Hệ thống Ṭa Án giải quyết tranh chấp dưới Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982

 

Nguyễn Văn Thân

 

 

(Các vị thẩm phán Ṭa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển thành lập dưới Phụ lục VII trong vụ kiện giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc (Nguồn: pca-cpa.org).

 

 

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (The United Nations Convention on the Law of the Sea) ra đời tại Montego Bay Jamaica vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 11 năm 1994. Hiện đă có 166 quốc gia kư vào Công Ước.

 

Công Ước phân loại biển và đại dương thành các vùng khác nhau. Thứ nhất là nội thủy nằm phía trong của đường cơ sở (đường thẳng từ những mũi đất nhô ra bờ biển hoặc theo ngấn nước thủy triều thấp nhất ven bờ biển). Lănh thổ và lănh hải của quốc gia ven biển gồm có bờ biển, vùng nội thủy cộng với 12 hải lư. Trong vùng tiếp giáp (contiguous zone) gồm có 12 hải lư từ lănh hải (tức 24 hải lư từ đường cơ sở), quốc gia có thẩm quyển thực thi hệ thống luật pháp của ḿnh đối với một số tội phạm ví dụ như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp. Từ đường cơ sở ra tới 200 hải lư là vùng đặc quyền kinh tế. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền thăm ḍ và khai thác, bảo tồn và quản lư các tài nguyên thiên nhiên của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và dưới ḷng đất đáy biển cùng với quyền tài phán trong các lănh vực như lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công tŕnh nghiên cứu khoa học về biển và bảo vệ và ǵn giữ môi trường. Nhưng các quốc gia khác dù có biển hay không có biển được hưởng quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và các đường ống ngầm.

 

Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và ḷng đất dưới đáy biển bên ngoài lănh hải 12 hải lư từ đường cơ sở cho đến mép lục địa (continental margin) hoặc cách đường cơ sở 200 hải lư tính theo cái nào có giá trị lớn hơn, nhưng không được vượt quá 350 hải lư hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách 100 hải lư. Quốc gia ven biển có độc quyền khai thác khoáng sản và các thứ nguyên liệu không phải là sinh vật sống. Bên ngoài thêm lục địa là hải phận quốc tế, tài sản chung của nhân loại.

 

Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công Ước

 

Công Ước quy định là các quốc gia thành viên khi có tranh chấp về việc diễn giải hoặc áp dụng các điều khoản của Công Ước phải t́m cách thoả thuận và giải quyết tranh chấp bằng một phương pháp ḥa b́nh. Nếu thương lượng không thành công th́ các quốc gia tranh chấp có quyền tiến kiện và lựa chọn phương thức xét xử và ṭa án gồm có Ṭa án Công lư Quốc tế (International Court of Justice), Ṭa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea), Ṭa Trọng Tài về Luật Biển dưới Phụ lục VII của Công Ước (Annex VII Arbitral Tribunal) hoặc Ṭa Trọng Tài Đặc biệt dưới Phụ lục VIII của Công Ước (Annex VIII Special Tribunal). Trong trường hợp các quốc gia tranh chấp không đạt được đồng thuận về thủ tục giải quyết th́ Ṭa Trọng Tài về Luật Biển được thành lập dưới Phụ lục VII sẽ được áp dụng. Phán quyết của các ṭa có giá trị tối hậu và ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Không có thủ tục hoặc cơ chế kháng cáo ngoại trừ các bên tranh chấp cùng đồng ư xin ṭa xét lại sự việc.

 

Ṭa án Công lư Quốc tế

 

Ṭa án Công lư Quốc tế được thành lập dưới Hiến Chương Liên Hiệp Quốc kư trong tháng 6 năm 1945 và có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945. Trụ sở chính nằm tại The Hague, Ḥa Lan. Ṭa có 15 vị thẩm phán được các đại biểu Liên Hiệp Quốc và Hội Đồng Bảo An bầu chọn với nhiệm kỳ 9 năm. Ṭa có thẩm quyền xét xử mọi tranh chấp giữa các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc (State Member) với điều kiện là các quốc gia thành viên đó đă phê chuẩn chấp nhận thẩm quyền của Ṭa. Tới nay th́ chỉ mới có khoảng 65 quốc gia thành viên phê chuẩn. Tính tới năm 2013 th́ Ṭa đă xét xử hơn 150 vụ kiện liên quan tới tranh chấp biên giới, lănh thổ, lănh hải, chủ quyền lănh thổ và lănh hải, quan hệ ngoại giao, con tin, tỵ nạn quốc tịch và nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia. Ṭa đă công bố hơn 110 phán quyết. Vụ kiện gần đây nhất liên quan tới việc Úc kiện Nhật bản về các chương tŕnh săn cá voi trong vùng biển phía Nam Thái B́nh Dương. Ngoài ra, Ṭa cũng ban hành phán quyết tư vấn (advisory opinions) khi được các cơ quan Liên Hiệp Quốc yêu cầu. Cho tới nay th́ Ṭa đă ban hành 25 phán quyết tư vấn. Những phán quyết này không có tính cách ràng buộc về mặt pháp lư đối với các quốc gia thành viên nhưng có thể có nhiều ảnh hưởng về mặt ngoại giao và chính trị.

 

Ṭa án Quốc tế về Luật Biển

 

Ṭa án Quốc tế về Luật Biển được thành lập dưới Phụ lục VI của Công Ước và có trụ sở tại Hamburg, Đức quốc. Ṭa có 21 vị thẩm phán được các quốc gia thành viên Công Ước bầu chọn cho mỗi nhiệm kỳ 9 năm. Chánh Án đương nhiệm là Shunji Yanai (Nhật). Trong các quốc gia có tranh chấp tại Biển Đông hiện nay th́ chỉ có Cao Chi Quốc (Gao Zhiguo) từ Trung quốc là một thẩm phán của Ṭa. Một điểm khác biệt với Ṭa án Công lư Quốc tế là đương đơn gồm có nguyên đơn lẫn bị đơn không nhất thiết phải là quốc gia thành viên Công Ước.

 

Tới nay th́ Ṭa đă xét xử 22 vụ kiện. Đa số các vụ kiện này liên quan tới đơn xin thả tàu khẩn cấp (prompt release) trong các trường hợp mà tàu bị bắt giữ v́ bị coi là xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (đánh cá bất hợp pháp) và biện pháp tạm thời (provisional measures) yêu cầu các bên tranh chấp ngưng một số hành động trong khi chờ Ṭa xét xử.

 

Cũng nên nói rơ là Ṭa án Quốc tế về Luật Biển chỉ có thể xét xử các vụ tranh chấp về việc diễn giải vá áp dụng các điều khoản của Công Ước về Luật Biển chứ không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lănh thổ hoặc lănh hải hoặc ấn định lănh thổ hoặc lănh hải vốn thuộc phạm vi thẩm quyền của Ṭa án Công lư Quốc tế. Tuy nhiên, trong tiến tŕnh diễn giải và áp dụng các điều khoản của Công Ước th́ có lúc Ṭa phải có phán quyết liên quan tới việc phân định lănh hải cũng như vùng đạc quyền kinh tế và thềm lục địa. Vào ngày 14 tháng 3 năm 2012 th́ Ṭa đă ra phán quyết về vụ kiện giữa Bangladesh và Miến điện liên quan tới sự tranh chấp về việc khai thác kinh tế trong Vịnh Bengal. Đây là một phán quyết quan trọng và là lần đầu tiên Ṭa tŕnh bày những luận cứ pháp lư trong tiến tŕnh giải quyết các tranh chấp về biên giới lảnh hăi và phân định vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa.

 

Có một điểm quan trọng liên quan tới Công Hàm Phạm Văn Đồng trong vụ kiện này là Bangladesh lập luận rằng biên giới lănh hải đă được quyết định sau khi hai phái đoàn thương lượng của họ và Miến điện kư vào Biên bản Đồng thuận vào năm 1974 (Agreed Minutes of 1974) và v́ vậy Miến điện không được quyền đi ngược lại (estopped) với những điểm đồng thuận đó. Nhưng Ṭa phán rằng Biên bản này không hội đủ tiêu chuẩn pháp lư quốc tế trói buộc Miến điện mà chỉ là một dữ kiện ghi nhận những điểm thảo luận và đồng thuận trong phiên họp. Biên bản không có tính cách ràng buộc pháp lư như là một hiệp ước v́ người dẫn đầu phái đoàn thương lượng của Miến điện không có thẩm quyền đại diện quốc gia kư kết Hiệp Ước có tính ràng buộc theo Điều 7 của Công Ước và Hiệp Ước Quốc tế Vienna. Hơn nữa, Biên bản này không được bên nào thông qua dưới thủ tục hiến pháp quốc gia để biến nó thành một Hiệp Ước ràng buộc cả hai bên.

 

Ṭa Trọng tài về Luật Biển dưới Phụ lục VII

 

Nếu các quốc gia thành viên không đồng thuận được việc sử dụng Ṭa nào th́ Ṭa Trọng Tài về Luật Biển được thành lập dưới Phụ Lục VII sẽ được áp dụng. Ṭa này có thẩm quyền xét xử mọi tranh chấp liên quan tới Công Ước ngoại trừ những vụ kiện có tính chuyên môn ví dụ như đánh cá, bảo vệ môi trường biển, hàng hải và nghiên cứu khoa học biển. Ṭa này có 5 thành viên được chọn lựa từ danh sách thẩm phán Mỗi quốc gia thành viên Công Ước đều được quyền đề cử 4 người với Tổng Thư kư Liên Hiệp quốc để đưa vào danh sách thẩm phán. Khi có tranh chấp th́ các bên chỉ định thẩm phán. Nếu không đồng thuận th́ sẽ do Chánh Án Ṭa án Quốc tế về Luật Biển chỉ định.

 

Như mọi người đă biết, vào ngày 30 tháng 3 năm 2004 vừa qua, Phi Luật Tân đă để đơn kiện Trung Quốc lên Ṭa Trọng Tài Thường trực được thành lập dưới Phụ lục VII. Đơn kiện gồm có hồ sơ dài khoảng 4000 trang và nguyên đơn yêu cầu Ṭa phán quyến tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi ḅ” của Trung quốc là bất hợp pháp. Ṭa đă yêu cầu Trung quốc hồi đáp trước ngày 15 tháng 12 năm 2014. Cho tới nay th́ Trung Quốc đă thông báo là sẽ không tham gia vụ kiện và không công nhận phiên ṭa.

 

Ṭa Trọng Tài Đặc biệt dưới Phụ lục VIII

 

Ṭa này có thẩm quyền giới hạn và chuyên môn ví dụ như việc đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển hoặc hàng hải. Ṭa này có sự đóng góp đáng kể của các tổ chức khoa học quốc tế chuyên môn chẳng hạn như Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Chương Tŕnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường (UNEF)... Khi có tranh chấp, một hội đồng đặc biệt dựa trên danh sách chuyên viên sẽ được thành lập để xét xử và giải quyết tranh chấp.

 

Ṭa Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration)

 

Ṭa Trọng tài Thường trực được thành lập dưới Công Ước The Hague 1899 và 1907 và cũng có trụ sở tại The Hague Ḥa Lan. Thật ra, tên gọi Ṭa Trọng Tài Thường trực là không đúng v́ tổ chức này không phải là một ṭa án theo nghĩa ư nghĩa thông thường mà chỉ là một tổ chức quốc tế cung cấp dịch vụ tài phán và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Tính tới tháng 2 năm 2012 th́ tổ chức này có 115 thành viên. Việt nam là thành viên mới nhất gia nhập ngày 27 tháng 2 năm 2012. Ṭa có văn pḥng thường trực đón nhận và chuyển đơn kiện (Registry) cho các bên liên hệ trong cuộc tranh chấp.

 

Như đă tŕnh bày, Phi Luật tân đă tiến hành nộp đơn kiện Trung Quốc với Ṭa Trọng Tài Thường Trực được thành lập theo Phụ lục VII của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Nhưng sau đó, Trung Quốc cho biết là họ sẽ không chấp nhận và tham gia vào vụ kiện. Tuy nhiên, một Ṭa Trọng tài đă được thành lập gồm có 5 thành viên là Thẩm phán Thomas A. Mensah (Chánh Án-Ghana), Thẩm phán Jean-Pierre Cot (Pháp), Thẩm phán Stanislaw Pawlak (Ba Lan), Giáo sư Alfred H.A. Soons (Ḥa Lan) và Thẩm phán Rudiger Wolfrum (Đức). Ṭa đă chính thức yêu cầu Trung Quốc nộp hồ sơ phản biện trước ngày 15 tháng 12 năm nay. Cho tới bây giờ th́ có dấu hiệu cho thấy là Ṭa sẽ vẫn tiến tới xét xử cho dù Trung Quốc không tham dự vào vụ kiện.

 

Ṭa án nào cho tranh chấp giữa Việt nam và Trung quốc tại Biển Đông

 

Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung qUốc bao gồm tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, việc Trung Quốc đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và tổng quát hơn là tuyên bố chủ quyền 9 đoạn “đường lưỡi ḅ” của Trung Quốc. Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều chưa tuyên bố tham gia và công nhận thẩm quyền của Ṭa án Công lư Quốc tế và v́ vậy Việt Nam không có cơ sở để kiện Trung Quốc về vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Ṭa án Công lư Quốc tế. Trong khi đó th́ Ṭa án Quốc tế về Luật Biển lại không có thẩm quyền xét xử tranh chấp chủ quyền lănh thổ hoặc lănh hải.

 

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia thành viên Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam phê chuẩn Công Ước ngày 25 tháng 7 năm 1994 và Trung Quốc hai năm sau đó vào ngày 7 tháng 6 năm 1996. Trước mắt th́ Việt nam có thể tiến hành đơn kiện với Ṭa án Quốc tế về Luật Biển phản đối việc Trung Quốc đặt giàn khoan 981 gần đảo Tri Tôn và cách đảo Lư Sơn 120 hải lư là vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nếu Việt Nam và Trung Quốc không đồng thuận thủ tục pháp lư th́ Việt Nam có thể nộp đơn kiện với Ṭa Trọng Tài Thường trực được thành lập dưới Phụ Lục VII của Công Ước, như Phi Luật Tân đă làm. Ngoài ra Việt Nam cũng có thể tham gia nhập vào vụ kiện của Phi Luật Tân phản đối tuyên bố chủ quyền đường lưỡi ḅ của Trung Quốc. Đây là yêu sách yếu nhất của Trung Quốc v́ tuyên bố này thiếu hoặc không có cơ sở pháp lư. V́ vậy cả Phi Luật Tân lẫn Việt Nam đều có cơ hội thành công cao nhất. Có thể Trung Quốc sẽ không tham gia vào vụ kiện nhưng nếu Ṭa phán quyết theo yêu cầu của nguyên đơn th́ sẽ có tác động mạnh mẽ về mặt chính trị và ngoại giao trong khu vực châu Á – Thái B́nh Dương cũng như vạch rơ bộ mặt giả dối “trỗi dậy ḥa b́nh” của Trung Quốc trước công luận quốc tế.

 

22/6/2014

Nguyễn Văn Thân

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo