Về Quốc kỳ Việt Nam

 

 

 

Phạm Giao

 

 

 Cho tới cuối thế kỷ thứ 19, phần lớn các nước Á Châu c̣n dưới thể chế quân chủ. Biểu tượng quốc gia chỉ là huy hiệu của nhà vua, lại nữa sự giao dịch phần lớn c̣n hạn chế trong biên giới, nên có thể nói chưa có quốc kỳ. V́ thế ở Việt Nam kỳ hiệu được dùng theo màu sắc với tước vị của Vương Hầu, Tướng Soái thêu trên cờ, vẫn có tự ngàn xưa.

 

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà, lấy màu vàng của các chúa Nguyễn làm màu hoàng gia, nên cờ vàng là biểu tượng của Triều đ́nh. Dưới triều vua Tự Đức, tuy nhà vua là người yêu chuộng văn chương và là một hiếu tử, nhưng vua quan thủ cựu, không làm tṛn bổn phận người lănh đạo quốc gia, kịp thời sáng suốt canh tân như vua Nhật, hoặc ít nữa cũng như vua Xiêm khôn khéo biết dùng ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn giữa các cường quốc Tây phương để giữ được nền độc lập của ḿnh. Đă vậy triều đ́nh c̣n bế quan tỏa cảng, cấm đạo Gia Tô, giết hại giáo sĩ và giáo dân, gây chia rẽ dân tộc. Khiến nước Pháp có cớ đem quân xâm chiếm nước ta. Quân đội đă không được canh tân, triều đ́nh chỉ chuộng cái học từ chương thi phú, giới quan lại ngăn trở đổi mới để bảo vệ đặc quyền, nên ta bị bại trận dễ dàng. Người Pháp chiếm được toàn thể nước Việt mà không tốn phí ǵ nhiều. Năm Giáp Thân 1884, ta bị ép kư Hiệp ước (c̣n gọi là Hiệp ước Patenotre) nhượng đứt Nam Kỳ làm thuộc địa Pháp. Triều đ́nh Huế chỉ c̣n giữ Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nhưng bị đặt dưới chế độ bảo hộ. Chính vua nước Nam muốn lên ngôi cũng phải có phép của Pháp mới được. Giai đoạn đen tối nhục nhă ngoại thuộc bắt đầu.

 

Theo nhà văn Nguyễn Vỹ, ra đời năm đầu thế kỷ 20, trong cuốn “Tuấn, chàng trai nước Việt”, viết lại những chứng tích mắt thấy tai nghe từ 1900-1970, ông xác nhận đă thấy màu cờ nước Nam như sau:

 

1900-1932       Cờ này chỉ được treo ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. C̣n ở Nam Kỳ là thuộc địa treo cờ Pháp: Xanh, Trắng, Đỏ. Cờ này dân chúng gọi là “cờ Bảo Hộ”.

 

1932-1945       Có từ khi vua Bảo Đại thôi học ở Pháp về nước lên ngôi. Cờ này cũng chỉ treo ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Nam Kỳ vẫn treo cờ Pháp. Dân chúng gọi cờ này là “cờ Bảo Đại”. Vua và Cơ Mật Viện lấy mẫu có sẵn từ giải đeo “Long Bội Tinh” khai sinh ra quốc kỳ “An Nam Quốc”. Long Bội Tinh là huy chương cao nhất của vua An Nam ban cho người có công lớn với triều đ́nh.

 

1945    Cờ nước Việt Nam thống nhất, độc lập được treo ở cả Bắc Việt, Trung Việt, và Nam Việt.

 

Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945. Để mua ḷng người Việt, Đại sứ Nhật đă trao chủ quyền độc lập nước Nam cho triều đ́nh Huế (chỉ trên lư thuyết, thực ra Nhật thay thế Pháp nắm mọi thực quyền ở Đông Dương). Vua Bảo Đại ra tuyên cáo hủy bỏ Hiệp ước Giáp Thân 1884 và mời học giả Trần Trọng Kim thành lập nội các nước “Việt Nam Độc lập - Thống nhất”. Thủ tướng Trần Trọng Kim thấy phải có quốc kỳ dành cho toàn lănh thổ Bắc, Trung, Nam. Một cụ Tiến sĩ nho học ở tỉnh Hải Dương gửi mẫu cờ này vào Huế.

 

Vị túc nho này giải thích:

“Cờ nền vàng là biểu tượng truyền thống của quốc gia, hai vạch đỏ liền, một vạch đỏ đứt khúc ở giữa là h́nh quẻ Ly trong Bát quáị Ly trong Dịch là biểu tượng của Ánh Sáng, và đi về phương Nam, do đó cũng lại là ư chí bất khuất của dân Việt từ thời Hồng Bàng, tránh Bắc thuộc, bảo vệ sinh tồn, độc lập theo linh tính và lư trí, cả dân tộc đă Nam tiến lập quốc. Mẫu cờ này đă được Hoàng đế và nội các Trần Trọng Kim chấp nhận và tặng vị danh nho tỉnh Hải Dương “Long Bội Tinh”. Dân chúng gọi cờ này là “Cờ Quẻ Ly”.

 

Tưởng cũng nên ôn lại đoạn sử này.

 

Trong Thế Chiến thứ hai, Pháp tại Đông Dương vốn tùy thuộc chính phủ Vichy của Thống chế Pétain thân Đức. Từ ngày 29-7-1941 theo hiệp định Robin-Tojo kư ở Tokyo, quân Nhật được quyền chiếm đóng quân sự với số quân vô hạn định tại Đông Dương. Pháp phải giao các căn cứ quân sự cho Nhật và kinh tế Đông Dương phải phục vụ cho nhu cầu chiến tranh Nhật, tuy nhiên Pháp vẫn được duy tŕ hê thống hành chánh và an ninh nội trị, nghĩa là vẫn giữ quyền cai trị dân thuộc địa. Tối ngày 09-3-1945, quân Nhật nổ súng, loại bỏ hoàn toàn chủ quyền Pháp ở khắp Đông Dương. Chiều ngày 10-3-1945, Đại sứ Nhật tại Huế Yokoyama cùng Tướng Tổng Tư Lệnh quân Nhật tại Đông Dương vào yết kiến vua Bảo Đại tại điện Kiến Trung. Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh (đứng đầu Cơ Mật Viện) chờ sẵn dưới thềm đưa lên diện kiến vuạ Vua Bảo Đại lúc đó mặc sắc phục đại trào áo vàng, khăn vàng ngồi trên ngai vàng. Đại sứ Nhật long trọng trao lại quyền độc lập cho nước Nam và xin nhà vua hợp tác cùng Nhật. Nhà vua chấp nhận. Tối hôm đó Cơ Mật Viện họp khẩn, 6 vị Thượng thư thảo tuyên cáo để vua Bảo Đại công bố hôm sau 11-3-45 nhằm ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20. Vua ra tuyên cáo hủy bỏ hiệp ước bất b́nh đẳng Giáp Thân 1884, thâu hồi chủ quyền độc lập, hợp tác cùng nước Nhật theo tinh thần bản tuyên ngôn chung Đại Đông Á và đổi quốc hiệu làViệt Nam. Sau 60 năm, sự lệ thuộc Pháp chấm dứt.

 

Ngày 17-3-45 vua Bảo Đại cải tổ guồng máy cai trị, băi bỏ Cơ Mật Viện, thành lập chính phủ do một vị Thủ tướng đứng đầụ Vua mời học giả Trần Trọng Kim đứng ra thành lập nội các đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập - Thống nhất. Học giả Trần Trọng Kim khi đó ở Tân Gia Ba, không phải không biết hoàn cảnh nướcViệt Nam thân Nhật lúc đó. Nhật đang thua trận khắp nơi, Manila (thủ đô Phi Luật Tân) đă bị Mỹ chiếm lại ngày 05-2-45, tướng Mc Arthur đang xua quân đánh chiếm đảo Okinawa thuộc lănh thổ Nhật. Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương ngày 9-3-45 chỉ để dễ dàng pḥng thủ v́ biết Tướng Aymé, Phó Tư Lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, đă bắt liên lạc được với Tướng De Gaulle và sẽ lên thay Tướng Tư Lệnh Mordant chống lại Nhật. Nhật ra tay trước thế thôị Trao trả độc lập cho triều đ́nh Huế chỉ để mua ḷng dân Việt, v́ trên thực tế an ninh, quốc pḥng, kinh tế vẫn do Nhật thay Pháp nắm giữ. Hơn nữa người Nhật đối xử rất tàn ác với dân Việt bản xứ. Lúc đầu học giả Trần Trọng Kim đă từ chối lời mời của Hoàng đế Bảo Đại, viện lư do tuổi già, sức khỏe yếu kém, lại đang bị chứng huyết áp nă.ng. Ông biết chắc chắn chính phủ của nước Việt Nam nằm trong khối Đại Đông Á của Nhật chỉ là viên gạch lót đường, sẽ bị đào thải ngày một ngày hai khi Nhật bại trận. Ra thành lập nội các lúc bấy giờ chỉ để mang lại sự bẽ bàng, hủy diệt danh tiết cả đờị Đó là chưa nói đến sự an nguy cho sinh mạng.

 

Nhưng sau đó, với sự khích lệ, thúc đẩy của các nhân sĩ đương thời như Dương Bá Trạc, Hoàng Xuân Hăn, Nguyễn Văn Sâm, Vũ Đ́nh Duy và các đảng yêu nước như Dân Chính Đảng (Khái Hưng Trần Khánh Dư), Việt Nam Quốc Dân Đảng (Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), Việt Nam Phục Quốc Đảng (Cường Để), Đại Việt Quốc Dân Đảng (Trương Tử Anh), Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng (Trần Quang Vinh, Hồ Quang Ngà), nhất là hai đạo giáo Cao Đài (đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc) và Ḥa Hảo (đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ) nên cụ nghĩ lại, đành hy sinh mọi lư do cá nhân để đứng ra thành lập nội các. V́ đây là cơ hội hăn hữu, sự ước mơ của cả một dân tộc đang bị lệ thuộc Pháp. Ai cũng biết sớm muộn Nhật cũng bại trận. Nhưng nếu Pháp giữ chủ quyền ở Việt Nam, quân đội tướng De Gaulle trong lực lượng Đồng Minh sẽ giải giới quân Nhật ở Đông Dương và tiếp tục cai trị như trước. Dĩ nhiên khi đó cũng vẫn có những Đảng cách mạng nổi lên chống Pháp. Nhưng nếu Pháp vẫn giữ đủ trong tay mọi cơ cấu từ địa phương tới trung ương, liệu ta có chắc thành công hay cũng bị thất bại như những cuộc nổi dậy trước:

 

Phong trào Cần vương, Phan Đ́nh Phùng, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn TrungTrực, Hoàng HoaThám, Lương Ngọc Quyến, Việt Nam Quốc Dân đảng (Nguyễn Thái Học), hoặc như mới đây ngày 22-11-40, lợi dụng Pháp thuộc địa có chiến tranh với Xiêm,kỳ bộ Nam ky øcủa Đông Dương Cộng sản đảng “Tổng khởi nghĩa” ở Hóc Môn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu v.v... nhưng 15 ngày sau bị Pháp dẹp tan với hơn 100 người bị giết và 6000 bị đày đi Côn Lôn. Bây giờ Việt Nam là một nước độc lập, được quốc tế công nhận (dù chỉ là các quốc gia trong Đại Đông Á thân Nhật), lúcNhật bại trận,nhiệm vụ giải giới là của Đồng Minh, nếu Pháp vẫn có tham vọng chiếm lại Việt Nam, họ phải làm lại từ đầu như thời vua Tự Đức, không sử dụng được các cơ sở có sẵn trước 9-3-45. Lúc đó quân Pháp sẽ gặp sức đề kháng mănh liệt,v́ dân trí đă khác xưa vả lại sau 60 năm nhục nhă khổ cực dưới ách của ngoại bang, toàn dân Việt sẽ quyết ḷng như thời vua Lê Lợi chống quân Minh. Trong thâm tâm cụ nghĩ sẽ rút lui, sau khi ra công thâu lại mọi hạ tầng cơ sở của Pháp. Do đó, nội các Trần Trọng Kim ra đời ngày 19-4-45, gồm các thành phần tổng, bộ trưởng có tính cách chuyên môn hơn chính trị, và cờ chữ Li bay khắp Bắc, Trung, Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim tuy hiện hữu ngắn hạn, nhưng thâu la.iđược toàn bộ, loại tay chân Pháp ra khỏi các cơ cấu hạ tầng, và đặt được một số căn bản cho Việt Nam tuy hiện hữu từ ngàn xưa nhưng mới có lại nền độc lập non trẻ. Khi thấy Nhật sắp bắt buộc phải buông súng, ngày 7-8-45 sau hơn 3 tháng cầm quyền,học giả Trần Trọng Kim đệ đơn giải tán nội các, để Hoàng đế t́m người thích hợp với thời thế mớị Vua Bảo Đại chấp đơn nhưng lưu giữ tạm. TrầnTrọng Kim cũng vẫn biết chính trị muôn đời các nước mạnh bao giờ cũng lấn nước yếụ Các quốc gia Đồng Minh tuy chung sức chống khối Trục, nhưng vẫn âm thầm tranh giành nhau, nước Mỹ mạnh nhất chủ trương loại bỏ các thuộc địa của Anh, Pháp.Vậy nên cụ xin vua gửi điện văn đến Tổng thống Truman, Hoàng đế Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch và ngay cả Tướng De Gaulle, yêu cầu giải giới quân Nhật nhưng thừa nhận nướcViệt Nam độc lập.

 

Sau hai trái bom nguyên tử, ngày 19-8-45 Nhật đầu hàng vô điều kiện. Quân Trung Hoa Dân quốc được trao nhiệm vụ giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16trở lên, và quân hoàng gia Anh từ vĩ tuyến 16 trở xuống. Tướng De Gaulle cho lệnh Tướng Leclerc đem quân theo quân Anh trở lại miền Nam.

 

Song hành trong thời gian đó, nước Tàu cũng ḍm ngó Việt Nam. Thống chế Tưởng Giới Thạch cho lệnh Tướng Trương Phát Khuê cưỡng ép lănh tụ các đảng cách mạng Việt Nam đang chống Pháp đang lưu vong ở Quảng Châu phải ngồi với nhau, khi Nhật đầu hàng sẽ về loại bỏ Pháp để có nước Việt Nam thân Tàụ Kế hoạch này được phái bộ Mỹ giúp Tàu ở Côn Minh và Trùng Khánh đồng ư. Đại hội Liễu châu gồm:

 

- Đại diện cách mạng Đồng Minh hội: Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Trương Bội Công, Trương Trung Phụng, Nghiêm Kế Tổ.

- Lănh tụ giải phóng đảng: Lê Tùng Sơn.

- Đại diện Việt Nam Quốc Dân đảng: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Thành Đồng, Hồ Thành Đức.

- Đại diện Phục Quốc đảng (Cường Để): Bồ Xuân Luật, Trần Đ́nh Xuyên.

- Đại diện Đông Dương Cộng Sản đảng (Giấu danh Cộng Sản để qua mặt Trương Phát Khuê): Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng.

 

Kết quả đại hội là thành lập được Chính Phủ Lâm Thời Hải ngoại với Chủ tịch Trương Bội Công và các ủy viên: Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Hồ Chí Minh, Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Nghiêm Kế Tổ. Chính phủ này về Việt Nam, theo 180.000 quân Tàu do Tướng Lư Hán chỉ huy sang giải giới quân Nhật. Tới Việt Nam, các đảng hải ngoại trên mở rộng cùng các đảng cách mạng Quốc nội thành lập Mặt TrậnViệt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội, gọi tắt là Việt Minh, ra tuyên cáo nước Việt Nam độc lập Dân chủ Cộng Ḥa, lập chính phủ, chia ghế quốc hộị Cử hai bộ trưởng Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận vào Huế, kêu gọi vua Bảo Đại từ chức, để có sự đại đoàn kết toàn dân, toàn quốc sẵn sàng chống sự trở lại của Pháp.Vua Bảo Đại từ chức trong một nghi lễ đơn giản tại điện Kiến Trung ngày 25-8-45, trở thành công dân Vĩnh Thụy và làm Cố vấn tối cao cho chính phủ.

 

Sau đó, ngày 2-9-1945 lại thành lập “Chính phủ lâm thời” với Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Như ta thấy Hồ Chí Minh là một cáo già, rất gian hùng và giỏi gây mâu thuẫn hiềm khích giữa các đảng phái. Trong đại hội Liễu châu, đảng Cộng Sản chỉ có hai đại diện phải giấu danh Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng (Nguyễn Ái Quốc thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930, nay phải đổi tên là Hồ Chí Minh dấu nguồn gốc, để qua mặt Trương Phát Khuê vốn theo lệnh Tưởng Giới Thạch không chấp nhận Cộng Sản), và trong chính phủ Lâm Thời Hải Ngoại chỉ có 1 trong số 7 ủy viên.Vậy mà khi về nước đă thành công trong việc gây nghi kỵ giữa lănh tụ các đảng cách mạng quốc gia, để nghiễm nhiên trở thành Chủ tịch chính phủ Lâm Thời, cử tay chân nắm giữ mấu chốt để khuynh đảo các đảng khác. Họ Hồ lấy quốc kỳ là Cờ Đỏ Sao Vàng (thực ra đó chỉ là cờ đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập năm1930) thay cờ chữ Li.

 

Để củng cố quyền độc tôn, với mục đích tiêu diệt các lực lượng không Cộng Sản, Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn kư hiệp ước sơ bộ với Cao Ủy Pháp Sainteny để quân Pháp vào Hà Nội, Hải Pḥng. Khiến các đảng quốc gia phẫn nộ, tố cáo Hồ phản bội, tách ra không hợp tác với mặt trận Việt Minh, định thành lập chính phủ Liên Hiệp kháng chiến, trao quyền lại cựu Hoàng Bảo Đại. Trong số đó quân Đồng Minh hội lập chiến khu ở Yên Bái, Lạng Sơn, Lào Kay; quân Việt Nam Quốc Dân đảng lập chiến khu ở Vĩnh Phúc Yên. Các lực lượng này sau bị Cộng sản tiêu diệt dần. Nhưng vỏ quưt dày có móng tay nhọn, phía quân Pháp thấy Việt Nam chia rẽ, lực lượng quân sự non kém, vả lại điều Pháp thực sự muốn là áp đặt được chế độ thuộc địa cũ. Kư hiệp ước sơ bộ với Việt Minh chỉ để phá thế đoàn kết, nay đă có những căn cứ tại nội địa vững vàng, nên lấn lướt buộc Việt Minh phải nổ súng phá vỡ hiệp định sơ bộ lúc 8 giờ tối ngày 19-12-46. Chấp nhận chiến tranh, họ Hồ lại thắng phe quốc gia keo nữa, khi đương nhiên trở thành người lănh đạo toàn dân chống Pháp. Toàn dân Việt Nam sợ bị lệ thuộc như trước, sẵn sàng hy sinh bất kể chính kiến.

 

Cuộc chiến kéo dài, thiệt hại lớn lao cho một nước Pháp bị tàn phá sau thế chiến 2 chưa hồi phục. Vả lại chế độ thuộc địa đă lỗi thời, khắp nơi trên thế giới các nước bị lệ thuộc nổi dậỵ Pháp không chịu nổi chiến phí, cầu cứu quân viện Mỹ, viện cớ Hồ Chí Minh được khối Cộng Sản tận t́nh yểm trợ, th́ đây là điểm nóng trong Chiến Tranh lạnh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản. Cuối năm 1948, bị Mỹ thúc đẩy, để đổi lấy quân viện Mỹ, Pháp phải bỏ ư định tái lập thuộc địa, đồng ư để Việt Nam độc lập trong liên Hiệp Pháp. Nhưng Pháp từ chối kư hiệp ước trao độc lập cho Việt Nam với Hồ Chí Minh, Mỹ cũng không muốn, v́ HồChí Minh khi đó đă lộ rơ chỉ là công cụ của Cộng Sản Đệ Tam ở Á Châụ V́ vậy, Pháp mời cựu hoàng Bảo Đại, khi đó đang ở Hồng Kông, liên kết các lực lượng quốc gia không chấp nhận Cộng Sản, kư với Pháp do Cao Ủy Bollaert đại diện, thành lập nước Việt Nam độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Ông Nguyễn Văn Xuân được mời ra thành lập chính phủ. Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân khai sinh quân lực Việt Nam, do Tướng Nguyễn Văn Hinh làm Tham Mưu Trưởng, với các đơn vị chiến đấu do thanh niên t́nh nguyện hoặc được động viên và các đơn vị trưởng là các sĩ quan người Việt trong quân đội Pháp chuyển qua. Sau đó mở những lớp sĩ quan Nam Định và Huế, do Pháp huấn luyện, để có sĩ quan cung ứng cho các đơn vị mới thành lập.Quốc kỳ lấy lại cờ chữ Li, nhưng để tránh tị hiềm cờ này thân Nhật đă bị bại trận, nên sọc đỏ đứt khúc ở giữa được nối liền. Như vậy 3 vạch đỏ trên nền vàng trở thành biểu tượng nước Việt Nam thống nhất Bắc, Trung, Nam.

 

Từ đó quân đội Việt Nam quốc gia, dưới lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ, được Mỹ trang bị gián tiếp, sát cánh cùng các đơn vị viễn chinh Liên Hiệp Pháp, chiến đấu với Việt Minh được Nga, Tàu tận t́nh quân viện cho tới khi nước Việt Nam bị chia đôi bởi hiệp định Genève 1954.

 

1948 Cờ quốc gia Việt Nam

 

Cờ này là biểu tượng quốc gia Việt Nam thống nhất Bắc, Trung, Nam cho tới ngày30-4-1975. Lá cờ tiêu chuẩn được ấn định:

 

- Cờ h́nh chữ nhật, bề ngang bằng 2/3 bề dàị Được chia làm ba phần đều nhau dọc theo chiều dàị Phần ở giữa lại chia làm 5 sọc bằng nhau gồm 3 sọc đỏ, 2 sọc vàng.

- Cờ nền vàng tươi (Pantone yellow), 3 sọc đỏ xác pháo (Warm red). Màu đỏ này được pha trộn bởi 50% đỏ thắm (Pantone Rubine red) và 50% vàng tươi.

 

Năm 1955, Ông Ngô Đ́nh Diệm được Quốc Trưởng Bảo Đại, lúc đó ở Cannes, mời thành lập chính phủ quốc gia Việt Nam thu hẹp từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Dưới áp lực Mỹ, Pháp trao toàn thể chủ quyền cho Việt Nam, quân đội viễn chinh Pháp lên tầu hồi hương. Ngày 23-10-1955 trong cuộc Trưng Cầu Dân Ư, vua Bảo Đại bị truất phế, Việt Nam cải ra Việt Nam Cộng Ḥa. Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm trở thành Tổng Thống do 1 cuộc đầu phiếu có tính cách hợp thức hóa. Quốc kỳ vẫn là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, ngay cả sau ngày 2-11-1963, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ để thành lập Đệ Nhị Cộng Ḥa.

Tháng 11-1959, bằng trận tấn công đầu tiên tại Tây Ninh, Cộng Sản Bắc Việt lại mở rộng chiến tranh xuống miền Nam. Cuộc chiến tàn khốc kéo dài cho tới lúc Cộng quân Bắc Việt chiếm được Sài G̣n ngày 30-4-1975, cho dù đă kư kết hiệp định ḥa b́nh Paris 2 năm trước. Khi đó lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ theo hơn 2 triệu người Việt vượt biên ra đi, cũng như năm 1954 hơn 1 triệu đồng bào Bắc Việt đă đem cờ di cư vào Nam. Từ ngày đó cho đến nay, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vẫn phất phới tung bay ở khắp nơi có cộng đồng Việt nam cư ngụ, vẫn lưu giữ trong tim người dân Việt Nam bị áp đặt dưới cường quyền Cộng Sản.

 

 

Để Kết Thúc

 

Một lá cờ bất cứ màu sắc và h́nh dạng ǵ, cũng chỉ trở thành thiêng liêng đối với một dân tộc, nếu được làm biểu tượng cho ư chí của toàn dân và được quyết ḷng bảo vệ bằng Máu. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cũng không qua thông lệ đó. Được khai sinh bởi một chính phủ hợp pháp, có sự thừa kế lâu dài của các chúa Nguyễn, với công mở bờ cơi từ Thuận Hóa tới Mũi Cà Mâu. Cờ tượng trưng cho ư chí toàn dân muốn thoát ṿng Pháp thuộc và chống chủ nghĩa ngoại lai Cộng Sản do Hồ Chí Minh, một Kominternchik, công cụ của Staline, mang nhiệm vụ áp đặt chủ nghĩa Đệ Tam Cộng Sản trên bán đảo Đông Dương. Chủ nghĩa độc tài đảng trị này hoàn toàn trái ngược với nếp sống và tinh thần của dân tộc Việt Nam có tự ngh́n xưa: Thờ kính ông bà tổ tiên, yêu gia đ́nh, quần tụ với nhau như một bộ tộc lớn để chống áp lực thường xuyên Phương Bắc, cho sự sinh tồn và độc lập. Dân tộc đó hiền ḥa,thông minh cần mẫn, yêu văn học, từ 4 ngàn năm trải qua biết bao cay đắng, nhục nhằn nhưng trường tồn muôn đời.

 

Biết bao thanh niên từ khi quốc gia Việt Nam được thành lập đă ngă gục trên cánh đồng chiêm Bắc Việt, trong chốn rừng sâu Trung Việt, bên con rạch nhỏ Đồng Nai, lấy máu tô thắm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Khi Cộng quân Bắc Việt mở lại chiến tranh ở Miền Nam, nhiều trăm ngh́n thanh niên thế hệ mới lớn nối tiếp cha anh đă bỏ ḿnh, thân phủ trong cờ. Lá Cờ Vàng phủ quan tài trao về bà Mẹ Già không người nương tựa, người Vợ Trẻ góa bụa, đứa Con Thơ côi cút, nghiễm nhiên mang nặng Linh Hồn Tổ Quốc.

 

Trong suốt cuộc chiến liên tục chống quân cộng sản xâm lăng, Miền Nam vũ khí yếu kém, chỉ bằng sự hy sinh của toàn dân, chống Cộng Sản Bắc Việt với vơ khí ồ ạt do cả Nga và Tàu viện trợ. Được ngày nào hay ngày ấỵ Cờ Vàng vẫn tung bay ở An Lộc mỗi ngàychịu hơn 8000 đạn pháo. Cờ Vàng lại tung bay trên Cổ thành Quảng Trị, khi đoàn quân Dù, Thủy quân lục chiến, Biệt Động quân, người người ngă gục, nhưng từng tấc đất, tấc đất quyết đuổi quân thù khỏi thành phố thân yêu.

 

“Cờ bay... Cờ bay... Oai hùng trên thành phố thân yêu, được chiếm lại đêm qua bằng Máu...”.

 

Cuộc chiến đấu với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tượng trưng thật sự có chính nghĩa dân tộc, v́ dân, bảo vệ dân. Mậu Thân 1968 ở Huế, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 ở B́nh Long, dân chúng tan tác dưới pháo, lửa đạn Cộng quân bao phủ đầy trời, bỗng reo ḥ: “Sống rồi! Sống rồi!...” khi thấy bóng người lính Việt Nam Cộng Ḥa với cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

 

 

30-4-1975

 

Sức yếu hết phương chống trả, người lính Việt Nam Cộng Ḥa đành buông súng. Khi Cờ Vàng bị dẫm nát trên đường phố là lúc người dân thấy không c̣n được bảo vệ, đă bỏ nhà bỏ cửa vượt biên, cầm bằng như chết trên biển Đông. Hơn 2 triệu người, đủ mọi thành phần, đủ mọi lớp tuổi, ngậm ngùi bỏ nước ra đi. Ngoài Bắc cũng thế, biết bao người dân không kịp đi Nam năm 1954, đă ngậm đắng nuốt cay, 20 năm trời chịu muôn ngàn cơ cực, chờ một ngày Nam quân theo cờ Vàng ra Bắc. Năm 1975 giấc mơ trở thành tuyệt vọng. Đó là lúc họ cũng ra biển vượt đi, cho dù cuộc vượt thoát c̣n khó hơn ở Miền Nam gấp bội. Đó là câu trả lời cho sự “Chiến thắng” bằng bạo lực của Cộng quân Bắc Việt.

 

Từ muôn đời lư “Đúng” bao giờ cũng trong tay kẻ thắng và cái “Sai”lớn nhất vẫn ở kẻ thua. Được làm vua, thua làm giặc. Nhưng chính nghĩa dân tộc vẫn ở với cờ Vàng. Bây giờ Chủ Nghĩa Cộng Sản đă lộ sự bất lực, bị từ bỏ trên khắp thế giới, ngay tại cái nôi không c̣n tượng trưng ǵ ở Việt Nam, v́ không c̣n chủ nghĩa Cộng Sản ở đây. Đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ biến thành đảng cướp Mafia với đám đảng viên quyền phiệt. Gần 2 triệu đảng viên ăn cướp cấu kết nhau ngồi trên đầu trên cổ 70 triệu dân. Sự bất b́nh thường đó không thể kéo dài, cho dù những tên lănh đạo cho x́ bớt đề kháng của dân, bằng cách áp dụng nhỏ giọt những điều cờ Vàng 3 Sọc Đỏ chủ trương. Không v́ dân tộc, mưu hạnh phúc cho dân, không một bạo lực nào có thể kéo dài. Bài học đó đă có tự ngàn xưa, từ TầnThủy Hoàng.

 

Người Việt bỏ nước ra đi, đem theo Cờ Vàng trong tim có bổn phận lưu giữ ngọn lửa thiêng để nối truyền thế hệ sau, thế hệ sau nữa nếu cần. Một khi tiền đồ nước Nam hưng thịnh, cờ Vàng 3 Sọc Đỏ lại tung bay trên khắp dải sơn hà do công khó của tiền nhân để lại.

 

Chỉ với chính nghĩa dân tộc, được tượng trưng bởi Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mới đem lại trường tồn và hạnh phúc cho dân tộc Việt.

 

Phạm Giao

 

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo