“Tôi làm tôi mất nước”

 

Phạm Minh-Tâm

 

 

Hàng năm, kể từ sau ngày 30-4-1975, cứ mỗi dịp Tháng Tư về là tôi bắt đầu cảm thấy bồn-chồn hơn, xao-xuyến hơn v́ tâm-tư chưa yên của một người dân mất nước.

 

Rồi sau khi ra nước ngoài định-cư, được nhập chung với khối người Việt-Nam đi t́m tự-do và tị-nạn cộng-sản đang lang-thang khắp nơi trên thế-giới, tôi c̣n thêm ray-rứt với biết bao cảm-xúc về con đường luân-lạc của bản-thân, của gia-đ́nh, của tập-thể anh em tôi trong thân-phận lưu-đầy. Cũng đồng-thời, không nguôi-ngoai được khi nghĩ đến đồng-bào tôi, cả trong lẫn ngoài nước, cùng chung niềm đau v́ Quê-hương Việt-Nam đang trong cơ-chế toàn-trị của tập-đoàn lănh-đạo toàn là tư-bản đỏ, chỉ dùng chính-sách độc-tài của chủ-nghĩa cộng-sản để thao-túng dân-t́nh, làm băng-hoại đất nước Việt-Nam về văn-hoá, t́nh-tự dân-tộc và ư-thực tự-chủ.

         

Hôm nay, tôi muốn muợn tên cuốn sách Tôi làm tôi mất nước của tác-giả Lê Văn Phúc, ấn-bản lần thứ năm bên Texas - Hoa-kỳ vào năm 1989, viết trong ngoặc kép để làm tựa đề bài viết này, để cùng như một lời thú tội, một tâm-sự ăn-năn của một người dân b́nh-thường mà sau khi đă trải-nghiệm đủ nhọc-nhằn, cay đắng trong thân-phận lưu-vong…tác-giả Lê Văn Phúc mới nhận ra ḿnh cũng có phần lỗi là …tôi làm tôi mất nước.

 

Cái tội tầy đ́nh này h́nh như mới chỉ có tác-giả Lê Văn Phúc thẳng-thắn xưng thú. Tôi giật ḿnh về lời thú tội của ông v́ những điều ông xem như “tội” đển xưng ra th́ tôi cũng có đủ và h́nh như phần lớn các quan chức, nhân-viên của Việt-Nam Cộng-hoà từ cấp cao xuống ngạch thấp đều có đủ. Cũng không loại trừ các thành-phần lănh-đạo các tôn-giáo. Thế th́ đúng là từng người dân Miền Nam đều có tội với Đất Nước. Và những đổi thay nghiệt-ngă dẫn đến ngày hôm nay đáng lẽ phải được ghi đậm trong từng trang sử đời người. Cho dù chỉ là những mảnh vụn của đời ḿnh đă vỡ theo cái đổ vỡ trong một giai-đoạn lịch-sử của Quê-hương, trong đó có đủ khía cạnh xă-hội, văn hoá, chính trị...

 

Trên đống mảnh vụn này, tôi muốn mượn lời sám-hối của tác-giả Lê Văn Phúc để tính sổ đời ḿnh với những ân và oán, mất và c̣n lẫn lộn để đôi vai không bị oằn xuống theo sức nặng của thời-gian vẫn đằng-đẵng kéo lê suốt 45 năm qua; bốn mươi năm mùa xuân sắc mầu phai nhạt kể từ cái ngày 30-4-1975.

 

Tác-giả Lê Văn Phúc mở đầu lời xưng thú rằngCàng đọc báo bổ, tài liệu, càng nghe bàn luận về Việt-Nam, tôi càng hoang mang lạc lơng, khó hiểu. Một trong những điều khó hiểu ấy là nguyên do đâu mất nước? Trách nhiệm ấy của ai? Của tổng thống hay của tư lệnh vùng? Của đại tướng hay đại úy? Của tỉnh trưởng hay quận trưởng? Hoặc cao xa hơn nữa, trách nhiệm ấy của Nga, của Mỹ hay Tầu?

 

Qua 10 năm lưu lạc giang hồ, làm dăm bẩy thứ nghề lao động chẳng giống ai, tôi càng cám cảnh trớ trêu thiên địa phong trần, không hồng nhan cũng đa truân như kiểu người yêu của chàng Kim Trọng. Trong cảnh buồn năo nuột như thế, tôi đâm ra trầm tư mặc tưởng, suy niệm, ôn cố tri tân, t́m hiểu về số phận đất nước.

 

Cổ nhân nói: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, làm tôi áy náy nghi ngờ. Quốc gia thịnh hay suy mà lại là trách nhiệm của người dân b́nh thường hay sao?...

 

Vậy chính tôi có trách nhiệm mà không thi hành hoặc thi hành chểnh mảng. Cả hai đều có lỗi. Chả cứ tôi mà c̣n nhiều người khác cũng vậy. Thế nhưng các vị nắm vận mệnh quốc gia, trách nhiệm chỉ huy đơn vị lớn đều cứ chối bai bải về trách nhiệm làm tan tành đất nước.

 

Theo bản sơ kết t́nh h́nh chiến sự, cho đến nay chưa có ai viết sách, viết bài tự nhận ḿnh có lỗi lầm, tự nhận ḿnh có trách nhiệm làm mất nước cả. Chỉ thấy họ tŕnh bầy cái lỗi của người khác… Nhờ dành thời giờ suy tưởng đến dăm ba phút, tôi vỡ lẽ ra rằng chẳng phải nói ai, chính tôi làm tôi mất nước.

 

Nḥm vào quá khứ, tôi thấy tôi như h́nh với bóng đồng lơa, làm đủ mọi thứ chuyện tồi bại có hại cho bổn thân, cho gia đ́nh, cho họ hàng anh em hàng xóm, cho đồng bào khiến nên bao nhiêu thứ suy đồi xấu xa tích lũy lại, dần dần đưa tới hậu quả ngày nay.

 

Hậu quả ấy đến coi như chậm bởi c̣n rất nhiều người có trách nhiệm, nhận trách nhiệm và gánh vác nó. Họ là các chiến sĩ anh hùng sả thân ngoài chiến tuyến, là những thương phế binh, cô nhi quả phụ can trường nhẫn nhục hy sinh, là những công bộc chuyên cần và thanh liêm, là những cán bộ nông thôn sống với dân và sát với địch, là những người dân lành chăm chỉ thực thà một nắng hai sương… Không có họ, đất nước mất tự khuya rồi!

 

Tôi đâm ra ăn năn hối hận, dẫu chả ai dí súng bắt viết, không có CIA dúi tiền bảo làm, không ai dụ khị vạch áo cho người xem lưng, tôi cũng xin làm bản kiểm kê tự thú về những cái tồi tệ hư đốn bại hoại của ḿnh. Để tâm hồn may ra được đôi chút b́nh an, để tạ lỗi với gia đ́nh, với bạn bè đă nằm yên trong Nghĩa Trang Quân Đội hoặc vất vưởng chốn lao tù cải tạo, với những người sắp ra đi, với những người c̣n ở lại đọa đày… (hết trích)

 

Tôi bắt đầu xét ḿnh và t́m thêm những điều từ cuộc sống trước mắt.

 

Ba mươi năm đầu đời, tôi là mầm non nẩy lộc và sinh hoa kết trái giữa vườn ruộng Quê-hương với bao bàn tay vun tưới. Rồi chưa kịp dâng đời được bao nhiêu sức sống th́ mùa đại-hạn tiếp đến bằng cơn băo cát xă-hội chủ-nghĩa và giai-cấp đấu-tranh. Từ đó tôi bị cuốn đi theo vận-mệnh chung của Đất Nước. Rồi cứ thế mà bị đẩy-đưa theo những năm tháng thật bàng-hoàng xa-lạ và lạc-lơng của một kẻ bị đánh cắp hết tuổi đời ngay khi vẫn c̣n phải sống giữa cuộc đời. Vẫn từng ngày nh́n mặt người trong băn-khoăn là ḿnh hay người đă biến-dạng.

 

Và trong thân-phận lưu-vong, tôi như một cái cây bị bứng ĺa cả gốc rễ khỏi miền đất đă từ đó nẩy mầm để trồng sang đất lạ; phải tận dụng hết bản-năng sinh-tồn để vươn lên. Và những dư-vị của quá-khứ chính là những giọt sương mát cho cây giữ được mầu xanh.

 

 Nhiều anh em tôi, đồng-bào tôi làm như không hề nghĩ đến hay không hề biết sợ một điều sinh-tử về một ngày, cả khối gần trăm triệu dân vẫn cho ḿnh là con Hồng cháu Lạc bị người Tầu phía Bắc khuynh-loát, dẫn đầu. Họ không thèm đồng-hoá như ngày xưa bắt dân ta gióc tóc đuôi sam, nói tiếng Tầu để họ mang tiếng với thế-giới hay ít nhất cũng c̣n vướng phải nhiều nan-giải như họ đang bị sa-lầy ở Hồng-kông từ sau năm 1987 mà giờ này Trung-cộng đang có câu trả lời. C̣n Việt-Nam…đa-số đồng-bào tôi đă nhiễm nặng căn bệnh vô-cảm nên chỉ biếng lười ngồi ngóng cổ chờ ông Mỹ ông Úc…hay bất cứ ông lănh-tụ ngoại-quốc nào chịu ra tay với cộng-sản Việt-Nam để ḿnh hưởng nhờ. Bài học lịch-sử bao phen rồi vẫn chưa ai học thuộc là cũng v́ mẫu-quốc này, đồng-minh nọ mà Việt-Nam thành một thị-trường cho các siêu-cường thi đua thử-nghiệm và rao bán vũ-khí. Như một tấm vải để người ta nhuộm đủ mầu cờ sắc áo.

 

Ở hải-ngoại c̣n tệ hơn, lớp trẻ th́  phần lớn đă hội-nhập với xă-hội đang sống, rồi v́ người lớn trong gia-đ́nh chẳng thiết ǵ đến việc giúp con cháu biết về Quê-hương Việt-Nam mà buông xuôi truyền-thống để chỉ lo hưởng-thụ đời sống vật-chất dư-dả xứ người…C̣n lại, một số không nhiều những người trong lớp tuổi xế chiều, vẫn muốn để cho ra vẻ c̣n “có đầu óc” nên thay v́ nỗ-lực khuyến-khích con em ḿnh, th́ lại đi chia nhóm phân phe, ồn-ào chửi đổng lẫn nhau trong không-khí “chợ chiều” của những người “bên thua cuộc”. Đó là tàn-dư từ một tổng-hợp trong quá-khứ đă từng nặng đầu óc phe nhóm cố-chấp, với nhiều tham-vọng bất-cập của cá-nhân và tập-thể, những tà-niệm đầy sân-si của các nhà lănh-đạo tôn-giáo…mà tô giặm thêm vào trang sử nội-chiến. Trang sử mà hiện nay vẫn chưa ráo mực.

 

Đó là dù Hội-nghị này hay hiệp-định nọ, càng lắm họp bàn th́ càng nhiều cơ-hội đem Việt-Nam ra đấu giá, cho đến khi non sông tôi rách nát, dân-tộc tôi tàn-tạ tả-tơi th́ họ xúm nhau chia lợi bằng tṛ t́m giải-pháp cho Việt-Nam. Đồng-bào tôi, cả dân-tộc tôi đă bao phen phải nhận những kết-quả do ngoại-nhân sắp đặt cho ḿnh. Với những cơ-sự như thế th́ các bậc trí-thức, khoa-bảng, vẫn cứ điềm-nhiên toạ-thị. Không ai lên tiếng than một câu hay chửi một tiếng. Chỉ khi nào đụng chạm đến việc tranh quyền cướp vị của bản-thân hay phe nhóm của họ th́ phải biết. Tha hồ mà đấu-đá nhau, triệt-hạ nhau. Bao nhiêu cái đầu uyên-bác đó sẽ không cón thiếu một lư-lẽ nào mà không viện-dẫn “đấu tranh” để ồn-ào. Thậm chí ngôn-ngữ dân gian có bao nhiêu chữ nghĩa dung-tục cũng được tận-dụng không thiếu mảy-may. Như vậy là con Rồng cháu Tiên hay liu-điu, ṇng-nọc đây?

 

Sau ngày 30-4-1975, tôi đă trải qua bao năm tháng dằn-vặt với tâm-trạng là một kẻ lạc-lơng ngay trên chính Quê-hương ḿnh. Một kẻ bị lưu-đầy ngay giữa ḷng Đất Mẹ với cảm-nghiệm vừa xa-lạ vừa hụt-hẫng bởi những giá-trị đă như bị lật ngược. Trật-tự và đạo-đức con người thành đảo-điên. Nếp sinh-hoạt nền-tảng từ trong nhà đến ngoài xă-hội bị xáo-trộn. Cứ như thời-gian bị quay ngược ṿng kim đồng hồ.

 

Lạc-lơng là phải. Xa-lạ cũng là việc b́nh thường của tâm-lư, của ư-thức và suy-tư. Giống như một ư-niệm về định-mệnh của câu Thánh-vịnh “con như người thợ dệt, đang mải dệt đời ḿnh th́ bỗng chốc bị cắt đứt ngang hàng chỉ…” Song ở đây lại là một định-mệnh không có phần tâm-linh mà chỉ là những áp-đặt nghiệt-ngă, oan-khiên trong tṛ chơi chính-trị của các thế-lực mệnh-danh là siêu cường-quốc…Tất cả bỗng chốc trở thành hụt-hẫng chỉ như một thoáng ngủ gục vật-vờ, một cái vấp chân vừa ngă xuống chưa kịp gượng dậy th́ đă tối-tăm cả mặt mũi.

Và cơn lốc chủ-nghĩa đă trườn tới làm cả một dân-tộc mở được mắt ra nh́n mới biết rằng đă chậm.

 

Mỗi khi nhớ lại những ǵ về khung trời tao-loạn dai-dẳng trên Quê-hương, tôi cứ quay-quắt buồn.

 

Một nỗi buồn quá lớn so với thân-phận nhỏ-nhoi của ḿnh.

 

Cái khúc quanh lịch-sử oan-khiên này của Đất Nước là một kinh-nghiệm đầy tủi-nhục và đắng cay như thế mà vẫn không mấy ai nghĩ lại.…Từ những người cầm quyền lănh-đạo tắc-trách; các thành-phần dân-tộc liên-hệ… đă v́ ḷng đố-kỵ ti-tiện, v́ sự cao-ngạo và tham-vọng cá-nhân, v́ mưu-đồ phe-phái và thậm chí c̣n v́ cái tham, sân, si của những đầu óc chứa đầy tà-niệm...gây nên rồi vô-h́nh-trung cấu-kết lại với nhau, tiếp tay nhau hè-hụi đào hố và hùa nhau xô cả dân-tộc xuống vực sâu chung với họ.

 

Họ đă quên mau chóng thân-phận lưu-đầy, sống nhờ xứ lạ quê người. Do vậy, họ tỏ dấu bực-bội, thốt lời phũ-phàng cay-nghiệt và dửng-dưng với những người vẫn c̣n tha-thiết với Quê Mẹ Việt-Nam. C̣n nếu không th́ họ mỉa-mai rằng giờ này mà c̣n có người đi lo những chuyện vẩn-vơ, bao-đồng. Lúc nào cũng lảm-nhảm truyền-thống với chả dân-tộc-tính…

 

Tôi nghĩ đến Alan Paton đă khóc - Cry, the beloved country - nên cũng muốn gào lên… hăy khóc đi hỡi mảnh đất Quê-hương Việt-Nam yêu dấu

 

C̣n những kẻ ngồi trên ghế cai-trị hiện nay, tuy không đồng-tâm yêu nước nhưng “đồng chí” ôm khư-khư sự ngu-xuẩn trong những cái đầu đầy tham-vọng và táo-tợn của loại cường-đồ, bạo-tặc. Họ cùng chia nhau dùng chung một đạo bùa chú “đảng và bác” nhưng là để ngó chừng nhau, để kiềm-chế nhau, sát-phạt nhau và đóng đinh dân-tộc. Gọi họ là cộng-sản cho tiện chứ thực ra họ cũng chẳng hiểu cái chủ-nghĩa này là cái ǵ. Trong chế-độ cộng-sản làm ǵ có tài-sản riêng trong khi họ mượn danh chủ-nghĩa để trở thành những đại-gia kếch-sù, những tư-bản giầu ngang các tỷ-phú trên thế-giới.

 

Kể từ sau ngày 30-4-1975 đến nay, cả một dân-tộc bị đoạ-đầy, bị đẩy-đưa theo từng đợt sóng xô bờ của chế-độ hiện-tại mang đến. Một khối dân ê-chề trong những thân-phận bị-trị xem ra c̣n bi-đát hơn thời thực-dân phong kiến đă qua cũng từ cái đảng này. Và từng cá-nhân đảng-viên là từng tội-nhân thiên-cổ với Đất Nước, với dân-tộc v́ đây chính là những con người mà hồ-sơ tội ác có chiều cao như trời, chiều dầy như đất. Họ tàn-ác giống nhau, nham-nhở như nhau và hiểm-độc ngang nhau chính v́ cùng được rèn-luyện chung cái chỉ họ mới có gọi là “đảng tính”.

 

Cùng trong tâm-trạng của kẻ tội-đồ với Đất Nước, như tác-giả Lê văn Phúc, đang từng ngày sám-hối, tôi xin được cám ơn các anh em tôi, những người cùng được ra đời làm người Việt-Nam từ trong một cái bọc, c̣n chưa quên Đất Nước, chưa quên anh em. Vẫn bền ḷng đấu-tranh.

 

Bởi v́ với thời-gian th́ là đă qua, nhưng với lịch-sử của Đất Nước th́ không  để cho qua được khi mà mọi sự vẫn c̣n đó trong một nỗi đau nhức-nhối như một khối u-ác-tính chưa có thuốc chữa, càng ngày càng sưng tấy lên.

 

Bởi v́ nỗi đau này chính là thực-tại của Quê-hương chứ không phải là ray-rứt với kỷ-niệm.

Đàng sau nỗi đau đó mới là kỷ-niệm.

 

Kỷ-niệm về Quê-hương, kỷ-niệm về đồng-bào, về người và về ḿnh th́ vô số, kể bao giờ cho hết. Nói thế nào cho phân rơ thực hư khi ngay từ trong những sinh-hoạt đời thường cũng đủ người và đủ việc cũ mới chen nhau. Đi đâu cũng gặp, ở đâu cũng thấy cứ như ma-trơi chập-chờn hay đúng nhất là những cơ-duyên nhắc cho ḿnh phải nhớ, phải nghĩ hoài.

 

Tôi bắt đầu hiểu bà Huyện Thanh-quan từ tấc dạ nhớ nước đau ḷng con cuốc-cuốc, thương nhà mỏi miệng cái gia- gia… là thế nào và xót đau đến đâu.

 

Cám ơn các bài Đức-dục và Công-dân Giáo-dục ở bậc Tiểu-học tại Miền Nam, đă từng bước cho tôi thấm-nhuần ư nghĩa của những tên gọi thiêng-liêng mà bây giờ tôi muốn viết hoa ở đây v́ tôi cũng là một phần trong đó.

 

Đấy là Tổ-quốc, là Đất Nước, là Dân-tộc, là Đồng-bào…được gắn liền với hai chữ Việt-Nam.

 

 

Phạm Minh-Tâm

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính