Tạ Ơn !
 

 Sơn Nghị

 

 

Bất cứ quốc gia nào cũng có thời kỳ dựng nước và giữ nước. Dựng nước đă khó, giữ nước lại càng khó hơn. Dựng nước bằng mồ hôi nhưng giữ nước lại bằng máu. Trong phim “The Patriot”, nói về chàng Benjamin Martin v́ thù nhà đứng lên thống lănh đám quân ô hợp (militia), phối hợp với Continental Army đánh đuổi quân đế quốc Anh để giữ độc lập (1775-1783). Sau khi đánh bại quân đội Anh, đoàn quân ô hợp trở về quê chứng kiến cảnh điêu tàn. Vườn tược tan hoang, nhà cửa thiêu hủy, vợ chết con mất. Tất cả phải xây dựng lại từ đầu nhưng trong ḷng họ vẫn tự hào v́ đă giữ vững được độc lập của đất nước thuở mới khai sinh.


Cuộc chiến nào cũng thế, phải trả bằng một giá máu và nước mắt. Nhiều người đă nằm xuống, phải hy sinh chính mạng sống của họ để bảo đảm an sinh cho những thế hệ tiếp nối. Quốc gia nào cũng có ngày để tưởng nhớ đến những vị anh hùng đó – Ngày Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial’s Day). C̣n những người sống sót sau một cuộc chiến tương tàn th́ sao, chúng ta cũng phải ghi nhận công ơn của họ – Ngày Cựu Chiến Binh (Veteran’s Day). Chính họ đă hy sinh một phần đời người, hoặc một phần thân thể cho cuộc chiến để bảo vệ sự trường tồn của đất nước.

 

Trong Thế Chiến I, gần 4 triệu rưỡi lính Mỹ cầm súng th́ đă có 126,000 người tử thương, số c̣n lại là cựu chiến binh. Thế Chiến II, nước Mỹ chiến đấu bên cạnh quân đội Đồng Minh chống lại phe Trục, kết quả 291 ngh́n lính Mỹ bị tử thương trên mặt trận và khoảng 115 ngh́n chết v́ những lư do khác. Với số người tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào cuộc chiến lên đến 16 triệu, nếu trừ đi số thương vong, số c̣n lại cũng là cựu chiến binh. Thế hệ “baby boomer” (1946-1964) không hay biết thế giới vừa may mắn thoát được họa diệt chủng của phát-xít. Chiến tranh Cao-ly (1950-1953), ngoài số lính tử thương là 23,300 người, cũng có hàng trăm ngh́n người sống sót trở về từ chiến trận. Rồi cuộc chiến Việt Nam (1959-1975) với hơn triệu binh lính Mỹ đến tham chiến, đă có hơn 58,000 người mạng vong và như thế con số cựu chiến binh Việt Nam lên đến cả triệu. Máu xương của những chiến sĩ đă anh dũng đổ ra với mục đích cổ vơ tư tưởng dân chủ tự do. Mỗi năm có một ngày để mọi công dân trong một nước nhớ đến công ơn của họ.

 

Số phận của những cựu chiến binh ở Hoa-kỳ thật may mắn. Nếu tính con số của 3 cuộc chiến: Thế Chiến 2, Cao-ly, và Việt Nam th́ con số cựu chiến binh lên đến mười mấy triệu. Họ được hưởng những tiêu chuẩn đặc biệt về học vấn, việc làm, y tế…v..v. Hiệp Hội Cựu Chiến Binh thành lập năm 1944 (American Veterans of World War II, Korea, and Vietnam, AMVETS), được Tổng thống Truman phê chuẩn năm 1947, bao gồm các cựu quân nhân từ ba cuộc chiến kể trên, (dĩ nhiên, đầu tiên chỉ có cựu chiến binh Thế Chiến 2, theo thời gian gia nhập thêm cuộc chiến Cao-ly, và Việt Nam sau đó). Với một hiệp hội như thế, họ đứng ra tranh đấu quyền lợi, nâng đỡ lẫn nhau để bảo đảm có một cuộc sống thăng bằng như mọi người khác.

 

Ít ra xă hội đă trả công phần nào cho những người cựu chiến binh v́ không thể lấy lại được con mắt đă mù v́ miểng đạn, không thể lấy lại đôi chân bị cưa cụt v́ đạp phải ḿn, cũng không thể lấy lại đôi tay bị cắt cụt v́ đạn pháo. Nhưng dù sao những người cựu chiến binh Mỹ vẫn c̣n may mắn hơn số phận của nhiều chiến binh khác. Những cựu chiến binh người Việt. Họ là những nạn nhân c̣n sót lại trong cuộc chiến Việt Nam mà chúng ta không thể không nói đến. Trước hết, họ chiến đấu kiên cường để bảo vệ tổ quốc khỏi rơi vào tay Cộng sản. Sau nữa, họ chiến đấu bền bỉ v́ lư tưởng tự do. Ngày 30 tháng 4, 1975, miền Nam - Việt Nam Cộng Ḥa bị sụp đổ v́ một lư do nào đó mà kẻ viết bài này chưa đủ kiến thức để kết luận. Đến bây giờ, sau 38 năm lưu lạc, đă có một số nhận định về nguyên nhân của sự thất trận ngỡ ngàng – cho cả hai bên, bên thua cũng như bên thắng. Cho dù v́ bất cứ một nguyên nhân nào đi chăng nữa, nội tại hay ngoại cảnh, xa hay gần, ta hay người, chúng ta đă mất đi một cơ hội (vĩnh viễn?) mừng ngày Cựu Chiến Binh trên quê hương. Trước 75, đă có ngày tưởng niệm Các Chiến Sĩ Trận Vong nhưng vẫn chưa có ngày ghi ơn những chiến sĩ c̣n sống sót v́ cuộc chiến đang tiếp diễn. Rồi đất nước rơi vào tay bọn đỏ vô thần, để lại gần triệu binh lính hoang mang với một chế độ sắt máu về chính trị, không tưởng về kinh tế.

 

Và một cuộc trả thù tàn bạo xảy ra trên khắp đất nước miền Nam. Cuộc trả thù không mang tính chất “tắm máu” nhưng là một sự trả thù khủng khiếp, dă man với mỹ từ “cải tạo”. Nó đày đọa tinh thần của những quân nhân kém may mắn không chạy kịp, hoặc không muốn đào thoát vào những ngày cuối cùng. Họ ở lại kiên cường chiến đấu mặc dù lịch sử đă bước qua giờ thứ 25. Tôi đă thấy tận mắt những anh lính Dù cầm súng len lỏi trên những con đường ở B́nh Triệu vào giờ thứ 29, 30 ǵ đó, hiên ngang bắn vào quân thù. Anh bị một băng đạn sau lưng và ngă gục. Máu nhuộm đỏ trên mảnh đất quê hương.

 

Ngày 30 tháng 4, sau khi nghe tiếng súng nổ thật gần ở chợ Bến thành, tôi lái xe từ bến Chương Dương chạy ngược lại đường Tự do, sang Hồng thập Tự, đến ngă tư Lê văn Duyệt và chứng kiến đoàn quân xe tăng T-54 của cộng quân di từ xa lộ vào. Sau 38 năm, tôi vẫn c̣n nhớ tâm trạng hăi hùng khi thấy lá cờ "Mặt trận Giải phóng Miền Nam" được cắm trên đầu xe tăng. Tôi không biết nhiều về cộng sản, mặc dù gia đ́nh tôi di cư để trốn họa đỏ năm 1954. Thế hệ của tôi, thế hệ được cha mẹ bồng bế dắt díu vào miền Nam, khi vừa trưởng thành th́ mất nước. Những người lớn có nói đến cộng sản, nói đến lư do bỏ vườn tược ruộng nương để ra đi tay trắng nhưng chúng tôi không cảm nhận được những kinh nghiệm xương máu mà thế hệ cha ông tôi đă kinh qua. Nhưng chúng tôi cũng biết được không thể để cộng sản tràn vào miền Nam v́ đó là ngày tận thế cuả 17 triệu con dân. Vậy mà tôi thấy chúng đi ngang nhiên trên đường Hồng thập Tự. Tôi nhớ lại lời tiên đoán của cha tôi, về một cáo chung của dân Việt. Tôi rùng ḿnh thật sự.

 

Chạy ngược về phía ngă tư Bảy Hiền, tôi chứng kiến những người lính buông súng vừa đi bộ, vừa cởi áo lính, chỉ c̣n chiếc áo thun trắng trên người. Tôi chợt nghĩ đến vành khăn tang trắng toát. Vành khăn đă thắt lên đầu bao nhiêu thiếu phụ mất chồng trên chiến trường; vải sô trắng khoác vội vào người những đứa trẻ thơ. Ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy ḿnh không là ḿnh. Bây giờ, những người lính thiểu năo bước đi như những bóng ma. Có thể, gia đ́nh họ c̣n kẹt lại ở miền Trung, ở miền Tây chưa biết tin tức sống chết thế nào. Họ cầm súng, theo đoàn quân tử thủ thủ đô và tôi không biết họ đang bước về hướng Sàig̣n để gặp ai? để làm ǵ? Đứng bên lề đường vào buổi trưa nắng gắt ngày hôm đó, tôi thấy ḷng ngậm ngùi hơn bao giờ.

 

Đó chính là những Cựu Chiến Binh. Nếu chúng ta thắng, chắc chắn sẽ có một ngày vinh danh họ, một ngày ôn lại những chiến công hiển hách không kể xiết, một ngày có người ở thế hệ thời hậu chiến đại diện đứng lên cúi đầu nói hai tiếng tạ ơn. Lịch sử đă không chiều ḷng người. Tiền đồ đă rơi vào tay những người cộng sản. Họ, sau khi cưỡng chiếm miền Nam đă xây dựng một đất nước thế nào? Niềm tin tự hào “chiến thắng giặc Mỹ sẽ xây dựng bằng mười ngày nay” mà họ cố ư gieo vào đầu óc những thanh niên lớn lên ở miền Bắc một cách có hệ thống từ năm 1960 đă thực hiện đến đâu?

 

Thủ tướng Churchill có nói một câu bất hủ: “Chế độ tư bản bất công khi tạo ra giai cấp giàu nghèo c̣n chế độ cộng sản lại công b́nh khi phân chia đều sự nghèo khó.” Tội cho ông Churchill, ông nói câu này dựa trên lư thuyết của Mác và thực tế của dân Nga nhưng ông lại không sống thọ để chứng kiến bọn cộng sản Việt nam phân chia ra hai giai cấp rơ rệt, chẳng khác ǵ chế độ tư bản: “giai cấp thống trị nắm hết mọi tư liệu sản xuất và giai cấp bị trị gồm đại đa số nhân dân.” Cũng câu nói kinh điển này, họ kêu gọi nhân dân vùng lên để dành lại tư liệu sản xuất, làm chủ lấy cuộc đời ḿnh. Hỡi ôi, tội cho đám dân đen nhẹ dạ, họ đổ máu xương dành lại "tư liệu sản xuất" để dâng lên cho những ông vua khoác áo đỏ, có răng nanh như một loại hồ tinh, độc ác c̣n gấp trăm lần những tên Việt gian thời phong kiến, tàn nhẫn c̣n hơn những tay trùm tư bản. Hoá ra họ áp dụng đúng lơi cốt của chế độ phong kiến và chế độ tư bản. Có lẽ nước Việt Nam là nước có nhiều người nghèo nhất thế giới hiện nay nhưng chắc chắn không thiếu những ông vua con ở đó đang vung tay tiêu xài ngang nhiên như một tay triệu phú, nếu không nói là tỷ phú. Con cháu họ đi du học chuẩn bị để lên kế ngôi như triều đại cha truyền con nối thời phong kiến, chế độ mà họ miệt thị lên án gắt gao.

 

Cả một thế hệ bị băng hoại trong chiến tranh đă đành, v́ thui chột về kiến thức, v́ được hun đúc trong tư tưởng hận thù; đến thời hậu chiến, sau 38 năm, tầng lớp thanh thiếu niên cũng chẳng hơn ǵ. Họ mất niềm tin, kiến thức căn bản thiếu trầm trọng, trong khi những tệ đoan xă hội th́ họ lại theo kịp, nếu không nói hơn, đà tiến hoá của những nước Tây phương. Không nên trách họ, mà hăy trách những kẻ trong tay đang nắm những “tư liệu sản xuất” và xử dụng triệt để công cụ “chuyên chính vô sản”. Một người b́nh thường, có chút lương tri, nh́n đám dân đen quá khổ cực ít ra cũng nhỏ một giọt nước mắt thương xót. Mà họ có phải ai xa lạ đâu, chính là những người đă nghe theo chính sách của đảng, hy sinh xương máu để tạo nên ngai vàng cho họ ngày hôm nay. Không cần có ḷng từ tâm vĩ đại, chỉ cần chút da vàng máu đỏ thôi, đă phải thấy xót xa cho thân phận con người và cố làm một cái ǵ đó cho dân cho nước chứ không thể ngồi thản nhiên vung văi tiền bạc qua những buổi “nhất dạ đế vương” thâu đêm suốt sáng. Hoá ra, làm "người" cộng sản cần phải có ḷng ác độc, phải có cái thản nhiên “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.” Cái độc ác từ thời cải cách ruộng đất đă được biến đổi, ghê gớm hơn, khủng khiếp hơn và triền miên hành hạ dân Việt. Người ta đă rùng ḿnh v́ ḷng độc ác trong thời cải cách:

 

Nước tôi có Đặng Xuân Khu,

Đâm chết thằng chú bỏ tù thằng cha


(Đặng Xuân Khu, biệt hiệu Trường Chinh đă đấu tố cha mẹ ḿnh đến chết để làm gương cho cả nước noi theo)


Nhưng người ta phải ngậm ngùi và ghê tởm trước sự thản nhiên của những ông vua tư bản đỏ thời hậu chiến. Xét cho cùng, chính chế độ, xă hội đă tạo ra những kẻ không có lương tri như vậy. Cái lư thuyết này chẳng lạ ǵ khi quan Đại-phu Án Anh đă nêu lên từ thời Đông Châu Liệt Quốc. Chuyện kể như thế này:

 

Án Anh, người nước Tề phụng mệnh vua Tề sang sứ nước Sở. Vua Sở, Sở Linh Vương muốn làm nhục ông nên bày kế dẫn một tù nhân đến trước triều đ́nh.


Sở Linh Vương hỏi:

- Tù nhân đó ở đâu? Phạm tội ǵ?

Có người thưa:

- Tên này vốn là người nước Tề, can tội trộm.

Sở Linh Vương nhếch môi nh́n Án Anh hỏi:

- Dễ thường người nước Tề hay đi ăn trộm lắm sao?

Án Anh thưa:

- Tôi trộm nghe nói quưt xứ Giang-nam đem trồng xứ Giang-bắc, dù quưt ngọt cũng hoá ra chua. Đó là tại phong thổ không giống nhau. Nay người nước Tề khi ở Tề không ăn trộm, mà lúc đến ngụ nơi nước Sở lại sinh ăn trộm, đó cũng tại phong thổ cả.


Ngoài tài đối đáp của Án Anh, ông đă chứng minh một điểm bất di bất dịch, chính phong thổ đă ảnh hưởng đến tính nết của con người. Phong thổ chính là t́nh trạng địa lư, môi trường và những điều kiện khách quan xă hội nơi con người sinh sống và chúng ảnh hưởng trực tiếp đến nếp suy nghĩ của mỗi người. Thầy Tăng Sâm lúc c̣n nhỏ đă vẽ mặt hát nghêu ngao như phường chèo v́ mẹ con sống gần rạp diễn tuồng. Thầy lại tập tành buôn bán khi sống gần chợ búa. Mẹ thầy dọn đến gần trường học và thầy đă trở thành một nhà hiền triết. Xem đó, môi trường xă hội thế nào th́ con người sẽ trở nên như thế. Môi trường tốt sẽ tạo ra con người tốt và ngược lại. Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy là thế. Măi đến đầu thế kẻ 19, Émile Durkheim (1859-1917) – nhà xă hội học Pháp nổi tiếng– lại xác quyết một lần nữa qua câu nói: “Con người là sản phẩm của xă hội.” Đông và Tây đă gặp nhau khi nói về ảnh hưởng của phong thổ, của xă hội. Xă hội cộng sản tàn ác, quỷ quyệt, và nham hiểm chắc chắn sẽ tạo nên những con người không có lương tri v́ chính những kẻ không tim này là sản phẩm của chế độ dă man nhất trong lịch sử nhân loại.

 

Nh́n lại suốt 38 năm qua, hơn 80 triệu đồng bào sống lầm than cơ cực; không đủ miếng cơm, manh áo, không có lấy một ngày an vui; th́ thời gian từ 1954 đến 1975 là quăng thời gian vàng son, ngọt lịm. Mỗi khi nhớ lại, mấy ai mà không chép miệng thở dài luyến tiếc. Những thế hệ sau này, nghe cha ông kể lại những vui buồn trong khoảng thời gian đó thường thấy bắt đầu bằng hai chữ huyền thoại như chuyện cổ tích: ngày xưa…


Cái ngày xưa đó măi măi nằm yên trong tâm tưởng của người dân miền Nam - Việt Nam Cộng Ḥa và mỗi khi nhớ lại - tạ ơn Thượng Đế đă ban cho những tháng ngày an vui. Trong 21 năm (1954-1975), tính ra được 7665 ngày b́nh an chính là nhờ công lao của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa vô danh đă nằm xuống, của những cựu chiến binh Việt Nam Cộng Ḥa c̣n sống sót. Cho dù ngày vui qua mau nhưng hăy bằng ḷng v́ chúng ta vẫn may mắn hơn hàng triệu đồng bào ở miền Bắc, triền miên sống trong cơn ác mộng từ năm 1945, không có lấy một ngày vui.

 

 

Bây giờ cũng chưa muộn khi ngước nh́n những người lính Việt Nam Cộng Ḥa và thốt lên hai chữ Tạ Ơn !

 

Sơn Nghị

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính