John Steinbeck và những Lá Thư viết từ Việt Nam

 

 

 

       John Steinbeck

 

 

(1902-1968) là một văn hào Mỹ từng đoạt giải Nobel về Văn Chương năm 1962. Ông là tác gỉả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng gía trị như “Của Chuột và Người” (Of Mice and Men, giải Nobel 1962), “Chùm Nho Uất Hận” (The Grapes of Wrath), … đă được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có Việt Nam. Khoảng cuối năm 1966, ông đă đến Việt Nam để t́m hiểu về cuộc chiến đang diễn ra ở đây. Tại đây, ông đă trải qua 5 tháng cùng với các đơn vị quân đội Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Trong thời gian này, ông đă viết hàng chục lá thư ghi lại những cảm nhận của ông về cuộc chiến gởi về cho tạp chí Newsday do bà Alicia Patterson, vợ của một người bạn thân đă qúa cố của ông đang làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí này. Những lá thư đó được viết trong khoảng thời gian từ tháng 12-1966 đến tháng 5-1967, gần đây đă được nhà xuất bản University of Virginia Press tập họp lại in thành sách với nhan đề “Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War” (tạm dịch: Steinbeck ở Việt Nam: Những Báo Cáo từ Chiến Trường).

 

Vào cuối thập niên 1960 của thế kỷ trước, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam gọi chung là phong trào phản chiến đang được phát động rầm rộ khắp nơi tại Hoa Kỳ. Trong khi đó, John Steinbeck lại là một trong số ít ỏi những người Mỹ ủng hộ cuộc chiến Việt Nam. Chính v́ quan điểm này, ông đă bị những người phản chiến chỉ trích mạnh mẽ, tuy nhiên, ông vẫn bênh vực cho quan điểm của ḿnh mà cho rằng chỉ bởi v́ những người phản chiến đă không có mặt ở Việt Nam để hiểu biết được ư nghĩa về cuộc chiến tranh này. Ông nói:Ít nhất tôi đă ở đây và tôi thấy việc đó rất đáng ngưỡng mộ.” (At least I’m here and I find that pretty admirable).

 

Trong lá thư đầu tiên gởi về cho bà Alicia của tạp chí Newsday, John Steinbeck đă lên án sự vi phạm hưu chiến của VC trong dịp Lễ Giáng Sinh 1966. Vi phạm hưu chiến là một thủ đoạn mà VC vẫn thường áp dụng để thăm ḍ phản ứng từ phía VNCH, Hoa Kỳ và đồng minh, và lợi dụng thời gian hưu chiến đó để có những hoạt động quân sự có lợi cho chúng trong tương lai. Tuy nhiên, rất tiếc, Hoa Kỳ và đồng minh, tất cả đều chỉ phản đối lấy lệ sự vi phạm này nên đă đưa đến kết qủa là VC tiếp tục leo thang sự vi phạm hưu chiến mà cao điểm là sự vi phạm trong Tết Mậu Thân 1968. Nhận xét về sự vi phạm này, John Steinbeck đă viết trong lá thư ngày 31/12/1966 như sau (xin trích dịch):

 

Sàig̣n, 31 Tháng Mười Hai, 1966

 

Alicia thân mến,

 

Sự hưu chiến Giáng Sinh đă qua rồi và chúng ta đang đếm những người chết và bị thương của chúng ta do những sự vi phạm hưu chiến của Việt Cộng. Chúng biết chúng ta sẽ tôn trọng hưu chiến. C̣n chúng biết chúng sẽ không. Các binh sĩ của chúng ta và của các đồng minh chúng ta rất tức giận về việc này. Đức Giáo Hoàng đă kêu gọi ḥa b́nh và chúng ta đă đáp ứng nhưng đă không được đáp trả. Thêm vào đó, chúng ta c̣n được biết Hà Nội đang chuyển quân và các đồ tiếp liệu về phía nam. Chúng biết chúng ta sẽ tôn trọng hưu chiến. C̣n chúng biết chúng sẽ không…”

 

John Steinbeck không chỉ bị những người phản chiến ở Mỹ chỉ trích về việc ông ủng hộ cuộc chiến VN mà ngay cả báo chí Sô Viết thời đó cũng đả kích ông là kẻ hiếu chiến không xứng đáng là người đă nhận lănh giải Nobel về văn chương năm 1962. Trong lá thư đề ngày 5/1/1967 viết tại Sàig̣n, ông đă viết, (xin trích):

 

“… Ngày hôm qua hăng tin UPI (United Press International) đă đưa tôi một mẩu tin từ tờ nhật báo thanh niên Sô Viết Komsomolskaya Pravda trong đó kết án tôi là một “kẻ đồng phạm sát nhân” bởi v́ tôi đă đi theo một chiếc trực thăng Hoa Kỳ trong một phi vụ tại VN. Đây là một sự buộc tội thật lạ kỳ và thật vô lư. Nó c̣n hơn cả Joe McCarthy (Joe McCarthy là một thượng nghị sĩ Mỹ trong thập niên 1950 nổi tiếng là người chống cộng – Ghi chú của ND). Nó đă sáng chế ra một tội phạm mới – có tội v́ quan sát…”

 

Trong một lá thư khác viết từ Sàig̣n ngày 14/1/1967 mô tả về không khí chiến tranh ở Sàig̣n, John Steinbeck đă viết, (trích):

 

“…Cuộc chiến tranh này ở Việt Nam làm cho người ta rất lầm lẫn không chỉ với các nhà quan sát chiến tranh ǵa nua mà c̣n cho cả dân chúng ở quê nhà đọc báo và cố gắng t́m hiểu nó. Đó là khó khăn chính yếu bởi v́ những thiên kiến của chúng ta đă tích lũy qua mấy ngàn năm. Cuộc chiến này không giống bất kỳ cuộc chiến nào mà chúng ta đă từng liên hệ. Tôi sẽ cố gắng nói cho bạn biết một vài điểm khác biệt khi tôi quan sát thấy chúng.

 

Thật là dễ dàng để báo cáo chiến tranh qua những sự chuyển quân, những nơi đă chiếm và đă giữ hay đă mất, những pḥng tuyến đă thiết lập và giải tỏa, các binh lính đối địch nhau và chiến đấu cho đến khi phía bên này hay bên kia thua. Những trận đánh lớn được hoạch định, có thể được báo cáo giống như một trận đấu ḅ. Có thể bạn nh́n thấy trên bản đồ các cuộc chiến tranh trước đây: một bên pḥng tuyến là bạn bè chúng ta, c̣n phía bên kia là kẻ địch. Việt Nam ḥan toàn không giống như vậy và tôi tự hỏi không biết tôi có thể mô tả nó được không…

 

Alicia, có thể tôi không thể nói với bạn nó giống cái ǵ, nhưng tôi sẽ cố gắng để bạn có thể cảm nhận được. Nó là một cuộc chiến đầy cảm xúc không có chiến tuyến và không có hậu phương. Nó có ở khắp nơi giống như một làn hơi mỏng thường xuyên hiện diện…”

 

Đặc biệt, trong một lần tham dự một cuộc hành quân tại Cần Thơ, Việt Nam, vào tháng 1-1967, John Steinbeck đă chứng kiến một vụ khủng bố bừa băi của VC vào một quán ăn đông người làm chết nhiều thường dân vô tội. Ông đă đặt câu hỏi, lư do nào VC lại khủng bố tiêu diệt chính đồng bào ḿnh một cách vô cớ như thế. Trong lá thư viết tại Cần Thơ ngày 21/1/1967, ông đă kể lại sự kiện này như sau (xin trích):

 

“Cần Thơ, 21 Tháng Giêng, 1967

 

Alicia thân mến,

 

Tôi viết cho bạn về cuộc tuần tra im lặng trên sông, những bờ sông yên lặng và những v́ sao lấp lánh kép bởi cái không khí ẩm ướt. Chúng tôi đă đến bờ trước 9 giờ một chút. Đó là một phần của cuộc hành quân Game Warden đặt căn cứ ở Cần Thơ, thành phố lớn nhất trong vùng Châu Thổ. Có một số ít nhà hàng nhỏ ở Cần Thơ nơi các người Việt, luôn luôn đi với con cái họ đến ăn và nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ mà âm hưởng nghe giống như đang hát. Ánh đèn không sáng ở những nơi đó. Bởi v́ t́nh trạng thiếu điện hầu hết chúng được thắp sáng bằng những cái đèn leo lét.

 

Vào khoảng 10 giờ tối, hai thanh niên trẻ đang đi dạo dừng lại ở phía trước một nhà hàng đông đúc và bất ngờ ném hai quả lựu đạn vào trong lúc cánh cửa mở rộng. Một qủa không nổ. Qủa kia nổ tung và xé tung mọi người cùng với con cái họ. Không có người lính nào trong nhà hàng, kể cả lính Mỹ cũng như lính Việt. Không có một lợi ích ǵ về mặt quân sự đạt được. Một đại úy người Mỹ chạy lại và bồng ra một em bé gái khoảng 7 tuổi. Anh đă khóc khi mang em bé đến bệnh viện và em đă chết. Các xe cứu thương đă mang đi các thân thể bị gẫy nát tới một ṭa nhà dài, nơi từng là một bệnh viện của Pháp nhưng nay là của chúng ta. Rồi công việc cưa cắt, và t́m kiếm những miểng vụn kim loại bắt đầu và mùi ê-te đầy trong ṭa nhà. Một số người với quần áo tơi tả khi đến nơi đă chết và một số khác đă chết sau đó nhưng số người sống sót đă được điều trị và băng bó. Họ nằm trên những chiếc giường gỗ với một câu hỏi ánh lên trong ánh mắt họ. Những kim truyền dịch nước biển được dán vào mu bàn tay họ, nếu họ c̣n tay, hoặc vào mắt cá chân nếu họ không c̣n tay. Những đứa trẻ đang nô đùa trên sàn nhà hàng đă bị thương nặng nhất khi lựu đạn nổ. Các bác sĩ và y tá của lực lượng đế quốc Mỹ thô bạo, hung hăn đă làm việc suốt cả đêm cho cái kết qủa của sự bảo vệ tổ quốc cao quư này.

 

Cùng lúc đó những kẻ ném lựu đạn đă bị bắt và chúng đă tự hào nh́n nhận hành động, thực sự kiêu hănh v́ nó.

 

Tôi thấy tôi không hiểu được cái ư tưởng của những tên khủng bố bừa băi này.Tại sao họ lại tiêu diệt chính đồng bào họ, những đồng bào nghèo khổ của chính họ mà sự tự do là mối quan tâm cửa miệng của họ? Cái bệnh viện đó với tất cả sự đau đớn vô ích của nó giống như một đám mây buồn. Có ai có thể tin rằng Việt Cộng, những kẻ có thể làm điều này cho chính đồng bào họ, lại quan tâm đến t́nh trạng an sinh cho họ nếu họ nắm trọn quyền kiểm soát. Tôi thấy tôi không thể tin được. Chúng ta và các đồng minh của chúng ta thường làm chết và làm bị thương những người dân vô tội trong khi thực hiện một cuộc hành quân. C̣n VC th́ luôn luôn tự tắm với (máu) những con người vô tội. Họ đặt một khẩu súng máy ở ngay cửa nhà một nông dân và một bầy trẻ con ở gần đó dù biết rằng chúng ta sẽ miễn cưỡng bắn lại làm thiệt mạng người dân. Họ lập những lô cốt của họ trong những khu đông dân cư cũng với cùng một mục đích. Và người dân sẽ bị thương. Tôi đă thấy chúng ta quan tâm để cố tránh điều đó, và phải cấp cứu khi nó không thể tránh được.

 

Một khu của cái bệnh viện cũ của người Pháp ở Cần Thơ là để dành cho những thương vong của VC. Những cánh cửa ra vào và cửa sổ đă bị bít chắn, dĩ nhiên, nhưng ở bên trong, việc điều trị th́ vẫn giống y như dành cho chúng ta. Nhưng trong con mắt của những tù nhân bị thương tôi nh́n thấy một sự thật tàn nhẫn khác, những bộ óc này chỉ trông đợi sẽ bị hành hạ và bị chết bởi chúng ta và sự nghi ngờ đến khó chịu của họ khi chuyện ấy đă không xảy ra. Những cái đầu óc này đă bị thui chột bởi cùng cái kế hoạch đă đặt cái túi chất nổ trong chợ hay ném trái lựu đạn vào trong một rạp hát đông người.

 

Tôi phải tin rằng những người tuần hành đông đảo phản đối từ nhiều ngày qua ở Liên Hiệp Quốc và chung quanh Ṭa Bạch Ốc chán ghét chiến tranh. Tôi nghĩ tôi có nhiều lư do hơn họ để chán ghét. Nhưng có thể nào chiêu mộ họ cho những dịch vụ y tế không? Họ có thể được huấn luyện cấp tốc và không đ̣i hỏi phải giết ai cả. Nếu họ rất yêu mến dân chúng, tại sao họ không muốn cứu giúp họ? Đất nước này thiếu thốn sự trợ giúp y tế một cách thật khổ sở. Có thể nào một số năng lượng dùng vào việc mang các áp-phích (chống chiến tranh) được chuyển qua để dọn dẹp các giường (bệnh viện) hay chùi rửa các vết thương bị nhiễm trùng? Đó mới thực sự là một sự phản đối chống lại chiến tranh. Họ đáng lẽ có thể được nói cho biết rằng, dĩ nhiên những người hùng VC của họ không tôn trọng những ư định ḥa b́nh. Họ bỏ bom bệnh viện và đặt ḿn các xe cứu thương. Có thể là nguy hiểm khi sử dụng phương pháp phản đối này, và hơn nữa, nếu họ rời khỏi đất nước, những tấm chi phiếu trợ cấp của họ có thể bị ngưng lại. Nhưng ngược lại họ có thể gặt hái được một chút tự hănh diện là đă làm một chút ǵ thay v́ chống lại.

 

Câu hỏi thường được đặt ra từ quê nhà là – khi nào chiến tranh sẽ chấm dứt? Tôi chỉ có thể đoán thôi, Alicia, nhưng ít ra tôi đang phỏng đoán trên căn bản quan sát từ đầu này tới đầu kia của đất nước. Tôi đoán rằng sự ngừng bắn sẽ đến không c̣n xa trong tương lai bởi v́ chúng ta và các đồng minh của chúng ta có thể gặp và đánh bại bất cứ đối thủ quân sự nào đối mặt chúng ta. Nhưng một sự ngừng bắn mới chỉ là một sự bắt đầu. Trong cuộc hưu chiến Lễ Giáng Sinh, cũng là một sự ngừng bắn, đă có hàng trăm vụ vi phạm hưu chiến nhưng không có cái nào thực hiện bởi chúng ta cả. Nhưng đó không phải là sự kết thúc chiến tranh. Những người VC chính hiệu chuyên nghiệp được huấn luyện ở trong những tổ ba người (tổ tam tam chế) để phá rối đất nước. Chúng phải bị đánh bật ra từng người một cho đến khi các xă ấp có thể tự bảo vệ. Và cái đó phải mất cả một thế hệ. Nhưng bất cứ ai c̣n nghi ngờ điều này nên nh́n vào Nam Hàn. Chỉ trong một thế hệ mà một dân tộc đă thay đổi, kiêu hănh, hiệu qủa và tự tin. Binh lính của họ đă có mặt tại đây ở Việt Nam thật tốt đẹp như bất cứ quân đội nào trên thế giới. Và điều ǵ đă xảy ra cho họ có thể xảy ra ở đây (Việt Nam) – chắc chắn như vậy. Nếu chúng ta vội vă rút ra hay qúa ngu ngốc để hiểu được cái gía phải trả, chúng ta có thể thắng trận đánh và thua cuộc chiến.”

 

John Steinbeck đă đặt câu hỏi, tại sao VC lại tiêu diệt chính đồng bào họ. Câu trả lời thật là đơn giản, bởi v́ đó là chủ trương của những người cộng sản, gieo rắc sự sợ hăi qua những hành động khủng bố chính là kế sách “cứu cánh biện minh phương tiện” của họ. Đó là một chủ trương nhất quán, “trước sau như một” mà người cộng sản vẫn áp dụng từ hôm qua cho đến hôm nay như chúng ta đă và đang chứng kiến những sự đàn áp, khủng bố đang diễn ra ở trong nước đối với những người dân oan, những người nông dân bị cưỡng chế đất đai, hay những người biểu t́nh chống Trung Quốc, v.v…

 

*  *  *

 

Những lá thư viết từ Việt Nam của John Steinbeck là một trong những tài liệu qúy gía về chiến tranh Việt Nam. Chúng có thể được coi như là những di cảo cuối đời của ông, nhưng thật đáng tiếc, chỉ hơn một năm sau khi từ Việt Nam trở về Mỹ, John Steinbeck đă từ trần ngày 20/12/1968 tại New York v́ bệnh tim. Ông đă mất ở tuổi 66 trong khi sự nghiệp vẫn c̣n dang dở, để lại nhiều thương tiếc cho những người ái mộ. 

 

 

 Toàn Như

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính