Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 

- Phần 13 -

 

Trần Đông Phong

 

 

NGÀY THỨ BA, 29 THÁNG 4 NĂM 1975

 

Vào lúc 4 giờ Sáng ngày 29, cộng quân pháo kích nhiều trái đạn đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly vào khu vực Phi Trường Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Bến Bạch Đằng. Cuộc pháo kích này đă gây nhiều tổn thất quan trọng tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt: Một chiếc C-130 của Không Lực Hoa Kỳ bị trúng đạn khi sắp sửa cất cánh, hai chiếc C-130 khác chở người tỵ nạn may mắn đă cất cánh trước đó chừng vài ba phút và hai Binh Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Hạ Sĩ Darwin Judge và Hạ Sĩ Cbarles McMahon, vừa mới được đưa đến Sài G̣n cách đó 10 ngày để phụ trách về an ninh cho chiến dịch di tản Mỹ kiều, bị tử thương trong ṿng đai pḥng thủ Phi Trường. Hai Binh Sĩ này là hai người Mỹ cuối cùng bị thiệt mạng trong lịch sử Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam trong hai thập niên.

 

Một điều đáng chú ư là dường như McMahon là một cái tên định mệnh: Người Mỹ đầu tiên bị chết tại Việt Nam là Trung Tá Peter Dewey, nhân viên của cơ quan T́nh Báo OSS, là một người Mỹ rất ủng hộ Việt Minh, ông ta đă nhiều lần lên tiếng phản đối người Pháp và tiếp xúc trực tiếp với các đại diện của Việt Minh, do đó đă bị người Pháp yêu cầu phải rời khỏi Sài G̣n. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trung Tá Dewey phải trở về Ấn Độ, tuy nhiên v́ máy bay bị trục trặc, ông từ Phi Trường Tân Sơn Nhứt lái xe trở về Sài G̣n ăn trưa và đă bị tự vệ của Việt Minh tưởng lầm là người Pháp cho nên bắn chết tại cầu McMahon, lúc đó người Việt Nam gọi là cầu “Bạc Má Hồng”, sau này là cầu Công Lư. Đúng 30 năm sau th́ người Mỹ cuối cùng bị giết chết tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt v́ đạn pháo kích của quân cộng sản Bắc Việt vào rạng sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 là một Hạ Sĩ Quan Mỹ cũng mang tên là McMahon, cái tên mà người Việt ngày xa đă gọi là “bạc má hồng”.

 

Sau trận pháo kích này, kế hoạch di tản người Mỹ và người Việt tỵ nạn bằng phi cơ C-130 xem như là bị hủy bỏ hoàn toàn v́ Phi Trường Tân Sơn Nhứt đă bị hư hại nặng nề.

 

Đến 10 giờ 30 sáng, Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quân Sự tại Sài G̣n, gọi điện thoại cho Đô Đốc Noel Gayler, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái B́nh Dương tại Honolulu báo cáo rằng Phi Trường Tân Sơn Nhứt không c̣n ở trong t́nh trạng sử dụng được nữa. Tin này được tŕnh lên cho Bộ Trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger đang tham dự phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các tại Bạch Cung và ông ta đă phúc tŕnh ngay cho Tổng Thống Ford.

 

Vào lúc 7 giờ sáng tại Washington tức là 7 giờ tối tại Sài G̣n, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia đă triệu tập một phiên họp khẩn cấp dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Gerald Ford với sự hiện diện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, Bộ Trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger, Đại Tướng George Brown, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân (Jcs) và ông William Colby, Tổng Giám Đốc Cơ Quan T́nh Báo CIA. Phiên họp đặc biệt này nhắm vào việc t́m giải pháp hữu hiệu để di tản những người Mỹ c̣n lại ở Sài G̣n. Ngoại Trưởng Kissinger bác bỏ đề nghị sử dụng khu trục cơ để hộ tống cho phi cơ vận tải C-130, ông nói rằng nên thận trọng không có những hành động tấn công gây hấn để gây hiểu lầm cho Hà Nội trong lúc này. Sau cùng th́ Hội Đồng chấp thuận đề nghị dung ḥa của Đại Tướng George Brown, đó là thử dùng 7 phi cơ C-130 từ Phi Luật Tân và Thái Lan bay đến Phi Trường Tân Sơn Nhứt, nếu những phi cơ này c̣n đáp xuống được th́ chiến d ịch di tản bằng phi cơ có cánh sẽ tiếp tục, tuy nhiên trong trường hợp phi đạo không c̣n sử dụng được th́ phải quay sang sử dụng kế hoạch cuối cùng, đó là kế hoạch “Frequent Wind: Option-IV”.

 

Đến 9 giờ 45 sáng, Tổng Thống Ford đă triệu tập một phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các tại Bạch Cung. Mở đầu phiên họp, Tổng Thống Ford nói rằng “trong hai tu ần lễ vừa qua, Hoa Kỳ đă gặp phải rất nhiều khó khăn. Tuy cho đến giờ này th́ việc di tản đang diễn ra một cách tốt đẹp nhưng chúng ta cũng vẫn chưa thoát ra được những khó nhăn có thể xảy ra. Mục tiêu của chúng ta là ngăn không để cho hỗn loạn xẩy ra tại Nam Việt Nam rồi sẽ gây ra nguy hiểm cho việc di tản của người Mỹ, ngăn ch ận những hoạt động của Bắc Việt và giữ cho t́nh h́nh được ổn định nhằm hoàn tất cuộc di tản.

 

Ngoại Trưởng Kissinger phúc tŕnh rằng cho đến giờ này (9 giờ 45 tối tại Sài G̣n), chỉ c̣n có khoảng từ 300 đến 400 người Mỹ c̣n đang hoạt động trong khuôn viên Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ và trong hơn hai ngày qua, có bơn 4.650 người đă được di tản ra khỏi Sài G̣n, nâng tổng sổ người được Hoa Kỳ di tản lên đến con số gần 45.000 người, trong số này chỉ có từ 500 đến 600 là người Mỹ.

 

Bộ Trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger báo cáo rằng c̣n có khoảng 700 người tại Trụ Sở của Văn Pḥng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ tại Tân Sơn Nhứt nhưng phi cơ vận tải C130 không thể đáp xuống được nữa, do đó phải di tản bằng trực thăng từ trên sân thượng của Ṭa Đại Sứ. Ông cho biết thêm rằng vấn đề này cũng gặp phải khó khăn v́ chỉ có hai chiếc trực thăng có thể đáp xuống cùng một lúc và quân Bắc Việt đă bắn vào trực thăng di tản.

 

Ngoại Trưởng Kissinger nói rằng mặc dù Tổng Thống Ford đă ra lệnh là chỉ di tản người Việt Nam nếu các phi cơ vận tải C-130 c̣n đáp xuống được Phi Trường Tân Sơn Nhứ t và trong trường hợp không c̣n sử dụng phi cơ C-130 nữa th́ chỉ di tản người Mỹ mà thôi, tuy nhiên tại Sài G̣n Đại Sứ Martin và Thiếu Tướng Homer Smith đă quyết định v ẫn tiếp tục di tản cả những người Việt Nam c̣n đang có mặt trong Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ.

 

Tổng Thống Ford nhấn mạnh rằng ông muốn phải di tản ít nhất là từ 43.000 cho đến 45.000 người Việt Nam ra khỏi miền Nam Việt Nam.

 

Bộ Trưởng Morton hỏi Tổng Thống Ford: “những người Việt Nam được di tản này sẽ được đưa đi đâu và trong số này có bao nhiêu người là thuộc thành phần “chuyên nghiệp và có học” (white collar)?

 

Tổng Thống Ford trả lời rằng Bộ Ngoại Giao đang lo giải quyết vấn đề này và sẽ có 3 căn cứ quân sự tại Hoa Kỳ đang được chuẩn bị để đón người tỵ nạn. Tổng Thống Ford cũng cho biết rằng theo Ngoại Trưởng Kissinger th́ một số các quốc gia khác đă được Hoa Kỳ tiếp xúc để đón tiếp một số người tỵ nạn, tuy nhiên có lẽ Hoa Kỳ sẽ đón nhận 90 phần trăm số người này.

 

Ngoại Trưởng Kissinger nói rằng cũng khó mà biết rơ được số người tỵ nạn có đủ tŕnh độ “nghề nghiệ p” và “học vấn” là bao nhiêu tuy nhiên ông đoán chắc rằng có lẽ con số này cũng khá cao. Về đề nghị của Bộ Trưởng Norton dự định đưa một số khoảng 5.000 người tị nạn Việt Nam sang Lănh Thổ Giám Hộ tại Thái B́nh Dương (Pacific trust Territories) của Hoa Kỳ, nơi đó có lẽ sẽ cần đến tài n ăng của những người tỵ nạn này th́ Ngoại Trưởng Kissinger nhận xét rằng “đó có vẻ là một ư kiến hay”.

 

Đó là những chi tiết về phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các Hoa Kỳ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 và Tổng Thống Ford tuyên bố bế mạc phiên họp vào lúc

 

10   giờ rưỡi sáng, tức là 10 giờ rưỡi tối tại Sài G̣n, khoảng hơn 12 tiếng đồng hồ trước khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng”. Cabinet Meeting Minutes. April 29. 1975. Giải mật ngày 12 tháng 10 năm 1990. Tài liệu “Box 4, James E. Connor Files”, lưu trữ tại Thư Viện Gerald Ford tại Grand Rapids, Tiểu Bang Michigan.

11    

Sáng ngày 29 tháng 4, “Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu đă đọc đi đọc lại liên tục trên Đài Phát Thanh Sài G̣n một Bản Thông Cáo của Tân Tổng Thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ. Bản thông cáo đó là Văn thư Số O33-TT/VT của Phủ Tổng Thống nguyên văn như sau:

 

Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa

 

Kính gởi: Ông Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thưa ông Đại Sứ

 

Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại Sứ vui ḷng chỉ thị cho nhân viên của Cơ Quan Tùy Viên Quân Sự DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ kể từ ngày 29.4.1975 để vấn đề Ḥa b́nh Việt Nam sớm được giải quyết.

 

Trân trọng kính chào ông Đại Sứ SAIGON, ngày 28 tháng 4 năm 1975 Kư tên và đóng dấu:

 

Việt Nam Cộng Ḥa-Tổng Thống Đại Tướng Dương Văn Minh

 

Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă phúc đáp như sau:

 

Thưa Tổng Thống,

 

Tôi đă nhận được văn thư nói trên và tôi đă ra chỉ thị thi hành đúng như lời yêu cầu của Tổng Thống.

 

Tôi tin rằng Tổng Thống sẽ ra lệnh cho các lực lượng Quân Đội của chính phủ cộng tác trên mọi phương diện để giúp cho sự triệt thoái của các nhân viên Ṭa Tùy Viên Quân Sự được dễ dàng và trong an toàn.

 

Tôi cũng xin bày tỏ sự hy vọng rằng Tổng Thống sẽ can thiệp với phía bên kia để họ có thể cho phép các nhân viên Ṭa Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ được ra đi trong sự an toàn và trật tự.

Xin chúc Tổng Thống được mọi sự lành. Grabam Martin

Đại Sứ Hoa Kỳ

 

“Tổng Thống” Dương Văn Minh hân hoan đuổi được người Mỹ ra đi và hy vọng rằng sẽ có triển vọng để nói chuyện với “người anh em bên kia” của ông th́ vào lúc 10 giờ sáng ngày hôm đó, Lê Duẩn đă gửi một điện văn “gửi anh Sáu, anh Bảy, anh Tuấn, anh Tư, đồng điện anh Tấn” như sau:

Bộ Chính Trị và Quân Ủy đang họp th́ được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngưng bắn. Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương chỉ thị:

 

1- Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài G̣n theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ Thành Phố, tước vũ khí Quân Đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.

 

2.   Công bố đặt Thành Phố Sài G̣n-Gia định dưới quyền của Ủy Ban Quân Quản do Tướng Trần văn Trà làm Chủ Tịch.

Sẽ có điện tiếp, nhận được điện trả lời ngay.

BA. Văn Kiện Đảng: trang 324.

 

Như vậy th́ Bộ Chính Trị cộng sản Bắc Việt đă có quyết định “giải tán chính quyền các cấp của Tổng Thống “Dương Văn Minh và đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng” chứ không hề nói đến hai chữ “bàn giao” mà ông Dương Văn Minh cùng với nhóm Ḥa Giải Ḥa Hợp của ông đang mong đợi...

 

Sau khi phúc tŕnh về Bộ Tổng Tư Lệnh Thái B́nh Dương tại Hawaii, Tướng Smith tŕnh cho Đại Sứ Martin biết về vấn đề Phi Trường Tân Sơn Nhứt không c̣n có thể sử dụng được cho phi cơ vận tải C- 130 và ông Martin cuối cùng phải nhượng bộ v́ cho đến ngày 29 tháng 4, ông Đại Sứ vẫn cương quyết chống lại lệnh di tản tức khắc tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam của Bộ Ngoại Giao. Thâm ư của Đại Sứ Martin là giữ người Mỹ lại để di tản càng nhiều người Việt Nam ra khỏi Sài G̣n th́ càng tốt chừng đó. Đại Sứ Martin gọi điện thoại thông báo cho Ngoại Trưởng Kissinger và ông Kissinger tŕnh ngay cho Tổng Thống Gerald Ford. Chỉ trong ṿng vài phút, Tổng Thống Ford ra lệnh cho thi hành Chiến Dịch “Frequent Wind, Option IV” tức là kế hoạch di tản toàn bộ người Mỹ ra khỏi Việt Nam vào lúc 10 giờ 51 phút sáng tại Sài G̣n.

 

Trước đó, vào lúc 1 giờ sáng giờ Washington tức là khoảng 1 giờ trưa ngày 29 tháng 4, Đại Sứ Martin nhận được bức điện văn “thượng khẩn” số White House 50782 ngày 29 tháng 4 nguyên văn như sau:

 

Nơi gửi: White House

Nơi nhận: Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ-Sài G̣n

Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger

Gửi đến: Đại Sứ Graham Marizn

 

1.   Tổng Thống đă chủ tọa một phiên bọp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và đă có những quyết định sau đây:

 

A. Nếu ngày hôm nay mà Phi Trường Tân Sơn Nhứt c̣n có thể sử dụng

được cho các loại phi cơ có cánh (phi cơ vận tải C-130) th́ ông Đại Sứ được phép cho di tản những người Việt Nam được xếp vào thành phần có thể bị nguy hiểm đến tính mạng. Cho đến cuối ngày hôm nay ông Đại Sứ phải cho di tản tất cảnhân viên người Mỹ tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt cũng như là tất cả những nhân viên Ngoại Giao tại Ṭa Đại Sứ, ngoại trừ một thiểu số tối cấn thiết cho nhiệm vụ di tản.

 

B. Ông Đại Sứ không được tiết lộ cho ai biết rằng hôm nay là ngày cuối cùng loại phi cơ vận tải C-130 sẽ được sử dụng để di tản từ Phi Trường Tân Sơn Nhứt.

 

C. Nếu Phi Trường trở thành bất khiển dụng đối với phi cơ vận tải và trở thành nguy hiểm nếu bị cộng sản pháo kích, ông Đại Sứ phải tức khắc cho di tản tất cả, lặp lại: Tất cả người Mỹ tại Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự DAO và Ṭa Đại Sứ bằng phương tiện trực thăng. Nếu cần th́ các phi cơ chiến đấu các phi cơ chiến đấu sẽ yểm trợ và hỏa lực sẽ được sử dụng để pḥng vệ trong trường hợp các trực thăng bị tấn công trong khi thi hành việc di tản.

 

2.   Đô Đốc Gayler, Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái B́nh Dương, sẽ nhận được lệnh tương tự từ Bộ Quốc Pḥng.

 

Trân Trọng

Henry A. Kissinger.

 

“Secretary of State Henry Kissinger's Cable on President Ford's Decisions on the Saigon Evacuation, April 29, 1975”. (Công Điện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger về Quyết Định của Tổng Thống Ford trong việc Di Tản Sài G̣n ngày 29 tháng 4 năm 1975). Tài liệu giải mật ngày 10 tháng 1 năm 2000, lưu trữ tại Thư Viện Gerald Ford, Grand Rapids, Michigan.

 

Trong khi bản thông cáo của “Tổng Thống” Dương Văn Minh đ̣i người Mỹ phải triệt thoái nhân viên của DAO được “Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu đọc đi đọc lại nhiều lần trên Đài Phát Thanh Sài G̣n th́ trên Đài Phát Thanh của Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam được gọi tắt là AFRS, vào buổi trưa một ngày cuối tháng 4 nóng bức, người xướng ngôn viên đọc đi đọc lại nhiều lần lời nhắn: “Mother wants you to call home” (Mẹ muốn con gọi về nhà) và người dân Sài G̣n được nghe bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” (Tôi mơ một Giáng Sinh Đầy Tuyết Trắng) phát đi phát lại liên tục trong ngày hôm đó. Lời nhắn và bản nhạc này là mật hiệu báo cho tất cả mọi người Mỹ tại Sài G̣n biết rằng Chiến Dịch Frequent Operation IV đă khởi đầu và tất cả mọi công dân Hoa Kỳ đều phải đến những điểm hẹn đă ấn định sẵn từ trước để được di tản ra khỏi Việt Nam.

 

Trong ngày 29 tháng 4, hàng trăm trực thăng C-53 và C-46 đă từ Hạm Đội Thứ Bảy ngoài khơi bờ biển Việt Nam bay đến Sài G̣n di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người Việt Nam đang tập trung tại các địa điểm như Văn Pḥng DAO ở Tân Sơn Nhứt, các cao ốc của người Mỹ và nhất là Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ trên Đại Lộ Thống Nhất. Đại Sứ Graham Martin không chịu di tản v́ ông muốn ở lại Ṭa Đại Sứ để kéo dài thời gian nhằm di tản thêm một số người Việt Nam dù rằng Ngoại Trưởng Kissinger đă nhiều lần ra lệnh cho ông phải ra đi càng sớm càng tốt.

 

Vào lúc 11 giờ 40 tối 29 tháng 4, một toán chuyên viên chất nổ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đă phá nổ toàn bộ Ṭa Tùy Viên Quân Sự DAO, tức là Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam gọi t ắt là MAC-V trước năm 1973, nơi mà trong hơn 10 năm đă từng là biểu hiệu của sự cam kết của Hoa Kỳ với trên nửa triệu quân nhằm chống lại âm mưu thôn tính Miền Nam Việt Nam của cộng sản Bắc Việt. Sự phá hủy cơ sở này, trước đây được giới báo chí gọi là “Ngũ Giác Đài Phương Đông” (Pentagon East) là dấu hiệu cho biết rằng đối với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam đă kết thúc.

 

Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương Không Chịu Di Tản

 

Trong ngày 29 tháng 4, dù rất bận rộn trong việc di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người tỵ nạn Việt Nam, Đại Sứ Martin cũng đă t́m cách đến gặp Cụ Trần Văn Hương, cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa tại Phủ Phó Tổng Thống trên đường Công Lư lần chót. Theo Giáo Sư Nguyễn Ngọc An, bạn thâm giao của Cụ Hương th́ cuộc gặp gỡ này đă diễn ra như sau:

“Cũng ngày đó, 29 tháng 4 năm 1975, Đại Sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lư với một Tham Vụ Sứ Quán nói tiếng Pháp đại khái Đại Sứ nói:

-   Thưa Tổng Thống, t́nh trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho tới ngày Tổng Thống trăm tuổi già.

 

Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:

 

- Thưa Ngài Đại Sứ tôi biết t́nh trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đă đến đỗi như vậy Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại Sứ. Nhưng tôi đă suy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài G̣n, bao nhiêu đau khổ nhục nhă sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lănh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi t́nh nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại Sứ đă đến viếng tôi.

 

Khi nghe câu: “les États Unis ont aussi leur part de responsibilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách niệm trong đó), Đại Sứ Martin giựt ḿnh nh́n trân trân Ông Trần Văn Hương.

 

Năm 1980, ông thuật lại với tôi: “Dứt câu chuyện, on se sépare sans même se serrer la main” (chúng tôi từ giă nhau mà cũng chẳng có hề bắt tay nhau). Giáo Sư Nguyễn Ngọc An: “Cụ Trần Văn Hương” đăng trên Báo Thời Luận, không rơ ngày.

 

Đây không phải là lần đầu tiên Cụ Trần Văn Hương từ chối lời mời di tản ra ngoại quốc. Trong cuốn Hồi Kư “Saigon ét Moi”, cựu Đại Sứ Pháp Mérillon cho biết rằng trước ngày 28 tháng 4 năm 1975, ông ta có chuyển lời mời Cụ Trần Văn Hương sang sinh sống ở Pháp sau khi giao quyền lại cho Dương Văn Minh th́ cụ đă trả lời như sau:

 

-   Ông Đại Sứ à! Tôi đâu có ngán việt cộng. Nó muôn đánh, tôi sẽ đánh tới cùng. Tôi chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tôi, nước tôi mất, tôi thề sẽ ở lại đây và mất theo nước ḿnh.

  

Cựu Đại Úy Nguyễn Văn Nhựt, Sĩ Quan Tùy Viên của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương cho người viết biết vào những ngày cuối cùng trong tháng 4 năm 1975, Cụ Trần Văn Hương đă nói với các anh em phục vụ tại Phủ Phó Tổng Thống rằng “thấy các em c̣n trẻ tuổi mà phải chịu hy sinh gian khổ v́ chiến tranh “qua” rất thương, tuy nhiên số phận của đất nước ḿnh là như vậy, ḿnh phải đánh cho tới cùng”.

 

Sau khi bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Dương Văn Minh, tối 28 tháng 4, Cụ Trần Văn Hương dă dọn ngay về tư gia ở trong hẻm đường Phan Thanh Giản, tuy nhiên qua sáng ngày hôm sau, 29 tháng 4, Cụ phải trở lại Dinh Phó Tổng Thống đường Công Lư một lần cuối cùng để tiếp kiến Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin khi ông Martin đến từ giă Cụ.

 

Trong một cuộc tiếp xúc với Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên, cựu Phó Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa tại Westminster vào cuối năm 2005, Bác Sĩ Viên có cho người viết biết rằng vào sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông và bà Trần Văn Văn có đến thăm Cụ Trần Văn Hương một lần cuối và Cụ Hương đă nói với hai người rằng hai vị Đại Sứ Pháp và Hoa Kỳ có đến mời ông đi tị nạn nhưng ông đă từ chối ḷi mời của họ.

 

Vào năm 1978, khi việt cộng trả lại “quyền công dân” cho Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem h́nh ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang hồ hởi hân hoan đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

 

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đă từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Trần Văn Hương đă gửi bức thư sau đây đến các cấp lănh đạo chính quyền cộng sản:

...hiện nay vẫn c̣n có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn vơ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lănh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lănh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai th́ ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về.

 

Tôi là người đứng đầu hàng lănh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, xin lănh hết trách nhiệm một ḿnh. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết v́ họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội ǵ cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, c̣n lo làm ăn xây dựng đất nước.

 

Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.

 

Cụ Trần Văn Hương không hề nhận “quyền công dân” của cộng sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 th́ Cụ vẫn c̣n là công dân của Việt Nam Cộng Ḥa.

 

 

NGÀY THỨ TƯ, 3O THÁNG 4

 

Cuộc di tản vẫn tiếp tục trong đêm cho đến rạng ngày 30 tháng 4, tuy nhiên con số người Mỹ c̣n lại ở Sài G̣n vẫn c̣n nhiều. Vào lúc 1 giờ 30 sáng, Ngoại Trưởng Kissinger ra lệnh cho Ṭa Đại Sứ Mỹ phải kết thúc việc di tản vào lúc 3 giờ sáng, giờ Sài G̣n, và Đại Sứ Martin phải ra đi trên chuyến trực thăng trước chuyến bay cuối cùng. Tuy nhiên đến 3 giờ 45 sáng, vẫn c̣n có trên 400 người tại Ṭa Đại Sứ Mỹ trong đó có cả Đại Sứ Martin. Vào lúc 4 giờ 20 sáng, Đô Đốc Gayler đă quyết định kết thúc cuộc di tản và tất cả các Phi Công đều nhận được lệnh như sau: “Đây là lệnh của Tổng Thống Hoa Kỳ và lệnh này phải được chuyển lại bởi bất cứ Phi Công trực thăng nào liên lạc được với Đại Sứ Graham Martin. Chỉ có người Mỹ mới được phép di tản và Đại Sứ Martin phải đáp chuyến trực thăng đầu tiên. Phi cơ chở Đại Sứ Martin phát đi ám hiệu “Tiger, Tiger, Tiger” để báo cho biết rằng ông Martin đă được di tản”.

 

Vào lúc 4 giờ 58 sáng ngày 30 tháng 4, Đại Sứ Martin “bị hộ tống” lên trực thăng mang tên là Lady Ace 09, trên chiếc trục thăng này một Phân Đội Thủy Quân Lục Chiến đă được lệnh bắt giữ ông Đại Sứ để áp tải lên phi cơ nếu ông ta c̣n chống lại lệnh di tản. Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă cố t́nh cưỡng lại lệnh của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhưng ông lại là ân nhân của một số người Việt Nam v́ nếu không có ông th́ họ không có may mắn được di tản ra khỏi Sài G̣n trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975. Theo Ngoại Trưởng Kissinger th́ Đại Sứ Martin đă phối hợp di tản được 6.000 người Mỹ và trên 50.000 người Việt Nam ra khỏi Sài G̣n.

 

Sau khi Đại Sứ Martin bị hộ tống lên trực thăng, trong Ṭa Đại Sứ lúc đó vẫn c̣n gần 200 người Mỹ mà trong số đó có 170 người là lính Thủy Quân Lục Chiến có nhiệm vụ bảo vệ cho chiến dịch di tản. Cuộc di tản vẫn tiếp tục cho đến đúng 7 giờ phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 th́ chiếc trực thăng CH-46 cuối cùng mới rời khỏi sân thượng của Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n mang theo Trung Sĩ Juan Valdez, người lính Mỹ và cũng là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam.

 

Chuyến phi cơ trực thăng cất cánh khỏi sân thượng của Ṭa Đại Sứ Mỹ vào hồi 7 giờ 53 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 này đánh dấu sự kết thúc của chính sách “ủng hộ miền Nam Việt Nam chiến đấu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trong vùng Đông Nam Á của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ qua 5 đời Tổng Thống: Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford trong hơn 20 năm. Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh đă chấm dứt nhưng đối với một số người Việt Nam th́ cuộc chiến vẫn chưa tàn. Vào ngày 30 tháng 4, có một số Chiến Sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn c̣n tiếp tục chiến đấu dù rằng trong vô vọng”.

 

Dương Văn Minh Ra Lệnh Đầu Hàng

 

Vào lúc 10 giờ 24 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, “Tổng Thống” Dương Văn Minh đă đọc nhật lệnh trên Đài Phát Thanh Sài G̣n ra lệnh cho tất cả mọi Quân Nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa phải buông súng đầu hàng. Ông Dương Văn Minh đă tuyên bố như sau:

“Đường lối, chủ trương của chúng tôi là ḥa giải và ḥa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự ḥa hợp ḥa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. V́ lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa hăy b́nh tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu th́ ở đó.

 

Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Ḥa Miền Nam ngưng nổ súng, v́ chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong ṿng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.

 

Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu cũng đọc lời kêu gọi mọi tầng lớp dân chúng hăy chào mừng “ngày Ḥa b́nh cho Dân Tộc Việt Nam” và ra lệnh cho mọi công chức phải trở về nhiệm sở. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tổng Tham Mưu Phó Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa nhân danh Trung Tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả mọi Quân Nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của “Tổng Thống” Dương Văn Minh về vấn đề hưu chiến.

 

Dương Văn Minh cũng đưa ra lời kêu gọi những “người anh em bên kia” hăy ngưng mọi hoạt động gây hấn và ông ta nói rằng chính quyền của ông đang chờ đợi được gặp gỡ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam để cùng thảo luận về “buổi lễ bàn giao quyền hành và để tránh đổ máu cho nhân dân”. Dương Văn Minh không hề đề cập đến cũng như không đưa ra lời kêu gọi nào với cộng sản Bắc Việt, lúc đó dường như ông cố t́nh làm như không biết việc chính cộng sản Bắc Việt mới là những người lănh đạo hàng ngũ những “người anh em bên kia” của ông.

 

Ông Dương Văn Minh chỉ kêu gọi những “người anh em bên kia” trong cái gọi là chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, chắc là ông ta đă nghĩ đến những người lănh đạo trong cái chính phủ này như Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Nguyễn thị B́nh v.v... nhưng ông ta không biết rằng những người mà ông ta kêu gọi đó không hề có một quyền hành nào, c̣n những kẻ có quyền hành lúc đó như Lê đức Thọ, Văn tiến Dũng, Phạm Hùng, ba Ủy Viên Bộ Chính Trị đại diện cho Hà Nội đang thực sự nắm toàn quyền trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh th́ ông ta không có đả động tới.

 

Thượng Tướng Bắc Việt Văn tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt và đồng thời cũng là Tư Lệnh Chiến Trường Miền Nam Việt Nam lúc đó đang nghe lời kêu gọi của Dương Văn Minh trên Đài Phát Thanh Sài G̣n. Ngay sau đó, thay v́ tiến về Sài G̣n để “bàn giao” như lời kêu gọi của Dương Văn Minh, Văn tiến Dũng đă ra lệnh cho “tất cả các quân đoàn, các vùng quân sự và mọi đơn vị các cấp phải tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đă được chỉ định ở sâu trong các Đô Thị cũng như các Tỉnh, kêu gọi địch quân đầu hàng, giao nạp vũ khí và bắt giữ tất cả các Sĩ Quan từ cấp Thiếu Tá trở lên, đập tan ngay tức khắc mọi mưu toan kháng cự”.

 

Ông “Tổng Thống” Dương Văn Minh không thể nào biết được rằng trưa ngày hôm đó, Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương đă gửi điện văn số 516/TV ra lệnh cho các cấp lănh đạo Chiến Dịch Hồ Chí Minh phải “bắt địch đầu hàng vô điều kiện”:

Vấn đề hiện nay là bắt địch đầu hàng không điều điện chứ không phải cử người thương lương với địch để ngưng bắn tại chỗ như có nơi đă làm.

Những nơi địch chịu đầu hàng: Ta kéo quân vào bắt địch, hạ vũ khí và tước vũ khí của chúng, giải tán Quân Đội và bộ máy chính quyền của địch, phát động quân chúng truy kích, tiêu diệt bọn gian ác và phản động c̣n ẩn nấp chống lại ta.

Những nơi địch không chịu đầu hàng: Ta cần phát động quần chúng nổi dậy, kêu gọi binh Sĩ khởi nghĩa kết hợp với mũi tấn công đánh vào các điểm then chốt của địch, tiêu diệt những đơn vị ngoan cố chống lại ta, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện.

Phải đặc biệt chú ư chiếm lĩnh, khống chế các sân bay không để chúng sử dụng các máy bay để chống lại ta và tẩu thoát”. Đại Thắng Mùa Xuân, trang 329-331.

 

Ngoài bức điện văn nói trên, chính Vơ nguyên Giáp thay mặt cho Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương cũng đă gửi bức điện văn số 151 ngày 30 tháng 4 năm 1975 gửi cho “anh Sáu” tức là Lê đức Thọ, “anh Bảy” tức là Phạm Hùng, “anh Tuấn” tức là Văn tiến Dũng, “anh Tư” tức là Trần văn Trà và “anh Tấn” tức là Lê trọng Tấn nội dung như sau:

Theo ư kiến của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương.

1.    Việc chỉ đạo Ủy Ban Quân Quản Sài G̣n-Gia định (kể cả những mệnh lệnh, tuyên bố) giao cho Trung Ương Cục và Quân và Quân Ủy Miền phụ trách.

2.                      Hôm nay sẽ ra một lời kêu gọi của Bộ Chỉ Huy Quân Giải Phóng. Chúng tôi đang dự thảo và cho phát.

3.   Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng Thống mà chỉ với tư cách một ngươi đă sang hàng ngũ nhân dân.

4.   Sẽ tuyên truyền lớn về thắng lơi giải pbóng Sài G̣n-Gia Định, nhưng nhấn mạnh cuộc chiến đấu đang tiếp tục nhằm hoàn toàn giải phóng miền Nam. Đă chỉ thị chuẩn bị ngày mừng chiến thắng, sau khi hoàn thành việc giải phóng miền Nam sẽ tổ chức thống nhất cả nước. Anh Tố Hữu sẽ có điện cho các Anh.

5.  Mười một giờ đă nhận được tin ta cắm cờ trên Dinh Độc Lập.

Gửi các anh lời chúc đại thắng lợi.

Các anh Bộ Chính Trị rất vui, rất vui...

VĂN. Văn Kiện Đảng: Trang 332-333.

 

Như vậy th́ trước khi xe tăng của cộng sản Bắc Việt ủi cổng sắt (đă được mở rộng) để vào chiếm Dinh Độc Lập, nơi mà ông “Tổng Thống” Dương Văn Minh cùng với các ông “Phó Tổng Thống” Nguyễn Văn Huyền, “Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu cùng với một số nhân viên trong “Nội Các” của họ để chờ “bàn giao” cho cộng sản th́ các giới lănh đạo ở Hà Nội đă quyết định không coi ông như là “Tổng Thống” mà chỉ là “một người đă sang hàng ngũ nhân dân”, tức là một kẻ đầu hàng, “đầu hàng không điều kiện” như đă nói trong văn thư số 505 cùng ngày. Các sĩ quan cộng sản cấp dưới cũng đă nhận được lệnh này cho nên đối với họ th́ những người tự nhận là Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng v.v... đang ngồi trong Dinh Độc Lập chỉ là những kẻ đầu hàng mà thôi...

 

Bởi vậy, vào lúc 12 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, khi chiến xa mang số 879 của lữ đoàn thiết giáp 203 của quân đội cộng sản Bắc Việt ủi s ập hàng rào sắt tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, “Tổng Thống” Dương Văn Minh thấy vị sĩ quan cộng sản đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, v́ không biết cấp bậc của quân độ i nhân dân miền Bắc nên ông Minh tưởng rằng đang đứng trước một Tướng lănh cao cấp:

- Thưa Quan Sáu, tôi đă chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.

Viên sĩ quan Bắc Việt chỉ huy đoàn chiến xa này là Thượng Tá Bùi Tùng đă dùng danh từ “mày tao” xằng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:

-  Mày dám nói trao quyền hả? Mày chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nh́n. Mày làm ǵ có quyền nào để trao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây.

Ngoài ra tao xác nhận với mày là tao không phải là Tướng mà chỉ là một Trung Tá Ủy Viên Chính Trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mày không được ngồi xuống!

 

Dương Hiếu Nghĩa: “Hồi Kư Dang Dở”, kể lại theo lời của Trung Tá Nguyễn Văn Binh, cựu Quận Trưởng G̣ Vấp, cựu Dân Biểu, có mặt tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi quân Bắc Việt chiếm Sài G̣n. Xuân Thời Luận, Califonia 2004, trang 141.

 

Người thuật lại những lời đối thoại trên là cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, một người rất thân cận với ông Dương Văn Minh. Vào năm 1963 ông là Thiếu Tá Ngành Thiết Giáp, đă theo Tướng Dương Văn Minh đảo chánh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và đă được Dương Văn Minh tin cậy cử vào phái đoàn đi vào Chợ Lớn “đón” ông Diệm. Trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu đă bị giết trên xe thiết vận xa M-113 và từ đó cho đến nay, có nhiều người vẫn c̣n có nghi vấn là ông Dương Hiếu Nghĩa có thể là một trong những người có trách nhiệm trong cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Chắc chắn rằng ông Dương Hiếu Nghĩa không phải là kẻ thù hay có hiềm khích với ông Dương Văn Minh mà đặt điều viết lại sự đối thoại trên đây nếu chuyện đó không có thật.

 

Chiều hôm đó, cộng sản không cho phép Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng tại Dinh Độc Lập tức là Phủ Tổng Thống của Việt Nam Cộng Ḥa, họ đă áp giải ông đến Đài Phát Thanh Sài G̣n để đọc lời kêu gọi như sau:

Tổng Thống chính quyền Sài G̣n kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài G̣n, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đền địa phương trao lại cho chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam.

 

Ngay buổi chiều ngày 30 tháng 4, Đài Phát Thanh Giải Phóng loan báo kể từ nay, Thành Phố Sài G̣n được cải danh là “thành Phố Hồ Chí Minh”.

 

Kể từ ngày hôm đó, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài G̣n đă mất tên, Sài G̣n không c̣n nữa.

 

Kể từ ngày hôm đó, Quốc Gia Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n nữa. Và cũng kể từ ngày hôm đó, tại Miền Nam Việt Nam Tự Do cũng không c̣n nữa.

 

 

MỘT VÀI SUY NGẪM

 

Đối với người Mỹ, chính sách “be bờ” (containment) nhằm vào mục tiêu ngăn chận sự bành trướng của cộng sản tại Âu Châu từ cuối thập niên 1940 và sau đó tại Á Châu từ đầu thập niên 1950, đă kết thúc tại Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam.

 

Vào tháng 2 năm 1941, khi hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bị quân phiến loạn cộng sản nổi dậy tấn công vào các cơ quan chính quyền tại nhiều địa phương, người Anh tuyên bố rằng họ không c̣n đủ khả năng để giúp cho hai quốc gia này chống lại cộng sản.

 

Ngày 12 tháng 3 năm 1947, Tổng Thống Harry S. Truman ra trước Lưỡng Viện Quốc Hội yêu cầu cho phép chính phủ cung cấp 400 triệu Mỹ kim để viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời cũng xin phép gửi Cố Vấn sang giúp cho hai quốc gia này. Nhờ sự vận động của ông Dean A. Acheson, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao, Quốc Hội đă chấp thuận đề nghị này mà không cần thảo luận và về sau, cũng căn cứ vào quyết định đó của Quốc Hội Hoa Kỳ mà đến năm 1965 Tổng Thống Lyndon Johnson đă gửi Quân Đội Mỹ sang Việt Nam.

 

Sang nhiệm kỳ sau của Tổng Thống Truman, ông Dean Acheson trở thành Ngoại Trưởng Hoa Kỳ và ông ta chính là một trong những người soạn thảo ra chính sách đối ngoại của Tổng Thống Truman: Ngăn chận sự bành trướng của cộng sản Liên Xô ở Âu Châu và các nơi khác trên thế giới. Chính sách này về sau được gọi là Truman Doctrine (chủ thuyết Truman). Sau khi Trung Cộng chiếm được toàn thể lục địa Trung Hoa rồi tham dự vào cuộc chiến tranh Triều Tiên, chủ thuyết Truman được Ngoại Trưởng Dean Acheson áp dụng ngay cả tại Á Châu để “be bờ” sự bành trướng của Trung Hoa cộng sản. Sau khi đảng Cộng Ḥa thắng cử vào năm 1952, Tổng Thống Eisenhower bổ nhiệm ông Jobn Foster Dulles làm Ngoại Trưởng và ông Dulles được nổi tiếng là một người chống cộng sản quyết liệt. Trong thời gian Hội Nghị Genève vào năm 1954, Ngoại Trưởng Trung Cộng Chu ân Lai đă tỏ thái độ ḥa hoăn với Hoa Kỳ bằng cách tươi cười bắt tay Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles nhưng ông Dulles mặt lạnh như tiền không thèm bắt tay Chu ân Lai. Ông Chu ân Lai căm thù người Mỹ từ đó cho đến khi đồng ư tiếp Tiến Sĩ Kissinger vào năm 1971 và Tổng Thống Nixon vào năm 1972 tại Bắc Kinh.

 

Chính sách đối ngoại của ông Dean Acheson là ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản do Nga Xô chỉ đạo tại Âu Châu và ngăn chận Trung Hoa cộng sản tại Á Châu. Có thể nói các vị Ngoại Trưởng Hoa Kỳ sau đó dưới thời các Tổng Thống Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều tiếp tục chính sách đối ngoại đó, một phần cũng v́ tất cả các vị Ngoại Trưởng đó đều có liên hệ rất mật thiết với ông Dean Acheson:

 

-  Luật Sư John Foster Dulles được Ngoại Trưởng Dean Acheson mời làm Cố Vấn về các vấn đề Á Châu cho Bộ Ngoại Giao dưới thời Truman...

-  Ngoại Trưởng Acheson bổ nhiệm ông Dean Rusk làm Phụ Tá Ngoại Trưởng phụ trách về các vấn đề Viễn Đông.

-    Dưới thời Tổng Thống Eisenhower, ông Dulles được bổ nhiệm là Ngoại Trưởng.

-   Ngoại Trưởng Dulles giúp cho bạn là ông Dean Rusk được cử làm Giám Đốc Rockefeller Foundation.

-   Dưới thời Tổng Thống John F. Kennedy, ông Dean Rusk trở thành Ngoại Trưởng Hoa Kỳ.

-   Mcgeorge Bundy, một trong những vị Khoa Trưởng tại Đại Học Harvard và giảng dạy môn “Govemment 180. Hoa Kỳ Trong Các Vấn đề Thế Giới”, đă xin từ chức để giữ chức vụ Cố Vấn về An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Kennedy và Johnson.

-    Tiến Sĩ Henry Kissinger thay thế cho Mcgeorge Bundy giảng dạy môn “Govemment 180. Hoa Kỳ Trong Các Vấn Đề Thế Giới” tại Đại Học Harvard. Kissinger được Mcgeorge Bundy mời làm Cố Vấn về các vấn đề Âu Châu.

-  Em trai của McGeorge Bundy là William Bundy lấy con gái của Ngoại Trưởng Dean Acheson được bổ nhiệm làm Phụ Tá Ngoại Trưởng về các vấn đề Viễn Đông dưới thời Tổng Thống Johnson.

-   Dưới thời Tổng Thống Nixon, Luật Sư William P. Rogers, một đồng nghiệp trong Văn Pḥng của Luật Sư Dulles tại New York được cử làm Ngoại Trưởng.

-   Dưới thời Tổng Thống Nixon, Tiến Sĩ Henry Kissinger được cử làm Cố Vấn về An Ninh Quốc Gia, sau đó trở thành Ngoại Trưởng.

-    Kissinger tiếp tục giữ chức Ngoại Trưởng dưới thời Tổng Thống Gerald Ford.

 

Như vậy th́ chúng ta thấy rằng tuy Hoa Kỳ có thay đổi nhiều vị Tổng Thống trong thời gian từ 1948 cho đến 1980, nhưng về phương diện đối ngoại th́ dường như tất cả đều do băng nhóm của cựu Ngoại Trưởng Dean Acbeson chi phối, do đó chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không hề thay đổi: Be bờ Liên Xô và Trung Hoa cộng sản, đó là mục tiêu chiến lược có liên quan đến quyền lợi của Hoa Kỳ.

 

Sau khi Tổng Thống Nixon sang thăm Bắc Kinh và kư kết bản Thông Cáo Chung Thượng Hải th́ vấn đề be bờ Trung Cộng không c̣n cần thiết nữa, do đó vấn đề Việt Nam cũng không c̣n quan trọng và Việt Nam không c̣n có liên quan ǵ đến quyền lợi của Hoa Kỳ nữa. Trong bản phúc tŕnh lên Tổng Thống Ford ngày 4 tháng 4 năm 1975, Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ có nói rằng “chúng ta đến Việt Nam trước nhất là để giúp đỡ người dân Nam Việt Nam chứ không phải để chiến thắng Bắc Việt.” Tướng Weyand nói rất thành thật, tuy rằng ông đă đề nghị Tổng Thống Ford yêu cầu Quốc Hội viện trợ cho Việt Nam Cộng Ḥa 722 triệu đô la, nhưng có lẽ cả Tổng Thống Gerald Ford và ông đều biết rơ Quốc Hội Hoa Kỳ không c̣n quan tâm đến việc giúp đỡ cho người Việt Nam nữa v́ sau khi đă thỏa hiệp được với Trung Hoa cộng sản, Hoa Kỳ đă đạt được mục tiêu chiến lược của họ và nước Mỹ không c̣n có quyền lợi ǵ để giúp cho Việt Nam Cộng Ḥa nữa.

 

Người Mỹ đă thất bại tại Á Châu nhưng chỉ 14 năm sau th́ toàn bộ khối “Xă Hội Chủ nghĩa” của cộng sản tại Đông Âu hoàn toàn tan ră và 2 năm sau đó th́ đến lượt “thiên đường của Xă Hội Chủ nghĩa” là Liên Bang Xô Viết cũng sụp đổ luôn. Kể từ đầu thập niên 1990, trên thế giới chỉ c̣n có 4 quốc gia tự xưng là theo “Xă Hội Chủ nghĩa” tức là cộng sản, đó là Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, Cộng Ḥa Nhân Dân Triều Tiên, Cộng Ḥa Dân Chủ Cuba và Cộng Ḥa Xă Hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nếu so sánh con số quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản từ sau Đệ Nhị Thế Chiến cho đến khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc th́ có thể nói rằng trong một h́nh thức nào đó, chính sách “be bờ” do Ngoại Trưởng Dean Acheson chủ trương dưới thời Tổng Thống Harry S. Truman đă thành công.

 

 

C̣n cuộc chiến tranh Việt Nam? Ai thắng, ai bại Tại sao mà chiến thắng, tại sao mà thất bại.

 

Người viết xin mượn sự giải thích của Thiếu Tướng John E. Murray, vị Tướng lănh Hoa Kỳ đă giữ chức Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ tại Sài G̣n hồi năm 1973-1974 về nguyên nhân tại sao cộng sản đă chiến thắng tại Việt Nam vào năm 1975:

 

“Nếu bạn muốn biết về Việt Nam th́ bạn phải hiểu về chiến tranh, nếu bạn muốn biết về chiến tranh th́ bạn phải có một ít hiểu biết về số học (anthmetic)

 

Trong thời gian cao điểm của cuộc chiến tranh, có tổng cộng tất cả là 433

 

Tiểu Đoàn chiến đấu của Hoa Kỳ, của các quốc gia Đồng Minh và Việt Nam Cộng Ḥa trong khi đó cộng sản có 60 trung đoàn tác chiến (tức là khoảng 240 tiểu đoàn).

 

Vào năm 1974, khi Quân Đội Hoa Kỳ và Đồng Minh đă triệt thoái khỏi Việt Nam th́ Việt Nam Cộng Ḥa chỉ c̣n có 189 Tiểu Đoàn tác chiến trong khi đó th́ cộng sản Bắc Việt gia tăng lên đến 110 trung đoàn (tức là 440 tiểu đoàn).

 

Sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, hơn 40 phần trăm hỏa lực trên bộ của Quân Đội Mỹ và Đồng Minh bị giảm mất. Lại mất thêm hỏa lực của các pháo đài bay B-52, hỏa lực của các phi cơ oanh tạc F-4 và hỏa lực yểm trợ từ ngoài khơi của hải pháo, tất cả những hỏa lực yểm trợ đó đều không c̣n n ữa. Rồi th́ Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho miền Nam Việt Nam một số ngân khoản chỉ bằng có 2 phần trăm của tổng số ngân khoản mà cho đến năm 1972 người Mỹ đă dùng để đối phó với một lực lượng cộng sản Bắc Việt ítỏi hơn nhiều.

 

Chúng ta biết Napoléon đă từng nói rằng: “Thượng Đế đứng về phe của cái tiểu đoàn lớn nhất”.

 

Đúng như vậy, Thượng Đế đă đứng về phe của những người cộng sản v́ họ lớn hơn, họ mạnh hơn.

 

Đó là lư do tại sao chúng ta đă thua trong cuộc chiến tranh nầy”. Thiếu Tướng John E. Murray: Vietnam As History, trang 143.

 

Trong một cuộc Hội thảo gọi là “Hội Thảo Khoa Học Đại Thắng Mùa Xuân 1975: Bản lĩnh và Trí Tuệ Việt Nam” được tổ chức tại Sài G̣n trong hai ngày 14 và tháng 4 năm 2005, các thuyết tŕnh viên thuộc “Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam” đă cho biết rằng trong 20 năm chiến tranh, Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xă Hội Chủ nghĩa anh em đă viện trợ cho Bắc Việt tổng số khối lượng vũ khí chiến cụ vào khoảng 2.362.581 tấn và riêng trong 2 năm sau Hiệp Định Paris năm 1973 th́ đă có tới 724.512 tấn.

 

Trong khi đó th́ tại Miền Nam Việt Nam, theo cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, th́ vào năm 1975, viện trợ quân sự dành cho Miền Nam bị cắt giảm c̣n 700 triệu Mỹ kim: “ngân khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trong khi đó th́ trong năm 1975, hoạt động quân sự của cộng sản Bắc Việt lại gia tăng 70 phần trăm hơn năm trước. Từ tháng 7 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975, Quân Đội xài trung b́nh 19.808 tấn đạn dược hàng tháng, chỉ bằng 27 phần trăm so với con số 73.356 tấn dùng hàng tháng trong thời gian mấy năm trước đó. Sau tháng 3 năm 1975 với tất cả các đơn vị di tản từ Vùng I và II về th́ t́nh trạng tồn kho trở nên tuyệt vọng. Tháng 4 năm 1975 đạn tồn kho ở 4 kho đạn dự trữ tuột xuống mức độ thấp nhất là chỉ đủ 14 đến 20 ngày cung ứng” Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 85-92.

 

Như vậy th́ vào năm 1975, năm cuối cùng, những tháng cuối cùng và những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam-Bắc, các nước Xă Hội Chủ nghĩa anh em đă gia tăng viện trợ quân sự và riêng Liên Xô th́ đă gia tăng viện trợ gấp 4 lần cho Miền Bắc, trong khi đó th́ Hoa Kỳ lại cắt giảm hơn một nửa viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam và điều hiển nhiên mà lúc đó ai cũng có thể đoán biết là Miền Nam sẽ phải thua trận.

 

Lănh đạo là tiên liệu và hơn 12 năm trước đó, một nhà lănh đạo Miền Nam đă tiên đoán rằng phe nào c̣n có phương tiện để chiến đấu trong 5 phút cu ối cùng th́ sẽ chiến thắng. Trước năm 1963 Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có nói rằng:

“Nếu ở đây, tại nước Việt Nam, mà chúng tôi có thể thành công trong cuộc chiến đấu để bảo vệ chiến tuyến nầy chống lại cuộc tấn công xâm lược của cộng sản th́ như vậy là chúng tôi đă giúp cho toàn thể Thế Giới Tự Do. Và đây là việc mà chúng tôi sẽ làm.

 

Đừng có quên rằng trong Cuộc chiến tranh này, người nào, phe nào mà c̣n có thể chiến đấu được trong 5 phút cuối cùng th́ phe đó sẽ chiến thắng” Marguerite Higgins: Our Vietnam Nightmare, Harper & Row, Publishers, New York, 1965, trang 174.

 

Mười hai năm sau khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị các Tướng lănh giết chết, vào năm 1975, những người lănh đạo của Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa sau ông Ngô Đ́nh Diệm v́ không biết tiên liệu, không có kế hoạch cho nên đă không c̣n có đủ khả năng và phương tiện để chiến đấu trong 5 phút cuối cùng và kết cuộc là Miền Nam đă thua trận.

 

Điều chua xót là người chịu trách nhiệm về việc giết chết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1963 lại cũng chính là người đă ra lệnh đầu hàng cộng sản Bắc Việt 12 năm sau đó.

 

 

 

(Xin đọc tiếp phần 14)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính