thay đổi rất nhanh, từng ngày từng giờ phải kiên quyết và sắc sảo như Lenin. Dành đượ c chính quyền đă khó, nhưng giữ được chính quyền c̣n khó gấp trăm cho nên ngay từ giờ phút này phải suy nghĩ lo tổ chức ngay. Phải quyết tâm và tin tưởng thắng lợi to năm 1975”

 

Sau đó hai người gặp Lê Đức Thọ và được cho biết: “Tôi đă đến dự cuộc họp thường trực Quân Ủy Trung Ương, đă truy ền đạt quyết tâm của Bộ Chính Trị là đánh Ban Mê Thuột. Chỉ chấp hành lệnh không thảo luận ǵ nữa”. Trần văn Trà: Sách đă dẫn. Trang 197.

 

Tại Hà Nội, các cấp lănh đạo đă nắm chắc được rằng Hoa Kỳ sẽ không c̣n dám can thiệp quân sự tại Đông Dương nhất là sau khi Quốc Hội Mỹ thông qua Đạo Luật War Powers Act hồi cuối năm I973 cấm Tổng Thống Hoa Kỳ không được sử dụng Quân Đội nếu không được sự chấp thuận của Quốc Hội và nhất là đa số Dân Biểu và Nghị Sĩ Hoa Kỳ thuộc Đảng Dân Chủ đang có khuynh hướng chố ng lại việc ủng hộ cho Việt Nam Cộng Ḥa. Hai ngày sau khi Phước Long bị thất thủ, Phạm văn Đồng đă tuyên bố với các Ủy Viên trong Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động rằng:

“Bây giờ th́ dù bằng cách nào, người Mỹ cũng không c̣n có thể gởi Quân Đội sang tham Chiến tại Việt Nam được nữa. Họ có thể yểm trợ bằng Không Quân hay Hải Quân, tuy nhiên hai Quân Chủng nầy cũng không thể đem lại sự chiến thắng cũng như là thất bại.

 

Nói chơi cho vui nhưng mà cũng đúng sự thật là dù có cho ăn kẹo, người Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam”. Oliver Todd: Cruel Avril, trang 88. Trần văn Trà: Sách đă dẫn trang 188.

 

Thực ra th́ điều này không có ǵ đáng ngạc nhiên v́ vào tháng 8 năm 1973 hai Nghị Sĩ Hoa Kỳ là Frank Church và Clifford Case đă đệ tŕnh một dự thảo luật ra trước Thượng Nghị Viện cấm tất cả mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Dương nếu không được sự thỏa thuận của Quốc Hội. Dự thảo luật này đă được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua và Tổng Thống Richard Nixon ban hành thành luật vào tháng 12 năm 1973. Như vậy, sau khi đạo luật Case-church Amendment được ban hành th́ bất cứ một vị Tổng Thống Hoa Kỳ nào muốn can thiệp vào Đông Dương bằng quân sự, chẳng hạn như ra lệnh oanh tạc bằng pháo đài bay B-52, đều phải xin phép Quốc Hội và Quốc Hội hồi năm 1975 th́ hoàn toàn do Đảng Dân Chủ kiểm soát, mà đa số đảng viên Đảng Dân Chủ th́ lại chống việc Đảng Cộng Ḥa tiếp tục ủng hộ cho Việt Nam Cộng Ḥa, do đó dù có muốn trợ giúp cho Việt Nam, Tổng Thống Ford cũng khó ḷng mà đạt được sự thỏa thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ.

 

 

Nghị Quyết ngày 20 tháng 1 năm 1975.

 

Sau hội nghị của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng vừa kết thúc ngày 8 tháng 1 năm 1975, chưa đầy hai tuần sau đó, Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam lại thông qua một bản nghị quyết ngày 20 tháng 1 năm 1975 về “Quyết Tâm Hoàn Thành Cách Mạng Dân Tộc Dân Chủ ở Miền Nam”.

 

Bản nghị quyết này dài 34 trang, gồm có 3 phần:

-   Phần đầu là phần nhận định về t́nh h́nh tại Miền Nam từ sau ngày Hiệp Định Ba Lê được kư kết dài 11 trang trong đó có đoạn thú nhận rằng “ta đă chủ trương kư kết Hiệp Định Paris, đuổi được đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu ra khỏi nước ta, mà ta vẫn duy tŕ củng cố hơn nửa (1/2) lực lượng của ta ở Miền Nam làm cơ sở để phát triển tấn công, lợi dụng t́nh h́nh suy yếu của quân ngụy sau khi Mỹ rút đi để từng bước làm thay đổi so sánh (tương quan) lực lượng về mọi mặt, tiến tới tiêu diệt và đánh đổ chúng.

 

Phần nhận định này đă kết luận như sau:

“Lực lượng của ta là lực lượng độc lập dân tộc của cả nước gắn liền với lực lượng xă hội chủnghĩa ở miền Bắc, v́ vậy chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn thuận lợi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, tiến tới ḥa b́nh thống nhất tổ quốc giữa lúc phong trào ba nước Đông Dương đang trên đà tấn công mạnh mẽ dành thắng lơi ngày càng to lớn”.

 

-   Phần thứ hai dài 12 trang nói về Quyết Tâm Chiến Lược: Bộ Chính Trị hạ quyết tâm động viên những nỗ lực lớn nhất củaa toàn đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện tương quan lực lượng trên chiến trường Miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín mùi tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan ră ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, dành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng Miền Nam, thực hiện một Miền Nam Việt Nam ḥa b́nh, độc lập, dân chủ, trung lập, phồn vinh tiến tới thực hiện ḥa b́nh thống nhất nước nhà.

-                     Phần thứ ba dài 9 trang nói về việc nắm vững phương hướng một số công tác lớn:

 

“Kế hoạch chiến lược năm 1975 là thể hiện 3 đ̣n chiến lược: Đ̣n chủ lực, đ̣n phá b́nh định và đ̣n đô thị, nhằm tạo điều kiện đầy đủ để tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

 

Kế hoạch năm 1975 có ư nghĩa rất quan trọng là kế hoạch “bản lề”, chuyển nhanh tương quan lực lượng có lợi cho ta, sẵn sàng nắm thời cơ và tạo điều kiện đầy đủ cho tổng khởi nghĩa.

 

Năm 1976: Khi đă có đủ điều kiện và thời cơ, ta phát động tổng công kích, tổng khởi nghĩa, sử dụng toàn bộ lực lượng của ta ở Miền Nam, có kế hoạch sử dụng lực lượng dự bị chiến lược ở miền Bắc, tập trung lực lượng cao nhất, họp lư nhất ở hướng chủ yếu, tập trung ưu thế binh hỏa lực tiêu diệt từng Sư Đoàn ngụy, vây hăm tập kích Thành Phố, làm tan ră chính quyền địa phương tiến đến thành lập chính quyền cách mạng ở trung ương”.

-   Phần thứ tư dài chỉ có 4 trang nói về Tập Trung Chỉ Đạo. Trong phần này, bản nghị quyết nói rằng “Bộ Chính Trị cần có kế hoạch trực tiếp theo dơi t́nh h́nh và chỉ đạo phối hợp các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, động viên nhân lực v.v...Bộ Chính Trị cũng theo dơi và chỉ đạo về tinh thần và tư tưởng của tất cả cán bộ cũng như là tổ chức và sắp xếp cán bộ và sau cùng là lệnh cần phải tuyệt đối giữ bí mật về kế hoạch này.

 

Bản nghị quyết này do chính Lê Duẫn kư nhân danh là Bí Thư Thứ Nhất thay mặt cho Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam. Văn Kiện Đảng: Trang 32-70.

 

Bản nghị quyết ngày 20 tháng 1 là một văn kiện vô cùng quan trọng của Bộ Chính Trị, lập trường cứng rắn hơn so với bản nghị quyết ngày 8 tháng 1, tuy nhiên trong bản nghị quyết này, nhóm lănh đạo Hà Nội vẫn c̣n nhắc đến mục tiêu năm 1976 và có thể qua đến năm 1977 “Về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang: Chuẩn bị lực lượng cho năm 1975, năm 1976 và sẵn sàng cho cả năm 1977”. Như vậy th́ vào thời gian đó, Hà Nội vẫn c̣n chưa có định tổng tấn công để chiếm trọn Miền Nam vào năm 1975.

 

Trận Ban Mê Thuột

 

Nắm chắc được yếu tố người Mỹ sẽ bỏ rơi Miền Nam, cộng sản Bắc Việt thi hành Chiến Dịch 275 dưới quyền chỉ huy của Thượng Tướng Văn tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vừa mới được cử vào Miền Nam cùng với Bộ Tham Mưu gồm có Đinh đức Thiện, Trần ngọc Hiền v.v...mang bí danh là Đoàn A-75. Vào ngày 10 tháng 3 năm l975, cộng sản tung năm sư đoàn 312, 316, 320, 341 và F-10 chính quy của cộng sản Bắc Việt tấn công vào Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 23 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Ḥa cùng với các đơn vị yểm trợ, tuy nhiên các Trung Đoàn chủ lực của Sư Đoàn này th́ đang trấn đóng chung quanh Pleiku.

 

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́ vào đầu năm 1975, Pḥng 2 T́nh Báo của Quân Đoàn II có đủ ước tính về hoạt động và mục tiêu của địch vào giữa tháng 2 năm 1975, theo đó th́ có ít nhất là 5 sư đoàn chính quy của cộng sản Bắc Việt đang hiện diện trong vùng chung quanh Ban Mê Thuột và Pleiku. Tuy nhiên các tin tức t́nh báo này tường tŕnh lên cho Quân Đoàn không được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú lưu tâm và cứu xét v́ trong thâm tâm th́ vị Tư Lệnh Quân Đoàn II cho rằng các hoạt động của cộng sản chung quanh Ban Mê Thuột chỉ là chiến thuật nghi binh, Ban Mê Thuột chỉ là diện và Tướng Phú nghĩ rằng Pleiku mới là điểm, Pleiku mới chính là mục tiêu của cộng sản Bắc Việt. Với quan niệm như vậy, Tướng Phú giao nhi ệm vụ pḥng thủ Ban Mê Thuột cho một Liên Đoàn Biệt Động Quân cùng với các lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân mà phần lớn là người Thượng.

 

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́: “Đầu tháng 3 năm 1975, khi nhận được tin sư đoàn 320 của Bắc Việt đang di chuyển về hướng Ban Mê Thuột, Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Pḥng 2 Quân Đoàn II đă khẩn cầu Tướng Phú đưa toàn bộ 3 Trung Đoàn của Sư đoàn 23 về pḥng thủ Ban Mê Thuột, nhưng vào phút chót nghe theo lời Cố Vấn của vị Tư Lệnh Sư Đoàn 23 là Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tướng Phú mới ra lệnh chỉ cho một Trung Đoàn, Trung Đoàn 53, từ Pleiku về tăng cường pḥng thủ cho Ban Mê Thuột”. Nguyễn Kỳ Phong: Sách đă dẫn. Trang 122-123.

 

Một nhân vật khác tại Vùng II là Trung Tá Ngô Văn Xuân có kể lại cho biết chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng biết rơ về dự định tấn công này của cộng sản đúng một tháng trước ngày Ban Mê Thuột bị tấn công. Trung Tá Xuân là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44 thu ộc Sư Đoàn 23 cho biết rằng “vào dịp Tếtất Măo, ngày 11 tháng 2 năm 1975, nhân dịp Tổng Thống Nguyễn Văn Thíệu viếng thăm các Chiến Sĩ ngoài mặt trận, tại Bộ Chỉ Huy hành quân của Trung Đoàn 44 trong căn cứ 801, Trung Tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng Pḥng 2 Sư Đoàn đă có tŕnh bày và nhấn mạnh đến việc khai thác một hàng binh cộng sản là Thượng Sĩ Sính thuộc sư đoàn 320 của cộng sản Bắc Việt, anh ta cho biết là Bắc Việt sẽ tấn công vào Ban Mê Thuột với 4 sư đoàn: Sư đoàn 320, 968, F10 và một sư đoàn không rơ danh hiệu (về sau th́ biết rơ đó là sư đoàn 316) cùng với sự yểm trợ của 1 trung đoàn chiến xa, 2 trung đoàn pháo binh và 1 trung đoàn đặc công.

 

Sau khi nghe như vậy th́ Tổng Thống Thiệu quay sang hỏi Tướng Phạm Văn Phú và Tướng Phú đáp rằng: “Có thể cộng sản đưa ra kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng ta”. Theo Tướng Phú th́ Ban Mê Thuột chỉ là “diện” c̣n Pleiku mới là “điểm” v́ Pleiku có cơ sở đầu năo, nếu địch tiêu diệt được th́ chúng sẽ dễ dàng chế ngự toàn thể Vùng Cao Nguyên.

 

Sau khi nghe như vậy, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ Sư Đoàn 23 Bộ Binh và 1 Chi Đoàn chiến xa M.48 về Ban Mê Thuột và hứa sẽ tăng cường cho Quân Đoàn II một Liên Đoàn Biệt Động Quân. Nhưng không hiểu v́ lư do ǵ mà măi cho đền ngày 17 tháng 2, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 mới thi hành lệnh của Tổng Thống Thiệu: Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Trung Đoàn 45 sẽ di chuyển trước về Ban Mê Thuột, c̣n Trung Đoàn 44 th́ sẽ ở lại chờ bàn giao khu vực trách nhiệm cho Biệt Động Quân rồi sẽ rút sau. Vào khoảng 11 giờ ngày 18 tháng 2, trong lúc đoàn xe của Bộ Tư lệnh Sư Đoàn tại Hàm Rồng sắp sửa di chuyển th́ Tướng T-ường được Lệnh của Quân Đoàn hủy bỏ kế hoạch tái phối trí. Đến 12 giờ trưa Tư-ớng Tường gọi điện thoại nói cho Trung Tá Xuân biết rằng Tướng Phú vẫn giữ nguyên lập luận cho rằng Ban Mê Thuột chỉ là “diện”, Pleiku mới chính là “điểm” của các cuộc tấ n công của cộng sản. Hà Mai Việt: Thép và Máu, tác giả xuất bản, Texas, 2005, trang 172.

 

Như vậy th́ cả hai nguồn tín này đều cho thấy Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đă mắc vào kế “nghi binh” của cộng sản cho nên quá tin tưởng vào lập luận Ban Mê Thuột là diện, Pleiku mới là điểm cho nên khi cộng sản tấn công th́ ta chỉ có một Trung Đoàn 53 Bộ Binh pḥng thủ Thành Phố này.

 

Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Darlac có cho biết thêm rằng ông “đă nhiều lần xin tăng cường quân chính quy về pḥng thủ Darlac nhưng đến ngày 4 tháng 3 th́ Tướng Phú mới bằng ḷng cho Trung Đoàn 45 Bộ Binh về Ban Mê Thuột. Lệnh di chuyển đă được ban hành, hai giờ chiều cùng ngày, toàn thể các đơn vị thuộc Trung Đoàn 45 đă lên xe chờ lệnh của Tướng Tường là chuyển bánh. Không ngờ ngay lúc đó, cộng quân Pháo kích vào Thị Xă Pleiku và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Tướng Phú đang ở Nha Trang được báo cáo về vụ pháo kích này đă gọi cho Tướng Tường và không ngần ngại hét lên trong máy: “tôi ra lệnh cho Trung Đoàn 45 Bộ Binh không di chuyển về Ban Mê Thuột nữa, ở lại Pleiku v́ mặt trận Pleiku dă bùng nổ rồi”.

 

Đại Tá Luật cũng cho biết là vào ngày 9 tháng 3, một ngày trước khi cộng sản tấn công, Tướng Phạm Văn Phú đă đến Ban Mê Thuột để duyệt xét t́nh h́nh. Khi Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 tŕnh bày về kế hoạch pḥng thủ Ban Mê Thuột với những đơn vị như Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 23 Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Bộ Chỉ Huy Chi Khu Ban Mê Thuột, Hậu Cứ của Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh, Kho Đạn Mai Hắc Đế và Trung Đoàn 53 làm trừ bị đóng ở Phi Trường Phụng Dực. Ông cho biết rằng “nghe xong, Tướng Phú có vẻ bài ḷng, không chê trách cũng bông có chỉ thị đặc biệt nào”.

 

Đại Tá Luật cho biết thêm là Trung Đoàn 53 do Trung Tá Vơ Văn Ân chỉ huy lúc đó đóng ở Phi Trường Phụng Dực tuy gọi là Trung Đoàn Nhưng trên thực tế chỉ có Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và một Tiểu Đoàn Bộ Binh cùng với sự yểm trợ của một Trung Đội Pháo Binh 105 ly mà thôi. Như vậy th́ khi cộng quân tấn công vào Ban Mê Thuộc, lực lượng pḥng thủ Thị Xă này chỉ có một Tiểu Đoàn Bộ Binh đóng tại Phi Trường Phụng Dực tức là bên ngoài Thành Phố, một vài Tiểu Đoàn Địa Phương Quân và một số đơn vị Tiếp Vận và Hành Chánh, một số Tân Binh đang ở trong thời kỳ huấn luyện, với một lực lượng èo uột như vậy, làm sao mà Ban Mê Thuột lại có đủ khả năng chiến đấu chống lại sự tấn công của 5 sư đoàn Bắc Việt với sự yểm trợ của chiến xa và trọng pháo?

 

Không hiể u sau khi nghe tường tŕnh về sự pḥng thủ Ban Mê Thuộc, một Thành Phố quan trọng nhất tại Cao Nguyên với một lực lượng như vậy, tại sao mà vị Tư Lệnh Quân Đoàn II lại có thể hài ḷng được? Hà Mai việt: Sách đă dẫn, trang 334-335

 

Theo tài liệu của Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp trong cuốn sách “Tổng Hành Dinh Trong Mùa Xuân Toàn Thắng” th́ vào lúc đó cộng sản Bắc Việt đang có 4 sư đoàn 10, 316, 320 và 968 cùng với 4 trung đoàn bộ binh 95A, 95b, 25 và 271 trong vùng Ban Mê Thuộc. Ngoài ra c̣n có 5 trung đoàn cao xạ pḥng không và pháo binh, một trung đoàn xe tăng, một trung đoàn đặc công, hai trung đoàn công binh, một trung đoàn truyền tin và các đơn vị hậu cần và vận tải cùng với sự có mặt của Sư đoàn 3 thuộc Quân Khu 5 của cộng sản làm nghi binh. Bộ Tư Lệnh của mặt trận này được mang bí danh là A.75 được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Tướng Văn tiến Dũng và hai Tướng lănh khác là Đinh đức Thiện, em ruột của Lê đức Thọ và Lê ngọc Hiền. Trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân”, Tướng Văn tiến Dũng sau này cho biết vào đầu tháng 3 năm 1975, khi Quân Ủy Hội của cộng sản Bắc Việt đang họp ở Hà Nội để thảo luận chi tiết về việc đánh Ban Mê Thuột th́ Lê đức Thọ, Ủy Viên Bộ Chính Trị, đă bước vào pḥng họp và nghiêm khắc phê b́nh các cấp chỉ huy quân sự như sau: “Chúng ta có 5 sư đoàn mà không đánh được Ban Mê Thuột là thế nào?”

 

Ngoài những đơn vị tác chiến nói trên, cộng sản Bắc Việt c̣n có thêm một lực lượng pháo binh vô cùng hùng hậu để tham dự vào trận tấn công vào Thành Phố Ban Mê Thuột. Trong cuốn sách “Pháo Binh Xuân 1975”, Tướng Doăn Tuế, Tư Lệnh Pháo Binh của Bắc Việt cho biết rằng họ có hai trung đoàn pháo binh 675 và 40, thêm vào có c̣n có một trung đoàn pháo của sư đoàn 316, một trung Đoàn pháo của sư đoàn 10, như vậy là tổng cộng tất cả là 4 trung đoàn pháo binh, quân số c̣n đông hơn cả một sư đoàn. Tướng Doăn Tuế cho biết rằng trong ba tiếng đồng hồ, từ giờ rưỡi cho đến 5 giờ rưỡi sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi cộng sản mở màn cuộc tấn công vào Thành Phố Ban Mê Thuột, pháo binh của họ đă bắn 500 viên đạn và sau đó từ 8 giờ rưỡi sáng cho đến tối ngày 10 tháng 3 họ đă bắn thêm 5.000 viên đạn. Tướng cộng sản Doăn Tuế cho biết thêm rằng sau đó, cho đến khi họ hoàn toàn chiếm được Ban Mê Thuột, th́ pháo binh của họ c̣n bắn thêm 6.000 viên đạn nữa và như vậy th́ Thành Phố Ban Mê Thuột nhỏ bé này đă lănh tất cả là trên 11.000 viên đạn đại bác của cộng sản trong ṿng một tuần lễ.

 

Tại Vùng Kontum-Pleiku-Ban Mê Thuột thuộc Vùng II Chiến Thuật, về quân số th́ Việt Nam Cộng Ḥa chỉ có 1 Sư Đoàn Bộ Binh với 3 Trung Đoàn Bộ Binh và 7 Liên Đoàn Biệt Động Quân, tổng cộng vào khoảng 10 Trung Đoàn, trong khi đó về phía cộng sản th́ họ có 5 sư đoàn, mỗi sư đoàn có tới 4 trung đoàn, như vậy th́ tổng số lên đến 20 trung đoàn. Nếu cộng thêm với những đơn vị pháo binh, chiến xa, pḥng không và hậu cần khác, tất cả vào khoảng 15 trung đoàn nữa th́ tổng số lực lượng của cộng sản Bắc Việt trong cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột lên tới khoảng trung đoàn.

 

Trong vùng Ban Mê Thuột, về phía Việt Nam Cộng Ḥa chỉ có một Trung Đoàn “trừ” v́ thực sự chỉ có 1 Tiểu Đoàn Bộ Binh, đó là Trung Đoàn 53 đóng tại Phi Trường Phụng Dực, một Liên Đoàn Biệt Động Quân chừng vài ba Tiểu Đoàn đóng ở Buôn Hô, cách Ban Mê Thuột chừng hơn 30 cây số về hướng Bắc cộng với một số đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, một số các đơn vị yểm trợ như Quân Y, Quân Cụ, Quân Vận, Quân Nhu, Truyền Tin v.v...theo ước tính của người Mỹ th́ tổng số binh sĩ trong các đơn vị tiếp vận không tác chiến này được chừng vào khoảng hai Tiểu Đoàn.

 

Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng “ngày 6 tháng 3, sau khi cộng quân đánh chiếm Thuần Mẫn trên Quốc Lộ 14 và cắt dứt Quốc Lộ 21 ở Bắc Khánh Dương th́ Tướng Phú mới bắt đầu nghĩ  lại vấn đề. Tuy lo lắng về những biến chuyển, nhung Tướng Phú vẫn chưa dứ t khoát với những định kiện của ḿnh về mục tiêu thật của cộng quân. Tướng Phú cho Liên Đoàn Biệt Động Quân đến Ban Mê Thuột không phải để bổ sung cho quân trú pḥng mà là để truy lùng và bảo vệ Buôn Hô, một địa điểm cách Ban Mê Thuột khoảng 30 cây số về hướng Bắc. Đích thân Trung Tướng Phú đến Ban Mê Thuột vào ngày 8 tháng 3 để thị sát vị trí pḥng thủ và kế hoạch ứng chiến của Thành Phố. Tướng Phú ra lệnh phân Phối vũ khí chống chiến xa như súng M 72 và hỏa tiễn TOW. Để đề pḥng thêm, ông ra lệnh di chuyển số đạn dược trong kho ra nhiều nơi”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 122-123.

 

Như vậy th́ t ỷ lệ quân tác chiến tại Ban Mê Thuột là khoảng 1 Trung Đoàn của Việt Nam Cộng Ḥa phải chiến đấu chống lại một số quân cộng sản Bắc Việt đông gấp 20 lần. Tuy nhiên, dù bị tấn công với một lực lượng quá hung hậu như vậy, Trung Đoàn 53 (trừ) cũng đă cầm cự và gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị cộng sản tại Phi Trường Ph ụng Dực khiến cho mũi tấn công vào khu vực nầy bị khựng lại, các tổ kháng cự khác như kho đạn tại Trại Mai Hắcc Đế cũng đă anh dũng đẩy lui các cuộc tấ n công của bộ binh và xe tăng cộng sản cho đến khi vị Đại Úy chỉ huy kho đạn nầy bị thương vào trưa ngày 10 tháng 3. Bộ Chỉ Huy Tiể u Khu Ba Mê Thuột chống trả rất mănh liệt các cuộc tấn công bằng bộ binh và chiến xa của địch cho đến khi Trung Tâm Hành Quân bị địch phá hủy hoàn toàn và không c̣n liên lạc được với bên ngoài, do đó mà Tiểu Khu phải di tản sang Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn 23. Xe tăng và bộ binh của cộng sản Bắc Việt bao vây t ứ bề Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, tuy nhiên các chiến sĩ pḥng vệ đă chống trả vô cùng mănh liệt cho đến tối hôm đó. Cộng sản đă cho tăng viện thêm sư đoàn 316 nhằm tấn công đứt điểm Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 23, tuy nhiên, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 đă yêu cầu Không Quân oanh t ạc vào quân Bắc Việt sát ṿng đai pḥng thủ khiến cho nhiều chiến xa bị hủy diệt. Chẳng may một trái bom của ta rơi trúng ngay Bộ Chỉ Huy khiến cho tất cả hệ thống truyền tin bị tiêu hủy và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cũng như các đơn vị không c̣n liên lạc được với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương và kể từ sang ngày 11 tháng 3 th́ Ban Mê Thuột bị xem như thất thủ. Đại Tá Vũ Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 và Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Darlac sau đó bị cộng sản Bắc Việt bắt làm tù binh.

 

Ngày 14 tháng 3, Trung Đoàn 45 và một Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 44 của Sư Đoàn 23 được trực thăng vận từ Pleiku xuống Phước An, một Quận lỵ cách Ban Mê Thuột chừng 30 cây số về huớng Đông với mục đích giải tỏa cho Ban Mê Thuột. Tuy nhiên Phước An là nơi hàng ngàn người tỵ nạn từ Ban Mê Thuột và các vùng phụcận chạy về, hàng ngàn binh sĩ thất lạc đơn vị cũng chạy về tập trung tại đó khiến cho t́nh tr ạng trở nên thiếu tr ật tự và hỗn loạn. Ngày 18 tháng 10, cộng sản tấn công và tràn ngập Phước An và sau đó th́ toàn Tỉnh Darlac bị xem như là hoàn toàn rơi vào tay quân cộng sản.

 

Nhận định về việc Ban Mê Thuột bị thất thủ, trong cuốn The Final Collapse, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên nói rằng:

“Ban Mê Thuột mất v́ chúng ta không đủ quân để pḥng thủ khi dịch tấn công. Cộng quân không những có những ưu điểm bất ngờ về chiến thuật, họ có luôn thế thượng phong về quân Số với 5 sư đoàn bộ binh và các trung đoàn xe tăng và pháo binh yểm trợ. Khi cộng quân tấn công Ban Mê Thuột, chúng ta không đủ quân để cầm cự với quân của Trung Đoàn 53 (trừ), Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, lực lượng đó không đủ để đối đầu với 3 sư đoàn cộng sản Bắc Việt và các lực lượng thuộc. Khi Quân Đoàn II quyết định đem quân về giải vây Ban Mê Thuột th́ quá trễ: Quân tăng viện đến từng toán nhỏ, đường tiến về Ban Mê Thuột hoàn toàn bị cô lập” Cao Văn Viên: Sách đă dẫn. Trang 121-123.

 

Sau Phước Long, Darlac là Tỉnh thứ nh́ của Việt Nam Cộng Ḥa bị cộng sản Bắc Việt thôn tính, tuy nhiên về phía Hoa Kỳ th́ vẫn không hề có một sự phản kháng chính thức nào trước những vi phạm nghiêm trọng đối với bản Hiệp Định Paris mà Bắc Việt đă kư kết với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1973.

Ngày 11 tháng 3 năm 1975, Hà Nội gửi một bức điện văn mang số 01/TK của “anh chiến” tức là Vơ Nguyên Giáp gửi cho “anh Tuấn” tức là Văn tiến Dũng chuyển lời khen ngợi của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương về việc chiếm được Ban Mê Thuột và kèm theo một số chỉ Thị như sau: “Cần phải có tinh thần khẩn trương và mạnh bạo, kịp thời lợi dụng thời c ơ để dành thắng lợi lớn, phải nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị địch c̣n lại và nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, bao vây và tiêu diệt sau” Văn Kiện Đảng: trang 111-112

 

Sau khi nhận được 4 bức điện văn của Hà Nội. Văn tiến Dũng đă gởi bức điện văn mang số 05 ngày 14 tháng 3 năm 1975 của “Anh Tuấn gởi cho bộ chính trị và quân ủy trung ương báo cáo những ư kiến sơ bộ qua một số ngày đầu thực hiện chiến dịch mùa khô 1975 và chủ trương tuyên truyền chiến thắng Buôn Mê Thuột”. Trong bức điện văn này Văn tiến Dũng báo cáo những ưu điểm để rút kinh nghiệm áp dụng vào việc tấn công những Thành Phố khác và ca tụng việc để cho ủy ban nhân dân tỉ nh tuyên truyền về chiến thắng của “nhân dân miền Nam” chứ không phải là của 5 sư đoàn Bắc Việt.

 

          Sau khi chiếm được Ban Mê Thuột một cách quá dễ dàng. Lê Duẫn tuyên bố rằng: Trước đây ta dự kiến 2 năm, nay có Phước Long, Ban Mê Thuột ta có thể đẩy mạnh hơn, đây có phải là mở đầu cuộc tổng tấn công và nổi dậy không?

 

 

(Xin đọc tiếp phần 5)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính