Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 

- Phần 12 -

 

Trần Đông Phong

 

 

NGÀY CHỦ NHẬT 27 THÁNG 4/1975

 

Rạng sáng ngày Chủ nhật, vào lúc 3 giờ rưỡi, việt cộng pháo kích 5 trái hỏa tiễn vào Đô Thành gây cho 6 người chết và 22 người bị thương, tuy nhiên t́nh h́nh ở Sài G̣n vẫn yên tĩnh, không có vẻ ǵ là rối loạn. Theo ông Trần Văn Đôn th́ vào lúc 3 giờ chiều, Đại Sứ Mérillon đă gọi điện thoại cho ông ta và báo tin cho biết rằng nếu đến 6 giờ chiều hôm đó mà chưa có ǵ thay đổi th́ quân cộng sản sẽ pháo kích vào Sài G̣n bằng đại bác 130 ly. Theo Jean Lartéguy trong cuốn L’Adieu à Saigon th́ sau ngày 30 tháng 4, một sĩ quan cộng sản Bắc Việt đă tiết lộ với ông Vũ Văn Mẫu rằng các đơn vị cộng sản được lệnh bắt đầu pháo kích vào Sài G̣n bắt đầu vào lúc 11 giờ tối 30 tháng 4 nếu Sài G̣n tiếp tục chống cự và cộng sản Bắc Việt dự tính rằng họ sẽ chiếm Sài G̣n vào ngày 7 tháng 5 tức là ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ của họ 21 năm về trước.

 

Theo Frank Snepp th́ vào ngày hôm đó, có nhiều phe nhóm chính trị đă chống lại việc Tổng Thống Trần Văn Hương không chịu giao quyền cho Dương Văn Minh. Người đầu tiên là ông Trần Quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam mà theo Frank Snepp th́ ông ta là người đă cộng tác với CIA từ lâu. Ông Bửu đă kêu gọi đoàn viên biểu t́nh gây áp lực để đẩy ông Hương ra khỏi chính quyền. Kế đó là Thương Tọa Thích Trí Quang, lănh tụ Phật Giáo Ấn Quang cũng đă kêu gọi Tổng Thống Trần Văn Hương phải nhường chức cho Dương Văn Minh và nhóm thứ ba là cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ cùng với Linh Mục Trần Hữu Thanh, Chủ Tịch Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng đă tham dự một cuộc biểu t́nh tại Giáo Xứ Tân Sa Châu với gần mười ngàn người tham dự. Trong cuộc mít-tinh này, Linh Mục Trần Hữu Thanh và cựu Phó Tổng Thống Kỳ lên án những kẻ hèn nhát đă bỏ nước di tản theo người Mỹ và hô hào đồng bào ở lại để tử thủ bảo vệ Sài G̣n. Theo Frank Snepp, ông Kỳ đă nói với những người biểu t́nh rằng: “cái gọi là chiến thắng của cộng sản chẳng qua chỉ là hậu quả của việc những Tướng lănh và sĩ quan của Quân Đội chúng ta đă chọn sự bỏ chay ngay cả trước khi họ được yêu cầu”. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 433.

 

Báo chí Việt ngữ trong nước đă trích thuật lại rằng cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đă kêu gọi mọi người ở lại chiến đấu chống lại cộng sản Bắc Việt, ông nói rằng ông cũng sẽ ở lại để chiến đấu chứ không đi đâu cả, không di tản ra ngoại quốc v́ “ở bên đó làm ǵ có rau muống, mắm tôm mà ăn?...”

 

Lưỡng Viện Quốc Hội Đồng Ư “Trao Quyền”

 

Vào lúc 10 giờ sáng, Tổng Thống Trần Văn Hương mời Nghị Sĩ Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, Dân Biểu Phạm Văn Út, Chủ Tịch Hạ Viện, Thẩm Phán Trần Văn Linh, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện, Thẩm Phán Lê Tài Triển, Phụ Tá Tư Pháp của Tổng Thống, Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Pḥng và Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, để nghiên cứu kỹ các điều khoản trong Bản Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Ḥa và thảo luận về việc yêu cầu Quốc Hội biểu quyết về đề nghị của Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền cho một người không được quy định trong Hiến Pháp. Buổi họp kết thúc vào khoảng 12 giờ trưa và Tổng Thống Trần Văn Hương đă yêu cầu Nghị Sĩ Trần Văn Lắm triệu tập một phiên họp khẩn cấp của Lưỡng Viện Quốc Hội vào buổi chiều hôm đó để thảo luận dứt khoát và biểu quyết về đề nghị giao quyền Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa lại cho ông Dương Văn Minh.

 

Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cho biết rằng ông cũng đă đóng góp ư kiến với Tổng Thống Trần Văn Hương về vấn đề này:

 

“Sáng chủ nhật 27 tráng 4, Tổng Thống Hương mời tôi họp tại Dinh Phó Tổng Thống trên đường Công Lư. Phiên họp gồm có các Chủ Tịch của Lưỡng Viện Quốc Hội, Tối Cao Pháp Viện, Giám Sát Viện, hai Phụ Tá của Tổng Thống là Lê Tài Triển và Lê Công Chất. Tổng Thống Hương tóm lược những vận động chính trị đang diễn tiến bức bách Cụ bàn giao cho Tướng Minh cùng lúc với áp lực mặt trận đang đè nặng sát nách Đô Thành. Tổng Thống Hương bằng ḷng nhường chỗ cho Tướng Minh nhưng Cụ thắc mắc không biết dựa vào Điều khoản nào của Hiến Pháp v́ Cụ bỗng muốn xé bỏ Hiến Pháp và đầu hàng. Cụ nói đúng lư ra th́ Cụ phải nhường chỗ cho Chủ Tịch Thượng Viện th́ mới theo đúng Hiến Pháp.

 

Trong phiên họp có nhiều người am tường Luật Pháp, nhưng Cụ lai hỏi tôi:

Thủ Tướng có căn bản luật và hành chánh, lại là cựu Chủ Tịch Hạ Viện, vậy Thủ Tướng hăy góp ư tôi giải quyết việc này ra sao?

 

Tôi góp ư với Tổng Thống Hương: “Thưa Tổng Thống, mặc dù chúng ta không thể chống chọi nỗi áp lực chính trị và quân sự của ngoại bang và cộng sản, nhưng tôi cũng xin Tổng Thống đừng dựa vào quyết định cá nhân và tự tiện bàn giao cho Tướng Minh v́ sự bàn giao vi hiến này có hậu quả chính trị là xé bỏ Hiến Pháp là tai hại hơn nữa là sử sách sau nầy sẽ lên án Tổng Thống v́ bàn giao chức vụ cho Tướng Minh mà sau đó đất nước này mới mất vào tay cộng sản”.

 

Tuy Tổng Thống và nhân viên Lưỡng Viện Quốc Hội đều được nhân dân trực tiếp bầu, tuy Tổng Thống được Hiến Pháp giao cho trọng trách Quốc Trưởng lănh đạo quốc dân, nhưng theo truyền thống dân chủ cũng như theo thủ tục đă được áp dụng trên thực tế tại các nước dân chủ lâu đời, mỗi khi cần phải có những quyết định không được dự trù trong Hiến Pháp để cứu đất nước đang bị lâm nguy, họ thường giao trách nhiệm nặng nề này cho Quốc Hội là cơ quan bao gồm hàng trăm dân cử và thường được chấp nhận là quyền uy tối cao của đất nước.Vậy tôi đề nghị Tổng Thống dành cho Lưỡng Viện Quốc Hội quyết định tối hậu. Hôi nghị chấp thuận đề nghị của tôi”. Nguyễn Bá Cẩn: Sách đă dẫn, trang 432-433.

 

Cựu Đại Tướng Cao Văn Viên cũng có nhận xét như sau:

“Mặc dù có nhiều sự đồn đăi cho rằng cộng sản chỉ thương lượng một giải pháp chính trị với Tướng Dương Văn Minh, nhưng là một vị Tổng Thống tin vào Hiến Pháp, Tổng Thống Hương không thể nào trao chức Tổng Thống lại cho Tướng Minh nếu không có sự đồng ư của Quốc Hội”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 222.

 

Phiên họp với Tổng Thống Trần Văn Hương chấm dứt vào khoảng 12 giờ trưa ngày chủ nhật với quyết định sẽ giao cho Thượng và Hạ nghị Viện biểu quyết về vấn đề “trao quyền” cho Tướng Dương Văn Minh để thương thuyết với cộng sản Bắc Việt Nội trong ngày hôm đó, tuy nhiên v́ th́ giờ quá cấp bách cho nên rất khó mà có thể đạt giấy mời đến các vị Nghị Sĩ và Dân Biểu đến tham dự phiên họp đặc biệt này trong ṿng chỉ có mấy tiếng đồng hồ.

 

Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cho biết chính Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă gọi điện thoại cho ông để yêu cầu giải quyết sự khó khăn này như sau:

“Tôi ra về sau khi từ giă Cụ Hương, nhà ái quốc khả kính mà tôi không bao giờ được gặp nữa. Từ địa điểm họp tại Tư Dinh Phó Tổng Thống về đến Tư Dinh Thủ Tướng tại số 5 Bến Bạch Đằng xe chạy độ 15 phút. Thế mà vừa bước chân vào pḥng khách th́ điện thoại reo vang. Đại Sứ Martin ở phía đầu dây bên kia nói với tôi: T́nh h́nh vô cùng khẩn trương. Công việc đang phải giải quyết với cộng sản Bắc Việt từng phút từng giây chứ không phải từng ngày, từng giờ nữa. Tưởng là phiên họp với Tổng Thống Hương đă đi đến quyết định là bàn giao ngay nội ngày hôm nay.

 

Không ngờ Thủ Tướng lại đề nghị “giao quả bóng” qua cho Quốc Hội, biết chừng nào mới triệu tập cả trăm người đến họp được? Hai ông Chủ Tịch Quốc Hội sẽ bó tay không thể nào có phương tiện tống đạt thư mời Dân Biểu và Nghị Sĩ được. Vậy xin Thủ Tướng giúp giùm hai vị này triệu tập phiên họp khẩn cấp nội chiều nay. Nếu trễ kỳ hạn tối nay của cộng sản th́ Sài G̣n sẽ lâm nguy.

 

Tôi liền điện thoại thông báo hai vị Chủ Tịch Thượng và Hạ Viện cứ tống đạt thư mời các Dân Biểu và Nghị Sĩ cho đúng nội quy, nhưng e rằng thư mời sẽ không đến tay đầy đủ cho các vị dân cử đâu. Tôi chỉ thị lập tức cho hai Đài Truyền Thanh và Truyền H́nh ngưng tất cả các chương tŕnh phát thanh thường lệ.

 

Bắt đầu từ giờ phút này, chỉ phát thanh nhạc hùng, tạo không khí khẩn trương y như khi có biến cố trước đây và đọc thư mời các Nghị Sĩ và Dân Biểu đến dự phiên họp khoáng đại Lưỡng Viện tại Hội Trường Diên Hồng, trụ sở của Thượng Nghị Viện vào lúc 7 giờ tối nay”. Nguyễn Bá Cẩn: Sách đă dẫn, trang 436.

 

Trong buổi chiều hôm đó, Đài Phát Thanh Sài G̣n liên tiếp đọc đi đọc lại từng giờ thư mời của Nghị Sĩ Trần Văn Lắm yêu cầu các Dân Biểu và Nghị Sĩ đến dự phiên họp đặc biệt khẩn cấp tại trụ sở Thượng Viện vào lúc 6 giờ chiều cùng ngày. Phiên họp Lưỡng Viện khai diễn vào lúc 7 giờ 30 tối với 138 Nghị Sĩ và Dân Biểu hiện diện: Có nhiều người sau này nói rằng phiên họp này không hợp pháp v́ không đủ túc số, tuy nhiên điều đó không đúng v́ vào tháng 4 năm 1975, tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ trong hai Viện Quốc Hội là 219 người, theo Nội quy của Quốc Hội th́ chỉ cần quá bán Tổng số tức là 110 người là đủ túc số để họp Lưỡng Viện, như vậy con số 138 người th́ đă quá đủ túc số rồi.

 

Theo lời yêu cầu của Chủ Tịch Thượng Viện, ông Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Pḥng đă hướng dẫn một phái đoàn quân sự đến Quốc Hội để tŕnh bày về t́nh h́nh quân sự và ṿng đai pḥng thủ Sài G̣n. Phái đoàn này gồm có Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân, Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, Chuẩn Tướng Trần Đ́nh Thọ, Trưởng Pḥng 3 và Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu và Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, Trưởng Pḥng 2 Quân Báo thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Ông Trần Văn Đôn, với tư cách là Xử Lư Thường Vụ Tổng Trưởng Quốc Pḥng, đă thuyết tŕnh cho Lưỡng Viện Quốc Hội t́nh h́nh bi đát của đất nước kể từ khi Ban Mê Thuột thất thủ ngày 10.3.75, sau đó mất Quảng trị ngày 19.3 An Lộc ngày 20.3, Huế ngày 26.3 Quảng Tín ngày 24.3, Quảng Ngăi ngày 25.3, Đà Nẵng ngày 29.3, Quy Nhơn ngày 1 tháng 4, Nha Trang ngày 2 tháng 4, Đà Lạt ngày 4.4, Phan Rang ngày 16.4, Phan Thiế t ngày 19.4, Xuân Lộc ngày 20.4 và ngay trong lúc Quốc Hội đang họp th́ quân cộng sản Bắc Việt đă tới Biên Ḥa.

 

Phái Đoàn Trần Văn Đôn tường tŕnh với Lưỡng Viện Quốc Hội rằng hiện cộng sản Bắc Việt đang có tới 16 sư đoàn tức là vào khoảng hơn 160.000 quân đang bao vây Sài G̣n cùng với sự yểm trợ của một số rất đông thiết giáp và pháo binh hạng nặng, trong khi đó th́ ṿng đai pḥng thủ của ta đang từ từ bị thu hẹp. Cả hai Nghị Sĩ là Phạm Đ́nh Ái và Vũ Văn Mẫu hỏi phái đoàn Quốc Pḥng lực lượng Tổng Trừ Bị của Việt Nam Cộng Ḥa ở đâu và ṿng đai pḥng thủ như thế nào th́ được trả lời rằng Tổng Trừ Bị đang ở ṿng đai pḥng thủ Sài G̣n cùng với hai sư đoàn 5 và 25.

 

Tuy nhiên hai đại đơn vị này đă bị quân cộng sản cầm chân, Sư Đoàn 5 bị quân cộng sản vây ở căn cứ Lai Khê và Sư Đoàn 25 đang bị vây ở căn cứ Đồng Dù, c̣n trong Thủ Đô Sài G̣n th́ chỉ có Cảnh Sát Dă Chiến cùng với một số đơn vị Biệt Động Quân bảo vệ. Tóm lại, phái đoàn phúc tŕnh rằng tổng số quân Việt Nam Cộng Ḥa bảo vệ Thủ Đô chỉ có khoảng 60.000 người và không có khả năng tăng viện thêm trong khi đó th́ quân cộng sản Bắc Việt đông gấp 3 lần và quân của họ từ các vùng miền Bắc và Miền Trung tiếp tục kéo về càng ngày càng đông và Đó là viễn ảnh của mặt trận Sài G̣n trong một vài ngày sắp tới. Theo một nhà báo Pháp th́ trong bài thuyết tŕnh này, ông Trần Văn Đôn “đă đặt ra một bức tranh vô cùng bi thảm: Chỉ vài ngày, có thể chỉ vài giờ nữa, Sài G̣n có thể bị đại bác 130 ly của cộng sản tàn phá. Vậy phải thương thuyết ngay để có ngưng bắn càng sớm càng tốt.

 

Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cho biết thêm một vài chi tiết về phiên họp đặc biệt này của Lưỡng Viện như sau:

“Sau khi ba Tướng Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Khắc B́nh ra về để cho Lưỡng Viện Quốc Hội tiếp tục thảo luận, thời giờ qua rất nhanh thế mà các Nghị Sĩ Dân Biểu kéo dài cuộc thảo luận dằng co xung quanh hai đề tài hợp hiến và chủ quyền quốc gia, chưa chịu biểu quyết. Dân Biểu Phạm Anh, Tổng Trưởng Đặc Trách Liên Lạc Quốc Hội, từ Hội Trường Diên Hồng báo cáo với tôi rằng các Nghị Sĩ và Dân Biểu thuộc phe cầm quyền không chống đối việc trao quyền cho Dương Văn Minh v́ muốn tránh đổ máu cho nhân dân trong Đô Thành. Trái lại một chuyện bất ngờ và đầy mâu thuẫn đă xảy ra là Nghị Sĩ và Dân Biểu đối lập lại do dự chưa chịu biểu quyết cho Tướng Minh là người mà họ đă ủng hộ lâu nay.

 

Khi trao đổi với nhau một cách bán chính thức ngoài hành lang của Hội Trường, một số Dân Biểu và Nghị Sĩ đối lập cho biết “sở dĩ họ chống việc trao quyền cho Tướng Minh là v́ họ nghĩ rằng Tướng Minh sẽ không đủ tài ba để giữ nước mà sẽ làm mất nước vào tay cộng sản”. Được hỏi “nếu vậy th́ tại sao lâu nay quí anh tín nhiệm Tướng Minh như lănh tụ đối lập trong nước” th́ các Dân Biểu và Nghị Sĩ đối lập trả lời rằng: “chúng tôi nào có tín nhiệm và tin tưởng Tướng Minh. Chúng tôi chỉ dùng Tướng Minh để phá Tổng Thống Thiệu mà thôi!”.

 

Cũng nên nói thêm là hai Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ và Pháp vận động khá mạnh nên sau cùng Lưỡng Viện Quốc Hội ngưng thảo luận để biểu quyết”. Nguyễn Bá Cẩn: Sách đă dẫn, trang 442-443.

 

Sau đó, vào lúc 8 giờ 45 tối, Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Lắm đọc câu hỏi sau đây trước Lưỡng Viện Quốc Hội “Ai đồng ư là Tổng Thống Trần Văn Hương nên trao quyền cho ông Minh để ông ta có thể t́m kiếm một con đuờng văn hồi ḥa b́nh cho Việt Nam?” 136 trong tổng số 138 Dân Biểu và Nghị Sĩ bỏ phiếu thuận, hai người không bỏ phiếu là Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện và Dân Biểu Phạm Văn Út, Chủ Tịch Hạ Viện v́ theo nội quy của Thượng và Hạ Viện th́ vị Chủ Tịch chỉ bỏ phiếu khi nào không đủ đa số mà thôi.

 

Như vậy, chỉ 24 tiếng đồng hồ sau quyết nghị ngày 26.4, Quốc Hội đă thông qua một quyết nghị mới minh định việc cả hai Viện Lập Pháp chấp thuận việc Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền lại cho ông Dương Văn Minh và có như vậy th́ việc Cụ Trần Văn Hương trao quyền mới có vẻ như là có tính cách hợp hiến và hợp pháp và đó là điều mà Cụ trông đợi. Ông Trần Văn Đôn kể lại rằng tối hôm đó ông đến nhà Cụ Hương để thông báo việc xảy ra ở Quốc Hội th́ Cụ nhờ ông Đôn nói lại với ông Dương Văn Minh là Cụ sẵn sàng trao quyền bất cứ lúc nào.

 

Khi ông Đôn ra về, Cụ Hương nói với ông Đôn rằng: “họ muốn có ông Minh th́ có ông Minh!”. Theo ông Đôn th́ sau đó ông Nguyễn Xuân Oánh và ông đến Ṭa Đại Sứ Pháp và Mỹ thông báo việc Quốc Hội đă chấp thuận việc trao quyền cho ông Dương Văn Minh rồi cả hai người ghé đến nhà ông Minh. Ông Đôn nói với ông Minh là Cụ Hương sẵn sàng trao quyền bất cứ lúc nào th́ ông Minh nói rằng ông ta sẽ nhậm chức vào lúc 5 giờ chiều ngày hôm sau, Thứ Hai 28 tháng 4 năm 1975. (Đại Úy Nguyễn Văn Nhựt, cựu Tùy Viên của Tổng Thống Trần Văn Hương quả quyết với người viết rằng tối 27 tháng 4 cũng như tối hôm sau 28 tháng 4, Cụ Hương không hề tiếp ông Đôn tại Phủ Phó Tổng Thống trên đường Hiền Vương).

 

Sau khi Dương Văn Minh đă chính thức được Quốc Hội chấp thuận giao quyền Tổng Thống, khuya hôm đó.

 

Theo Frank Snepp, Đại Sứ Hoa Kỳ Martin mới chỉ thị cho Polgar, trùm CIA Sài G̣n, đi đón những nhân vật thân cận và trung thành với ông Thiệu đưa lên Phi Trường Tân Sơn Nhất rồi họ được một chuyến bay đặc biệt đưa sang Căn Cứ Không Quân Clark tại Phi Luật Tân. Trong số những hành khách trên chuyến bay đặc biệt này có cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, cựu Tổng Trưởng Hoàng Đức Nhă và cựu Thiếu Tướng Tư lệnh Cảnh Sát Nguyễn Khắc B́nh. Frank Snepp cho biết rằng Đại Sứ Graham Martin đă ra lệnh không cho một viên chức cao cấp nào trong chính phủ được ra đi cho đến khi nào Đại Tướng Dương văn Minh được chính thức giao quyền Tổng Thống. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 448

 

Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn nói với người viết rằng ông ra đi vào tối 27 tháng 4 v́ ông không muốn làm cái việc bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Vũ Văn Mẫu. Trong cuốn Hồi Kư sau này, ông Nguyễn Bá Cẩn cũng xác nhận rằng ông được Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ đưa lên Phi Trường Tân Sơn Nhứt vào rạng sáng ngày 28 tháng 4 và được đưa qua Căn Cứ Clark Field của Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân trên một chiếc phi cơ vận tải C-13O cùng với Bác Sĩ Phan Quang Đán và ông Hoàng Đức Nhă.

 

Trong khi tại Sài G̣n, hai Viện Quốc Hội đă thông qua quyết nghị cho phép Tổng Thống Trần Văn Hương “trao quyền” cho ông cựu Đại Tướng Dương Văn Minh để “điều đ́nh” với cộng sản th́ tại Hà Nội, Vơ nguyên Giáp đă nhân danh Quân Ủy Trung Ương gửi một chỉ thị mang số 113/QUTW ngày 27 tháng 4 năm 1975 cho các đơn vị cộng sản tại Miền Nam về “nhiệm vụ của các đơn vị quân đội quản lư Thành Phố Sài G̣n-Gia Định”. Chỉ thị này dài tất cả là 10 trang giấy nói về việc “quản lư tốt”, nắm vững đặc điểm của Sài G̣n-Gia Định và công tác cụ thể trong việc quản lư. Vơ nguyên Giáp ra lệnh rằng chỉ thị này phải được “quán triệt đầy đủ đến tân chi bộ và trung đội, tiểu đội và được chấp hành nghiêm túc”. Trong bản chỉ thị này, không hề có câu nào nhắc đến việc có thể thương lượng với Dương Văn Minh.

 

 

Nhân Vật Trần Văn Đôn

 

Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng”, tác giả Trần Văn Đôn cho biết thân phụ của ông là công dân Pháp và ông ra đời tại Bordeaux vào năm 1917, rồi theo cha trở về Việt Nam. Đến năm 1927, ông lại được cha cho sang Pháp “du học” lúc mới 10 tuổi. Sau hai năm, ông về thăm nhà và không muốn trở lại Pháp nên học ở Sài G̣n cùng lớp với Dương Văn Minh. Sau khi đậu Tú Tài, vào năm 1939 sang Pháp học về Cao Đẳng Thương Mại (Hautes etudes Commerciales) nhưng khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ vào năm đó th́ bị động viên vào quân đội với cấp bậc Binh Nh́.

 

Sang năm 1940 được vào học Trường Sĩ Quan Trừ Bị St. Maixent nhưng giữa chừng th́ phải ra trận rồi bị Đức Quốc Xă bắt.

 

Năm 1940 lại theo cha là Trung Úy Y Sĩ Trần Văn Đôn về Việt Nam và phục vụ trong quân đội Pháp. Năm 1944 ông được người Pháp gởi đi học sĩ quan tại Trường Đồi Thông, được người Pháp đọc là Trường Tông ở Phú Thọ và trở thành Sĩ Quan trong Quân Đội Pháp. Năm 1947 được làm Sĩ Quan Tùy Viên cho Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân rồi đến năm 1950 được sang Pháp theo học Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng trong 1 năm, về nước năm 1951 và được cử phụ trách Nha An Ninh Quân Đội. Đến năm 1954 được cử kiêm nhiệm thêm chức Tham Mưu Trưởng thay cho Đại Tá Trần Văn Minh và ở lại chức này cho đến năm 1957. Năm 1955, Trần Văn Đôn từ bỏ quốc tịch Pháp, đốt cấp hiệu Đại Tá của Pháp và được Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thăng lên Thiếu Tướng, sau đó được cử làm Tư Lệnh Quân Đoàn I rồi Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa khi Đại Tướng Lê Văn Tỵ bị bệnh. Ông là một trong những người tổ chức và lănh đạo cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm l963 giết chết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu Nhưng đến ngày 30 tháng 1 năm 1964 th́ bị Tướng Nguyễn Khánh chỉnh lư và sau đó bị cho giải ngũ. Năm 1967 ông ứng cử vào Thượng Nghị Viện, năm 1971 ứng cử vào Hạ nghị Viện và vào năm 1975 th́ giữ chức Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Pḥng.

 

Trong cuốn “Viêtnam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils”, tác giả Pierre Darcourt có viết về Trần Văn Đôn như sau:

“Trần Văn Đôn có giáng dấp của một tướng làm chính trị hơn là chỉ huy. Quen với các tṛ âm mưu trong hậu trường và với các tṛ xin xỏ trong chính phủ, sự nghiệp và thăng thưởng của hắn nhờ ở sự bợ đỡ hơn là thành tích. Trung Úy Trần Văn Đôn bắt đầu leo lên hoạt động chính trị từ năm 1946 lẻo đo theo xách cặp cho Tướng Nguyên Văn Xuân, sau đó theo Trần Văn Hữu rồi đến Ngô Đ́nh Diệm. Năm 1956 nhiều bạn người Pháp và bạn trong Quân Đội đă khinh miệt hắn v́ để làm đẹp ḷng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, hắn đă chủ tọa một buổi lễ đốt các tàn tích của thời thực dân Pháp thống trị và Đôn đă liệng cặp lon Đại Tá cùng với các huy chương mà quan thầy Pháp ban cho vào lửa. Chú ruột của Trần Văn Đôn giận quá và đă tặng hắn hai cái bạt tai ny lửa.

 

(Ghi chú của người viết. Đại Tá Trần Văn Đôn cùng với một số sĩ quan cao cấp hồi đó đă từ bỏ quốc tịch Pháp và làm lễ đốt lon của Pháp để lấy điểm với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và ông Diệm đă thăng cấp cho Trần Văn Đôn lên Thiếu Tướng, chỉ có Đại Tá Lê Văn Kim, em rể của Trần Văn Đôn, và Đại Tá Trần Văn Hổ không chịu bỏ quốc tịch Pháp để được lên Tướng cho nên không được ḷng ông Ngô Đ́nh Diệm. Trong cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 Trung Tướng Lê Văn Kim được xem là đầu năo, là linh hồn trong nhóm bộ ba Dương Văn Minh-Trần Văn Đôn-Lê Văn Kim và sau khi ông Diệm và ông Nhu bị giết, Tướng Lê Văn Kim được chỉ định làm Ủy Viên Chính Trị của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, một chức vụ tương đương với chức vụ Cố Vấn Chính Trị tại Phủ Tổng Thống mà ông Ngô Đ́nh Nhu nắm giữ trong suốt 9 năm ông Diệm nắm chính quyền.)

 

Sau này, tuy ông Diệm ban cho hắn danh vọng và cho hắn làm Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, hắn vẫn tham dự dự vào việc hạ bệ ông Diệm. Là bạn của Tướng Dương Văn Minh, Đôn bỏ Minh để theo Kỳ. Nhờ Kỳ để ứng cử rồi lại bỏ Kỳ để theo Thiệu. Làm tṛ ma-nớp để Thiệu sửa Hiến Pháp cho phép Thiệu ứng cử lần thứ ba, Thiệu thưởng công bằng cách cho hắn giữ ghế Phó Thủ Tướng.

 

Trần Văn Đôn lo xa nên hay đi ngoại quốc, nhất là những nước có liên lạc thân hữu với Pháp. Tại Paris, hắn đă t́m gặp các quan thầy cũ để tỏ ḷng hối hận v́ đă giám đốt lon và huy chương của Pháp. Sau năm 1975, Trần Văn Đôn đă nhờ Tướng Loisillon của Quân Đội Pháp vận động xin với chính phủ Pháp cho hắn lănh tiền hưu trí v́ đă phục vụ nước Pháp trong 16 năm trời (1940-1956) và hắn đă lănh được số tiền là 130.000 quan (khoảng 32.000 đô-la). Đồng thời, Trần Văn Đôn cũng đă nhờ Jean Sainteny (cựu Cao Ủy Pháp tại Bắc Việt và là người rất thân với Hồ chí Minh) môi giới để hắn móc nối với những kẻ có liên lạc với việt cộng và Hà Nội.

 

Trần Văn Đôn nổi tiếng là người có tài thông gian với nhiều phụ nữ Việt Nam có chồng nhưng mà vẫn giữ được liên lạc tốt với những người bị cắm sừng và giữ được liên lạc với vợ của hắn”. Pierre Darcourt: “Vietnam, Q’as Tu Fait de Tes Fils”. Bản dịch của Phạm Kim Vinh.

 

Ông Trần Văn Đính nói rằng trong thời gian Cụ Trần Văn Hương làm Thủ Tướng cũng như là Phó Tổng Thống, (có trong Saigon, Người Việt, PO Box 486, Westminster, CA 92683, 1979, trang 109-110) nhiều người đă yêu cầu Cụ đưa ông Đôn lên giữ một vài chức vụ quan trọng nhưng Cụ nhất mực từ chối, Cụ cho rằng ông Đôn chỉ là một người “opportunist” (cơ hội chủ nghĩa, gió chiều nào theo chiều đó), đời sống riêng tư “thiếu đạo đức”, không xứng đáng để giữ một chức vụ nào trong guồng máy lănh đạo Quốc Gia. Phỏng vấn ông Trần Văn Đính, thứ nam của Cụ Trần Văn Hương tại California 2002. 

 

Người viết có hỏi cựu Đại Úy Nguyễn Văn Nhựt Sĩ Quan Tùy Viên của Cụ Trần Văn Hương cho đến ngày cuối cùng, về tin đồn nói rằng vào cuối tháng 4 năm 1975, Cụ Hương dự định mời ông Trần Văn Đôn làm Thủ Tướng th́ ông Nhựt trả lời rằng “tôi ở bên cạnh Cụ gần như là suốt ngày đêm trong thời gian đó và tôi không hề nghe Cụ nói với ai về việc mời ông Đôn làm Thủ Tướng. Riêng về ông Đôn th́ Cụ có nói như vầy: Cái ông đó th́ tôi không bao giờ mời làm một chức vụ ǵ cả”.

 

Để có thể hiểu thêm về nhân vật này, có một câu chuyện được chính ông Trần Văn Đôn kể lại cho bạn bè của ông và trong giới chính trị cũng như các vị Tướng lănh có nhiều người biết chuyện này. Người kể lại câu chuyện này với người viết là một nhân vật có nhiều liên hệ với ông Đôn từ Sài G̣n cũng như sau năm 1975. Theo lời ông Đôn kể lại th́ vào khoảng thập niên 1980, ông Đôn bị một chứng bệnh ǵ đó và được vào điều trị trong Bệnh Viện Val De Grace, tức là Quân Y Viện lớn nhất của Quân Đội Pháp ở gần Paris và ông đă kết thân với một vị Bác Sĩ Quân Y người Pháp phục vụ tại bệnh viện này. Ông Đôn vốn là công dân Pháp trước năm 1955, là cựu sĩ quan trong Quân Đội Pháp cho nên đă được hưởng quyền lợi đặc biệt này.

 

Trong thời gian dưỡng bệnh ở đây, ông Đôn hàng ngày đi dạo và thường gặp một người Việt Nam khá lớn tuổi cũng đi dạo trong sân bệnh viện với người theo hầu và mỗi lần gặp th́ bao giờ ông Đôn cũng cúi đầu chào. Nhiều lần như vậy th́ người bệnh nhân lớn tuổi đó cũng chào đáp lễ và có lần ông ta dừng lại chuyện tṛ thăm hỏi với ông Đôn. Người đó nghe giọng nói của ông Đôn th́ biết là người Miền Nam, ông ta hỏi tên tuổi và sau khi ông Đôn tự giới thiệu th́ ông già đó nói “à, cái tên đó th́ tôi cũng có nghe”.

 

Ông già đó là Lê đức Thọ, lúc đó đang được chính phủ Pháp cho sang chữa bệnh tại Paris.

 

Những lần sau, Lê Đức Thọ gặp ông Đôn cùng đi với vị Bác Sĩ người Pháp th́ cũng chuyện tṛ vui vẻ và có lần ông ta nói với ông Đôn là nên về thăm quê hương v́ “đất nước đang cần bàn tay xây dựng của Việt kiều”. Vị Bác Sĩ người Pháp, cũng là Sĩ điều trị cho Lê đức Thọ, nói với Lê đức Thọ rằng cả hai người muốn cùng đi chung sang thăm Việt Nam một chuyến th́ ông Thọ hứa là sẽ ra lệnh cho Sứ Quán lo thủ tục cấp chiếu khán khẩn cấp cho hai người. Vài ngày sau, có nhân viên của Sứ Quán cộng sản đến bệnh viện và đưa chiếu khán nhập cảnh Việt Nam vô hạn định cho vị Bác Sĩ người Pháp, ông Đôn bèn hỏi về trường hợp của ông. Tên nhân viên Sứ Quán hỏi tên ông Đôn và sau khi được ông Đôn cho biết tên th́ y trả lời bằng một giọng lạnh lùng “trường hợp của anh th́ phải theo thủ tục thông thường”.

 

Nhận định về phúc tŕnh của Trần Văn Đôn tại Lưỡng Viện Quốc Hội ngày 27 tháng 4 năm 1975, Jean Lartéguy đă viết trong L'Adieu à Saigon rằng “Tướng Đôn th́ chẳng có ǵ để mất mát nhiều. Sinh tại Tỉnh Bordeaux, ông là dân Tây. Và mặc dù ông ta đă đốt giấy thông hành và đốt cặp lon Đại Tá của Quân Đội Pháp để làm đẹp ḷng ông Ngô Đ́nh Diệm và bà Nhu, nhưng ông ta biết là không thể mất cái quốc tịch Pháp. Những tṛ hề!” Jean Lartéguy: L'Adieu À Saigon, bản dịch Saigon, trang 17.

 

Pierre Darcourt cho biết về phản ứng của một số dân cử về báo cáo của ông Đôn:

“Trần Văn Đôn đă dệt ra một bức tranh vô cùng bi thảm. Chỉ vài ngày, có thể chỉ vài giờ nữa, Sài G̣n có thể bị đại bác 130 ly của cộng sản tàn phá. Vậy phải thương thuyết ngay để có ngừng bắn càng sớm càng tốt”. Darcourt nói thêm rằng: “ngày sau đó, các Dân Biểu Nghị Sĩ trẻ đă thốt ra những lời giận dữ và khinh bỉ: “Đồ bán nước! Quân đầu hàng! Tướng pḥng ngủ!” Darcourt cho biết là Bác Sĩ Thức, Trưởng khối Cộng Ḥa đă tiến về phía Đôn và hét lên nhiều lần: “đồ phản quốc! Phản quốc! Mầy chỉ là một tên phản quốc! Mày đáng bị xử bắn!”. Pierre Darcourt: Sách đă dẫn, bản dịch “Saigon”, trang 113.

 

Các Vị Nghị Sĩ cùng Dân Biểu trong hai Viện Quốc Hội lúc Đó đều không biết rằng ông Trần Văn Đôn không c̣n đủ tư cách để làm việc thuyết tŕnh này v́ ông Đôn lúc đó không c̣n là công dân Việt Nam nữa, ông ta đă lấy lại quốc tịch Pháp, đă lấy thông hành của nước Pháp vào buổi trưa ngày hôm đó và thực ra th́ dù ông ta đă phục vụ với tư cách là Tướng lănh, là Nghị Sĩ, là Dân Biểu, là Phó Thủ Tướng v.v...của Việt Nam Cộng Ḥa trong hơn 3 thập niên nhưng ông ta không hề mất quốc tịch Pháp v́ thân phụ của ông ta là một người công dân Pháp và ông ta đă sinh trưởng tại Pháp.

 

Pierre Darcourt tiết lộ rằng: “Trước đó vài giờ, giữ cho trọn nghĩa bầy tôi với nước Pháp, Đôn đă tới từ biệt Đại Sứ Pháp Mérillon và để lănh giấy thông hành quốc tịch Pháp”.

 

Theo Jean Lartéguy trong L'Adieu À Saigon, khi ông ta đến dùng cơm trưa với Đại Sứ Mérillon th́ ông Đại Sứ tḥ đầu qua cửa sổ nói với ông rằng “xin lỗi, chờ tôi một lát v́ tôi đang tiếp một thân hữu. Ông ấy đến từ biệt tôi”. Jean Lartéguy nói rằng “Đó là Trần Văn Đôn. Ngày hôm qua (26.4.75), ông ta c̣n là Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Pḥng và đă có lúc nghĩ tới việc nắm lấy ghế Thủ Tướng, nếu không nắm được cái ghế Quốc Trưởng. Hôm trước, Đôn hoạt động mạnh để đẩy Hương khỏi cái ghế Tổng Thống v́ Đôn dệt ra một t́nh h́nh quân sự bi thảm dưới sự thật. Trong những ngày gần đây, Đôn là bầy tôi trung thành của chính sách Pháp. Người ta bảo tôi rằng nhiều tháng trước đây, Đôn được Ṭa Đại Sứ Pháp nghe theo về rất nhiều điều. Tướng Đôn bảnh trai, xuất sắc, nhẹ nhàng đă tới Ṭa Đại Sứ Pháp để lấy sổ thông hành (passport) của nước Pháp. Phải chăng ông ta sanh tại Tỉnh Bordeaux? Jean Lartéguy: Sách đă dẫn, bản dịch “Saigon”, trang 3. 

 

Như vậy th́ vào ngày 27 tháng 4 năm 1975, cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn đă có thông hành của Pháp, điều đó có nghĩa là ông ta đă hồi tịch trước đó hoặc là ông ta không hề mất cái quốc tịch Pháp “thổ sinh” như Jean Lartéguy đă nói và một công dân nước Pháp như ông ta tại sao lại được mời ra thuyết tŕnh về An Ninh Quốc Pḥng tại Lưỡng Viện Quốc Hội của nước Việt Nam Cộng Ḥa?

 

 

NGÀY THỨ HAI 28 THÁNG 4 /1975 “Trao Quyền” Cho Dương Văn Minh

 

Có một số tác giả và cả Frank Snepp trong cuốn Decent Interval đă nói rằng Cụ Trần Văn Hương có ao ước được làm Tổng Thống trong một tuần lễ, do đó Cụ muốn kéo dài cho đến chiều 28 tháng 4 mới giao quyền lại cho ông Dương Văn Minh để cho thời gian Cụ làm đúng 7 ngày như Cụ từng ao ước.

 

Điều này hoàn toàn không đúng v́ người quyết định làm lễ bàn giao vào ngày hôm sau chính là Dương Văn Minh. Ông Trần Văn Đôn có kể lại trong Việt Nam Nhân Chứng  rằng tối hôm trước ông có nói với ông Dương Văn Minh là nên “nhận liền nhiệm vụ để bắt tay vào việc” th́ ông Minh nói rằng “5 giờ chiều mai”. Ông Đôn nhận xét rằng sở dĩ ông Minh muốn đợi đến 5 giờ chiều hôm sau là v́ “ông coi ngày giờ tốt trước khi nhận việc”.

 

Trong một bài được đăng trên báo diễn Đàn Phụ Nữ, ông Trần Văn Lắm, cựu Chủ Tịch Thượng Viện đă kể lại với Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh rằng tối 27 tháng 4, ông Lắm đến báo tin với Cụ Hương về việc Lưỡng Viện Quốc Hội đă biểu quyết đồng ư để Tổng Thống Trần Văn Hương từ chức và trao quyền lại cho Dương Văn Minh rồi sau đó đến gặp ông Minh và đề nghị nên làm lễ bàn giao vào hồi 9 giờ sáng ngày hôm sau 28 tháng 4. Ông Lắm kể lại rằng ông Dương Văn Minh đi qua pḥng bên cạnh để bàn luận với Trung Tướng Mai Hữu Xuân là người rất tin bói toán, sau đó ông Minh ra nói với ông Lắm rằng “9 giờ sáng không được tốt, bàn giao lúc 5 giờ rưỡi' chiều đi”. Tuần báo Diễn Đàn Phụ Nữ số 161 năm 1997.

 

Ông Trần Văn Đính, thứ nam của Cố Tổng Thống Trần Văn Hương quả quyết rằng Cụ Hương không bao giờ nói rằng Cụ “muốn làm Tổng Thống trong một tuần lễ” v́ Cụ không bao giờ có ư muốn làm Tổng Thống và các ông Trần Văn Đôn, Trần Văn Lắm kể lại như trên th́ việc bàn giao chức vụ Tổng Thống đúng một ngày sau khi Quốc Hội biểu quyết không phải là ư của Cụ Hương mà đó là quyết định của Dương Văn Minh v́ quá tin vào tướng số và nghe theo lời Cố Vấn của Trung Tướng Mai Hữu Xuân.

 

Theo Tiziani Terzant tác giả cuốn sách “Giải phóng!: The Fall and Liberation of Saigon”, người kư giả Ư bị trc xuất ra khỏi Việt Nam trước đó ít lâu và vừa mới trở lại Sài G̣n sau khi ông Thiệu từ chức, th́ lễ bàn giao được thông báo với báo chí là sẽ diễn ra vào lúc 10 giờ sáng, sau đó lại được hoăn đến 3 giờ chiều và cuối cùng th́ dời lại lúc 5 giờ chiều. Terzani nói rằng sở dĩ có sự tŕ hoăn như vậy là v́ Dương Văn Minh gặp khó khăn trong việc thành lập tân chính phủ. Sau khi có tin Dương Văn Minh lên thay Cụ Trần Văn Hương, giới quan sát tại Sài G̣n tiên đoán rằng hai người có thể được ông Minh chỉ định làm Thủ Tướng là Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu theo phe Phật Giáo Ấn Quang hay là Nghị Sĩ Nguyễn Văn Huyền, thuộc phe Thiên Chúa Giáo. Cả hai người ai cũng muốn làm Thủ Tướng. Cuối cùng th́ Dương Văn Minh chọn Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu v́ ông Mẫu là người có nhiều liên hệ đến phe Ḥa Giải Ḥa Hợp Dân Tộc của Phật Giáo Ấn Quang, c̣n Luật Sư Nguyễn Văn Huyền th́ làm Phó Tổng Thống.

 

Theo bài phóng sự tường thuật lễ bàn giao Tổng Thống tại Dinh Độc Lập chiều 28 tháng 4 năm 1975 của Đài Phát Thanh Sài G̣n th́ buổi lễ bắt đầu vào lúc 5 giờ chiều với sự hiện diện của khoảng 200 người gồm đại diện Thượng và Hạ Viện, Tối Cao Pháp Viện, Giám Sát Viện và một số Tổng Bộ Trưởng trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn. Trong buổi phóng sự truyền thanh cuối cùng này của Đài Phát Thanh Sài G̣n, phóng viên của đài nói rằng: Thưa quư thính giả, vào lúc này th́ bên ngoài Dinh Độc Lập, chúng tôi nhận thấy trời đă bắt đầu mưa và Sài G̣n đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước.”

 

Trong bài diễn văn cuối cùng, Tổng Thống Trần Văn Hương nói:

 

Thưa quư vị

 

Bữa nay là cái ngày đă từ lâu rồi quư v phải có mà ngày nay đă có, tức là đă đáp ứng nguyện vọng của tôi từ lâu rồi.

 

Khi Tổng Thống tiền nhiệm trao nhiệm vụ cho tôi, tôi vẫn biết sức già, dầu muốn dầu không, tuổi trời đă cao, sức đă ṃn, tất nhiên là không thể nào đảm trách được một nhiệm vụ lớn lao trong khi mà nước nhà đă trải qua một buổi khó khăn vô cùng không thể Trưởng tượng được. Bởi vậy cho nên trong ḷng tôi vốn mong mỏi rằng dầu thế nào cũng phải có được một người ra lănh cái trách nhiệm này để lo cho việc nước. Gọi là cứu vớt phần nào, cái ǵ gọi là quyền lợi, cái ǵ gọi là danh dự của nước Việt Nam Cộng Ḥa của chúng ta.

 

Khi tôi đến trao đổi ư kiến với Đại Tướng Dương Văn Minh, điểm làm tôi thắc mắc là điểm pháp lư bởi v́ nếu tự nhiên tôi đem cái quyền của tôi trao lại cho Đại Tướng th́ như vậy, về phương diện pháp lư, không hợp lư chút nào. Điểm đó, tôi cùng Đại Tướng đă có thảo luận. Sau khi ra ngoài Lưỡng Viện tôi cũng có tŕnh bày và Lưỡng Viện, sau khi thảo luận hai ngày th́ đă t́m ra được giải pháp mà đây tôi tin là giải pháp đáp lại chỗ mong mỏi của mọi người.

 

Thưa quư vị, điểm thắc mắc về pháp lư hết rồi th́ về mặt đó chúng ta không c̣n băn khoăn chi nữa, th́ dầu muốn dầu không cái chuyện lớn lao hiện giờ không c̣n là chuyện pháp lư nữa, th́ việc làm sao cho nước Việt Nam Cộng Ḥa dầu t́nh h́nh có khó khăn đến đâu đi nữa, th́ cũng phải giữ phần nào cái danh dự của tổ tiên chúng ta.

 

Thưa với Đại Tướng, dù muốn dù không, một chương lịch sử đă giở qua rồi, những chương sẽ viết tới đây sẽ do nơi tay Đại Tướng mà bây giờ có hỏi ngay ra rằng Đại Tướng sẽ viết những ǵ, tôi thấy là Đại Tướng cũng băn khoăn, không thể trả lời. Nhưng tôi biết rằng với thiện chí của Đại Tướng đă sẵn có, thế nào việc làm sau này không đến nỗi phụ ḷng tin cậy của tất cả đồng bào, của Quốc Hội đă hoàn toàn đặt nơi Đại Tướng. Đường đi nó có khác, nó đă khác, bởi v́ triều đại đă thay đổi. Chúng ta bây giờ không nghĩa là phải luôn luôn đổ xương máu, chúng ta không phải nghĩ là chúng ta phải đánh tới người chiến sĩ cuối cùng, tới viên đạn cuối cùng khi mà c̣n có một biện pháp nào, một giải pháp nào có thể đem lại ḥa b́nh mà không đến nỗi tổn thương quá Sức danh dự của nước nhà: Bởi vậy cho nên đường lối có lẽ là ở trong khuôn đặt sẵn như thế đó.

 

Thưa với Đại Tướng, nhiệm vụ của Đại Tướng rất là nặng. Khi Đại Tướng ra gánh vác việc này tôi thấy rơ ràng là Đại Tướng không những có một thiện chí không mà thôi, Đại Tướng c̣n phải có những can trường ǵ mới dám đảm nhận như vậy và tôi cũng mong mỏi thế nào cho Đại Tướng thành công. Vả lại, đặt lại vấn đề, giải pháp chiến đấu để giữ giải pháp dung ḥa, ôn ḥa, nghĩa là quên hết tất cả những ǵ gọi là căm thù để đem lại trước hết sự ḥa giải, ḥa hợp rồi tới ḥa b́nh để cùng nhau Sống yên mưu đồ chuyện tái tạo nước nhà. Theo tôi nghĩ, con đường là con đường đó.

 

Thưa với Đại Tướng, xóa hận căm thù không phải là căm thù đối với ở ngoài, mà tôi cũng xin phép nói là chúng ta cũng nên xóa căm thù tất cả những ǵ gọi là căm thù ở bên trong. Trước kia, có lẽ những chỗ sai biệt đâm ra nếu là người Việt Nam thành thật thương nước, th́ tất nhiên người đó dù muốn dù không cũng phải lo cho nước, yêu nước. Nhưng tiếc có một nỗi đồng sàng mà có nhiều khi dị mộng, cho nên nghĩ như vậy mà cái ḷng nó nghĩ khác nhau. Việc làm khác nhau nên sinh ra xích mích, sanh ra đến cái chỗ có thể gọi là căm thù, th́ tôi thành khẩn yêu cầu Đại Tướng bao nhiêu những việc ǵ có thể gọi là căm thù nội bộ, Đại Tướng vui ḷng ráng thế nào xóa bỏ hết. Vả lại trong bộ máy của chế độ nào đều có những người phụng sự cho chế độ đó. Nếu chế độ kế tiếp mà c̣n nghĩ đến những việc trước, t́m ra chuyện ân oán giang hồ gây chuyện thù nữa, th́ những người bất kỳ ở chế độ nào, tôi nghĩ làm sao mà dám tận tâm với chế độ đó khi nghĩ đến chế độ sau này có thể trả thù trả oán.

 

Cái chỗ mong mỏi của tôi là như thế và tôi cũng hết sức thành khẩn yêu cầu Đại Tướng nên nghĩ đến tiền đồ của nước nhà, nên nghĩ về sinh mạng, sống c̣n của đất nước này, làm thế nào cho việc ḥa giải khởi sự trước ở trong nước này trước khi ra nước ngoài.

 

C̣n một điểm nữa có lẽ là điểm chót. Tất nhiên là Dại Tướng sẽ mang hết sức ḿnh mà làm, nhưng tôi cũng nh́n nhận ḷng ḿnh dầu có thiện chí đến đâu nhưng sức ḿnh nó có hạn. Đại Tướng cũng là người, Đại Tướng không phải là một vị thiêng liêng nao có phép mầu cho nên chỉ phán một lời là mọi chuyện đều đấy như muốn được. Tất nhiên là Đại Tướng phải ráng sức, chuyện Đại Tướng ráng sức mà thành công hay không thành công, đó là một việc tôi tưởng phần lớn không phải tùy nơi Đại Tướng. Nhưng nếu Đại Tướng thành tâm v́ nước để lo cho nước, ráng văn hồi ḥa b́nh lại để dân sống được yên, làm thế nào cho máu đừng đổ, thịt đừng rơi th́ cái công của Đại Tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời. Dầu thế nào, tôi thiết nghĩ rằng không bao giờ mà đất nước này người ta có thể quên Đại Tướng.

 

Tôi xin cám ơn quư vị. Nhật Báo Người Việt, số 5990 ngày 2 tháng 5 năm 2002.

 

Đó là bài diễn văn cuối cùng của Cụ Trần Văn Hương, hai lần làm Đô Trưởng Sài G̣n, hai lần làm Thủ Tướng chính phủ, cựu Phó Tổng Thống và cách đó chừng một phút là vị Tổng Thống cuối cùng của chế độ Đệ Nhị Cộng Ḥa. Nghe bài diễn văn trao quyền của Cụ, người ta nghĩ rằng Cụ không nói với ông Dương Văn Minh v́ ông Minh lên làm Tổng Thống th́ dù là không hợp hiến đi nữa, ông ta cũng không thể xem những người đă “phụng sự chế đ cũ” là kẻ thù. Cụ Trần Văn Hương có lẽ cũng như hầu hết người dân Miền Nam vào lúc đó đều biết rằng cộng sản Bắc Việt sẽ thắng trong vài ba ngày sắp tới th́ cái chính phủ của ông Dương Văn Minh cũng không thể tồn tại, cho nên khi Cụ nói đến việc “xóa bỏ hận thù, ḥa giải, ḥa hợp rồi tới ḅa b́nh”, Cụ đề cập đến việc không trả thù những người đă phục vụ trong chế đ cũ, th́ đó là những điều Cụ muốn mượn bài diễn văn cuối cùng trong đời của Cụ để nhắn nhủ với những người cộng sản khi mà “triều đại đă thay đổi”.

 

Dương Văn Minh Không Chịu Treo Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Ḥa

 

Khi cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn và trở về chỗ ngồi, tất cả quan khách, các Đài Truyền H́nh, các Đài Phát Thanh và đại diện báo chí đều hướng nh́n về con người của giờ thứ hai mơi lăm, cựu Đại Tướng Dương Văn Minh.

 

Tiziano Terzani, một trong hơn 100 kư giả đă chứng  kiến buổi lễ giao quyền hôm 28 tháng 4 năm 1975 tại Dinh Độc Lập, đă tả lại như sau:

“Sau khi cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trở về chỗ ngồi, bục diễn đàn vẫn trống trơn. Dương Văn Minh vẫn ngồi yên không hề nhúc nhích. Một người lính tiến vào dưới hàng đèn phản chiếu và gỡ hai lá cờ đem ra khỏi pḥng. Sau đó anh ta trở lại và tháo gỡ Quốc Huy cũ của Việt Nam Cộng Ḥa gắn trước bục diễn đàn rồi một người lính khác mang đến gắn huy hiệu mới của Dương Văn Minh, đó là h́nh hoa mai năm cánh nằm trong dấu hiệu âm dương của người Trung Hoa, tượng trưng cho hai yếu tố đối nghịch tạo thành sự đồng nhất trong vũ trụ.

 

Có nhiều tiếng x́ xào trong hội trường. Nền Cộng Ḥa đă thay đổi bộ mặt. Dương Văn Minh đứng dậy từ từ tiến về bục diễn đàn, mặt ông ta tỏ ra nghiêm trọng. Ngay lúc đó hai tiếng sét nổ thật lớn ở ngoài trời và tiếp theo là tiếng sấm kéo dài như để đánh dấu ư nghĩa lịch sử của giờ phút đau thương nầy...”. Tiziano Terzani: Sách đă dẫn. Trang 40-41.

 

Trong cuốn Cruel Avril, nhà báo Oliver Todd cũng tường thuật buổi lễ này tương tự như vậy “một người lính trẻ tháo gỡ Lá Quốc Kỳ sau bục diễn đàn rồi gỡ Quốc Huy của Việt Nam Cộng Ḥa và thay thế bằng huy hiệu mới của Dương Van Minh”. Oliver Todd: Sách đă dẫn, trang 354.

 

Trong cuốn những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Ḥa, tác giả Nguyễn Khắc Ngữ đă viết rằng “Cùng lúc ấy, một Binh Sĩ vào pḥng, bật đèn cho sáng thêm rồi lấy hai lá cờ lớn đi. Sau đó, anh ta trở lại gỡ Huy Hiệu hai con rồng của Tổng Thống cũ gắn trên bục diễn đàn mang đi. Liền sau đó, một người lính khác mang Huy Hiệu mới có bông mai 5 cánh màu trắng vẽ trên nền xanh, ở giữa có vẽ dấu hiệu âm dương”. Nguyễn Khắc Ngữ: Những Ngày cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Ḥa, Nhóm Nghiên Cứu Sử địa xuất bản, Montréal, Canada 1979, trang 350.

 

Cả ba tác giả nói trên đều không hề nhắc nhở ǵ đến việc ông Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức như Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đă làm khi ông lên thay thế cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cách đó đúng một tuần lễ và nhiều nhân chứng dự buổi lễ “trao quyền” hôm đó đă xác nhận rằng ông Dương Văn Minh chỉ có đọc diễn văn mà không hề tuyên thệ “trung thành với Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa”, điều đó có nghĩa là tân “Tổng Thống” Dương Văn Minh không c̣n công nhận bản Hiến Pháp l967 của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa.

 

Như vậy, cho tháo gỡ hai lá Quốc Kỳ trước khi đọc diễn văn và không thèm tuyên thệ khi nhậm chức Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa, phải chăng ông Dương Văn Minh muốn gián tiếp nói với phe cộng sản rằng ông ta đă xé bỏ bản Hiến Pháp năm 1967 của Việt Nam Cộng Ḥa, không c̣n liên hệ ǵ đến chế độ Đệ Nhị Cộng Ḥa nói riêng và cả lịch sử ba mươi năm chống lại Đảng Lao Động Việt Nam để bảo vệ tự do cho những người Việt Nam không chịu sống chung với cộng sản từ miền Bắc cho đến Miền Nam sau này nói chung. Phải chăng ông Dương Văn Minh muốn nói với “người anh em bên kia” rằng “Tân Tổng Thống” Miền Nam Dương Văn Minh, “Tân Phó Tổng Thống” Nguyễn Văn Huyền và “Tân Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu đều là những người thuộc “thành phần thứ ba”, không có liên hệ ǵ đến cả hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa mà tượng trưng là lá Cờ Vàng ba sọc đỏ vừa được ông cho gỡ xuống cất đi?

 

Một điểm hơi khá mâu thuẫn là tuy không c̣n công nhận lá Cờ Vàng 3 s ọc đỏ là Quốc Kỳ, tuy không c̣n công nhận Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa năm 1967 nữa, ông Dương Văn Minh lại vẫn c̣n thích dùng danh xưng “Tổng Thống” và ông đă sử dụng danh xưng này với tất cả mọi người trong khi trên thực tế th́ lúc đó chính phủ của ông không phải là một chính phủ hợp pháp do dân bầu lên (dejure) mà chỉ là một chính phủ thực tại (defacto), do đó ông chỉ có thể tự xưng là “Quốc Trưởng” mà thôi.

 

Trong Decent Interval, Frank Snepp cho biết trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, Văn tiến Dũng nói rằng “chiều 28 tháng 4 Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ chí Minh phân tích t́nh h́nh toàn bộ ở Sài G̣n và thấy rằng phe địch rất hoang mang, Bộ Chỉ Huy mất trật tự trong hai ngay đầu của chiến dịch, các mũi tiến quân của ta vẫn hoạt động theo đúng kế hoạch. Do đó Văn tiến Dũng ra lệnh cho cuộc Tổng tấn công phải được khởi sự vào sáng ngày 29/4 để tiến về Sài G̣n. Lệnh này đă được gởi đến mọi dợn vị cũng như thông báo cho Hà Nội. Tối hôm đó lữ đoàn chiến xa 203 của cộng sản Bắc Việt với nhiệm vụ tiến thẳng vào Thủ Đô Sài G̣n đă được lệnh xuất từ Biên Ḥa, tắt đèn tiến theo Quốc Lộ số 1 hướng về Sài G̣n”. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 470.

 

Trong khi Dương Văn Minh đang chuẩn bị tổ chức lễ trao quyền tại Dinh Độc Lập th́ cộng sản đă ra lệnh cho cựu Trung Úy Không Quân Nguyễn thành Trung, người sĩ quan phản bội đă lấy phi cơ A-37 oanh tạc Dinh Độc Lập vào hồi đầu tháng rồi lái phi cơ theo việt cộng, hướng dẫn một đoàn năm chiếc phản lực cơ A-37 từ Nha Trang bay vào oanh tạc Sài G̣n. Việc này có nghĩa là tuy đă được biết Dương Văn Minh sắp sửa lên nhận chức Tổng Thống để thương thuyết theo sự đ̣i hỏi của cộng sản như ông ta đă rêu rao, những “người anh em bên kia” của ông vẫn ra lệnh cho phi cơ của chúng bay vào oanh tạc Sài G̣n. Trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, Văn tiến Dũng đă nói rằng “đó là một cuộc tấn công được phối hợp một cách tuyệt vời”.

 

Ngay sau khi Dương Văn Minh trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa, ngoài việc phi cơ của cộng sản oanh kích, một cơn giông băo lớn chưa từng thấy đă trút xuống Thành Phố Sài G̣n với những tiếng sấm nổ c̣n lớn hơn cả tiếng pháo kích của hỏa tiễn 122 ly của cộng sản. Người dân Sài G̣n lúc đó nhiều người đă cho rằng đó là điềm trời, đó là “ông trời cũng khóc cho số phận của Miền Nam”.

 

Trong khi những người ủng hộ tân “Tổng Thống Dương Văn Minh đang rất lạc quan với viễn ảnh người được xem là một trong những nhân vật lănh đạo hàng đầu của “lực lượng thứ ba” sẽ bắt đầu những cuộc thương thuyết với những “người anh em bên kia” để đem lại ḥa b́nh cho phần c̣n lại của miền Nam th́ Hà Nội lại xem ông Minh “không c̣n là đại diện cho lực lương thứ ba” nữa. Ngay hôm đó, Bộ Chính Trị Đảng Lao Động đă gửi cho “anh Sáu Dân” tức là ông Vơ văn Kiệt cùng “P.10 và các Khu Ủy, B.76, N. 50 và các Ban, Ngành”(Ghi chú: P.10 là Sài G̣n-Gia Định, B.76 là Tây Ninh và N.50 là B́nh Phước (Long An.)

 

Một bức điện văn khẩn Số 505/TV đề ngày 28 tháng 4 năm 1975 nói về việc Dương Văn Minh lên làm “Tổng Thống” như sau:

1.   Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, quân dân ta sắp đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của chúng, đế quốc Mỹ đă thay Thiệu, nay thay Hương đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống với ư đồ thương lượng với ta ḥng cứu văn phần c̣n lại của chế độ Sài G̣n.

 

Dương Văn Minh ra nhận chức Tổng Thống trong lúc này không c̣n là đại diện cho lực lượng thứ ba... việc làm của Dương Văn Minh nằm trong âm mưu của Mỹ, đồng thời cũng phù hợp với lập trường chính trị của phe nhóm Minh là không muốn cho chế độ Sài G̣n sụp đổ hẳn, muốn ngăn cản thắng lợi quang vinh của dân tộc trong giờ phút lịch sử hiện nay.

 

Ư đồ này đă thể hiện rơ trong nội dung Bản Tuyên Bố của Dương Văn Minh khi nhận chức Tổng Thống lúc 16 giờ 50 ngày 28 tháng 4 trong đó không đả động ǵ đến Mỹ, không đề cập đến 2 yêu cầu cơ bản của ta nêu trong Bản Tuyên Bố của chính phủ cách mạng lâm thời ngày 26 tháng 4, lại kêu gọi ngừng bắn ngay tức khắc các cuộc tấn công lẫn nhau, kêu gọi quân đội ngụy “giữ vững hàng ngũ, giữ vững vị trí” để hoàn thành nhiệm vụ mới là bảo vệ phần đất c̣n lại.

 

Kêu gọi ngừng tấn công, ḥa giải, ḥa hợp đ̣i thi hành Hiệp Định Paris một cách chung chung lúc này là thực hiện âm mưu của Mỹ, ngăn chận quân dân ta đánh sụp đổ hoàn toàn chế độ thối nát Sài G̣n hiện nay.

 

2.   Như thông tri số 10/TT.75 ngày 27 tháng 4 năm 1975 của Thường Vụ đă vạch rơ: “trong t́nh h́nh ngụy quyền đang trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, bất cứ tên tay sai nào lên... dù có tuyên bố thi hành Hiệp Định Paris, ḥa b́nh, ḥa hợp dân tộc hay thế nào đi nữa đều phục vụ cho âm mưu Mỹ, trở thành tay sai Mỹ”.

 

Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân kiên quyết thực hiện quyết tâm không ǵ lay chuyển của ta là đánh bại hoàn toàn Mỹ-Ngụy, đánh sụp chế độ thối nát Sài G̣n, công cụ của chủnghĩa thực dân mới của Mỹ, giải phóng toàn bộ miền Nam, thống nhất đất nước yêu quư của chúng ta. Chúng ta kiên quyết đẩy mạnh tân công và nổi dậy đến toàn thắng theo kế hoạch đă định, không có ǵ thay đổi.

 

T́nh h́nh Hương đổ, Minh lên...bọn tay sai và bộ máy kèm kẹp bên dưới càng hoang mang rệu ră chính là điều kiện rất thuận lợi cho ta dể dành toàn thắng.

 

...Chỉ có một con đường đi đến ḥa b́nh độc lập thật sự tự do dân chủ, cơm áo và ḥa b́nh dân tộc là đập tan mọi âm mưu của Mỹ và lật đổ hoàn toàn ngụy quân, ngụy quyền, dành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân”. Văn Kiện Đảng: Trang 320-321.

 

Trong khi tân “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang thành lập tân Nội Các để chờ đợi nói chuyện với “người anh em bên kia” th́ ông ta không biết rằng cộng sản đă không c̣n xem ông ta như là đại diện của “lực lương thứ ba và tệ hại cho ông hơn nữa là họ xem việc ông nhận chức “Tổng Thống” như là “phục vụ cho âm mưu của Mỹ, trở thành tay sai của Mỹ và muốn ngăn cản thắng lợi quang vinh của dân tộc trong giờ phút lịch sử hiện nay”.

 

Cũng trong ngày Dương Văn Minh nhậm chức, tại Hà Nội, “anh Văn” tức Đại Tướng Vơ nguyên Giáp đă đại diện cho Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương gửi điện văn số 135B/TK ngày 28 tháng 4 năm 1975 đến các cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên tại miền Nam như sau:

 

1.  Các anh chuyển lời động viên sau đây đến cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên:

Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương gởi lời chào quyết thắng đến toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, các đồng chí hăy anh dũng tiến lên giành toàn thắng cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại.

 

2.   Trong giờ phút lịch sử này, Thường Vụ Quân Ủy chúc các anh khỏe và giành toàn thắng cho chiến dịch.

VĂN. Văn Kiện Đảng: Trang 323.

 

Cộng sản Hà Nội không hề nhắc đến việc thương thuyết với tân “Tổng Thống” Dương Văn Minh của miền Nam cả.

 

 

 

(Xin đọc tiếp phần 13)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính