Gánh nặng lịch sử của Nhất Linh. Ai là người gánh nổi?

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

 

                 Nguyễn Tường Tam

 

Tôi đă có dịp được nghe đọc một số bài phát biểu về Hội Thảo Tự Lực Văn Đoàn đă được diễn ra tại hội trường báo Người Việt do ông Phạm Phú Minh tổ chức.

 

Cái cảm tưởng đầu tiên đến với tôi- về hinh thức- là nó như thể đang diễn ra tại một hội trường ở một nơi nào khác- không phải ở Cali-! Bởi v́ nó có bài bản, lớp lang và tổ chức chặt chẽ. Nó không để một khe hở cho cơ hội được nói khác. Dù buổi hội thảo được đại diện bởi con cháu nhiều nhà văn trong TLVĐ từ hai phía, nhưng nó lại nói chung một tiếng nói. Điều đó nên mừng hay nên lo.

Nó đă không dám đả động xa gần ǵ đến cộng sản cả. Khen cũng như chê... Nó thiếu hẳn thẩm quyền góp ư và phê phán (Autoritativeness). Nó có thể đă không cho phép người nghe phiêu lưu vào những vấn đề được coi là tồn đọng hay nhạy cảm đụng chạm đến uy tín của nhóm TLVĐ.

 

Đối với người được mời phát biểu th́ nó loại trừ ngay từ đầu một cách khéo léo như trường hợp nhà văn Nhật Tiến.

 

Bài nói chuyện của Nguyễn Tường Triệu về Khái Hưng tiêu biểu cho những thiếu xót vừa nêu trên. Ông chỉ nhắc lại những kỷ niệm tản mạn mà không đề cập hay đánh giá về văn tài của nhà văn này. Nhưng khi đề cập đến cái chết của cha nuôi, ông thật sự xúc động. Nhưng để tránh né công việc phải lên án cộng sản, ông nói vội vàng và chấm dứt rất đột ngột về cái chết bi thảm của người cha nuôi và đột ngột đứng dậy như bị ma đuổi. Tôi đă xem đi xem lại đoạn chót này và cảm thấy bất nhẫn cho ông.

 

Thật là tội nghiệp cho một người con nuôi có hiếu như ông.

 

V́ thế, nói chung, các bài phát biểu đều tṛn quá, tṛn đến độ không thể tṛn hơn được nữa. Nó thiếu những nhận thức sắc bén của một tinh thần phê b́nh, tinh thần tri thức luận (Épistémologie) đ̣i hỏi nơi một người trí thức trong một buổi hội thảo. Những người mà người ta tin tưởng có thể có tiếng nói khác như Nguyễn Hưng Quốc với tựa đề: Đánh giá lại Tư Lực Văn Đoàn th́ không biết ông đă đánh giá như thế nào. Nhưng theo như lời kết luận, ông đă tổng quát hóa một cách vô bằng có tính cách áp đặt khi cho rằng:

 

“Tất cả chúng ta những người cầm bút, dù thích hay không thích Tự Lực Văn Đoàn th́ cũng đă được nuôi dưỡng bằng ḍng sữa của Tự Lực Văn Đoàn”. Đi xa hơn nữa ông khẳng định: Tất cả những ai cầm bút thời nay đều phải mang nợ”.

 

Nếu ông muốn chỉ định những người cầm bút lứa tuổi từ 60 trở lên th́ c̣n hiểu được. Nhưng những nhà văn ở lớp tuổi trên dưới 50 c̣n ở miền Nam hoặc ra hải ngoại- và nhất là các nhà văn miền Bắc- th́ họ nợ ǵ TLVĐ ? Một cô giáo dạy văn ở miền Bắc bây giờ khi được hỏi về Nhất Linh là ai? Cô đă không thể trả lời được. Mong là ông Nguyễn Hưng Quốc thận trọng hơn trong những phát biểu của ḿnh.

 

Bài thuyết tŕnh của giáo sư Kawaguchi Kenichi về: Tự Lực Văn Đoàn và Văn Học cận đại là một bài viết tệ hại hơn nữa khi cho rằng: Tự Lực Văn Đoàn, nền tảng của văn học hiện đại Việt Nam th́ chỉ là những nhận xét vơ đoán.

 

Ông đă không đủ tư cách để hiểu được toàn diện văn học miền Nam trước 1975. Sự mời ông làm diễn giả thật không đem lại một soi sáng mới nào về TLVĐ và Nhất Linh.

 

Tôi cũng tin tưởng vào bà Phạm Thảo Nguyên về những công tŕnh thu góp và số hóa hơn 400 số Phong Hóa và Ngày Nay với đề tài: Câu chuyện Tự Lực Văn Đoàn và những điều chưa nói. Nhưng tôi đă không thu thập được ǵ v́ bà che giấu nhiều quá.

 

Chẳng hạn, tôi muốn được nghe từ miệng bà Phạm Thảo Nguyên nhiều điều hơn thế nữa về người bố chồng là nhà thơ Thế Lữ. Như về con cái Thế Lữ, các em trai của Thế Lữ. Thế Lữ theo đạo ǵ? Có phải Thiên Chúa giáo không?

 

Trường hợp anh Nguyễn Thế Học là con trai của Thế Lữ-nay đă quá văng- là phu quân của bà Phạm Thảo Nguyên v́ lư do nào mà nhà thơ Thế Lữ vào năm 1950 đă gửi con trai út là anh Nguyễn Thế Học vào “đi tu”, tại trường ḍng Chúa Cứu Thế, tại Thái Hà Ấp!! Một người đi theo cách mạng, là người cộng sản vô thần, tại sao Thế Lữ lại có thể gửi gấm con ḿnh vào một trường đạo- một nơi chuyên đào tạo giới tu sĩ, linh mục! Điều ấy phải được cắt nghĩa thế nào, phải được hiểu thế nào?

 

Sau 1954, một lần nữa, anh Nguyễn Thế Học và gia đ́nh được di cư vào Nam, được nuôi ăn học ở miền Nam và sau trở thành một giáo sư Toán ở Đại Học Khoa Học Sài G̣n? Miền Nam đă đối xử với gia đ́nh Thế Lữ như thế nào?

 

Thứ nữa, khi gia nhập vào TLVĐ, nhà thơ Thế Lữ trở thành cây bút chủ lực nhằm chế diễu và đả phá một cách ác độc nhất các nhà văn, nhà thơ ở ngoài nhóm!! Bà cũng nên nhắc tới điều này cho phải lẽ.

 

Bà cũng không cho người nghe được biết chút xíu về cuộc đời hoạt động kháng chiến trong suốt giai đoạn 1946-1954 của Thế Lữ?

 

Tôi có trong tay cuốn: 100 năm Thế Lữ, do nhà xuất bản Sân Khấu vào năm 2007, độc giả có thể tưởng tượng là trừ lời giới thiệu của nhà xuất bản và tiểu sử có nhắc đến Tự Lực Văn Đoàn một lần, c̣n trong toàn bộ cuốn sách th́ không.

Tôi tự hỏi, không lẽ chỉ v́ cái đảng của người bố chồng mà bà phải hy sinh nhiều thứ như vậy?

 

Nếu chỉ cần những tiếng vỗ tay tán thưởng và những giọt nước mặt chia sẻ th́ quả thực buổi hội thảo đă hoàn toàn thành công.

 

V́ không được tham dự, nó chỉ cho tôi một cảm tưởng thất vọng và sự nghi ngờ về dụng ư của người tổ chức các buổi hội thảo này.

 

Nói tóm lại, nó chỉ là một h́nh thức tŕnh diễn văn học một cách vụng về và trống rỗng về nội dung.

 

Tôi cũng nhận thấy không có mặt những nhà văn như Vơ Phiến, Nhật Tiến, gia đ́nh bà Nguyễn Thị Vinh và nhất là Duy Lam. Tôi không thể biết lư do tại sao họ vắng mặt. Có thể là do tuổi già, sức yếu như trường hợp Vơ Phiến chăng? Trường hợp Nhật Tiến th́ đă có thư xin rút lui ra khỏi buổi hội thảo với lư do như sau:

 

“Các diễn giả trong suốt hai ngày đều tập trung vào chủ đề “Tự Lực Văn Đoàn” với những công tŕnh tốt đẹp mà Nhất Linh cùng các văn hữu của ông đă thực hiện được. Đây là một nỗ lực hết sức công phu của Ban tổ chức và nội dung các phát biểu đă nêu ra được một bức tranh toàn cảnh rất đẹp đẽ về Văn Đoàn này. Như thế, bài nói của tôi về các sinh hoạt văn hóa của nhả văn Nhất Linh lúc cuối đời (buồn nhiều hơn vui, có những sự thực về tờ Văn Hóa Ngày Nay không thể không nói ra), có thể làm mờ nhạt hào quang của người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn mà Ban Tổ Chức muốn phô bầy”.

 

Qua đến tháng 6-2013, tôi đă gửi Email tới nhà văn Phạm Phú Minh nêu rơ ư nghĩ của ḿnh và xin ban tổ chức cho tôi được rút tên ra khỏi cuộc hội thảo”.

 

Sự rút lui của nhà văn Nhật Tiến cho thấy cuộc Hội thảo về TLVĐ thiếu nghiêm chỉnh, thiếu những phản biện...

 

Cho nên, người tổ chức cũng như các vị được mời phát biểu đă không làm tṛn được trách nhiệm của ḿnh.

 

C̣n trường hợp Duy Lam th́ sao? Thiếu vắng họ là một thiếu sót lớn.

 

Một trong khuyết điểm lớn nhất và tai hại nhất của buổi Hội thảo này là ngăn chặn một cách kín đáo và khéo léo những tiếng nói phản biện. V́ thế tư cách những người được phát biểu trở thành một vấn đề ngay cả những vị có uy tín hàng đầu như nhà văn Doăn Quốc Sỹ. Tại sao ông không thể phát biểu với tư cách một nhà văn thành danh- một kẻ sĩ tiêu biểu- trong văn học miền Nam ở giai đoạn 1954-1975 và với tư cách một thành viên trụ cột của nhóm Sáng Tạo. Cuộc đời ông hai lần bị tù đầy từ phía bên kia- phía bố vợ ông-. Ông có thể nói ǵ về Tú Mỡ với tư cách một người con rể mà từ quan điểm lập trường chính trị đến thẩm định văn học đều rất khác xa nhau… Chê dĩ nhiên là không dám mà khen cũng không dễ. Tôi chưa được đọc bài phát biểu của ông nên chỉ đặt vấn đề tư cách một nhà văn của ông khi đề cập đến những nhà văn ở phía bên kia- dù là bố vợ.

 

Khuyết điểm thứ hai không kém quan trọng là họ- ban tổ chức cũng như các vị phát biểu- đă không cắm mốc văn học cho nhóm TLVĐ. Lịch sử văn học trong mỗi thời kỳ bao giờ cũng gắn liền vào một thời điểm nhất định và thường giai đoạn văn học sau đánh dấu bằng sự phủ định giai đoạn trước đó.

 

TLVĐ đă đánh dấu một thời kỳ vẻ vang và đổi mới về nhiều mặt bằng sự phủ nhận Nam Phong- Phạm Quỳnh.

 

Nó có giá trị không chối căi được trong một giai đoạn nhất định.

 

Nhưng không có điều ǵ chứng tỏ nó có 80 năm ảnh hưởng không ngừng. Đó là một nhận xét vơ đoán và bất công và đó cũng là nhận xét sai lầm tai hại của Nguyễn Hưng Quốc và vị giáo sư người Nhật. Chỉ xét ngay trong thời kỳ sáng chói của TLVĐ th́ cũng là một nhận xét gượng ép rồi v́ nó đă loại ra nhiều nhà văn, nhà thơ mà tên tuổi của họ không thua ǵ bất cứ nhà văn nào trong nhóm TLVĐ. Đó là những Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Trần Tiêu, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao.

 

Lấy ǵ để có thể so sánh giữa tùy bút của Nguyễn Tuân và truyện ngắn của Thạch Lam? Tách riêng ra th́ vị tất ai đă bằng ai, nhưng cộng lại thành một nhóm th́ TLVĐ chẳng có ai có thể sánh bằng. Nhưng ca tụng hết ḿnh những nhà văn trong nhóm TLVĐ th́ không phải v́ thế mà các nhà văn ngoài nhóm nhỏ đi. Nhỏ hay lớn c̣n do người đọc là người thẩm định chung thẩm.

 

Sang đến 1954 th́ thật sự có đến hai xu hướng văn học trổi bật ở miền Nam.

 

Một là một mảng văn học miệt vườn với cá tính miền Nam trổi bật với các cây viết như B́nh Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên và kế tiếp với nhiều người khác như Hồ Trường An, Kiệt Tấn. Đọc B́nh Nguyên Lộc để thấy cái độc đáo, cái chất Nam bộ từ con người đến cây cỏ đến cái ngôn ngữ, cái phong vị, cái b́nh dân chất phác trong từng câu chữ của những nhà văn vùng đất mới. Qua văn chương, ta bắt được cái hồn tính của miền Nam. Làm sao Nhất Linh có thể làm được công việc này?

 

Nó lạ hơn người ta tưởng, nó hay hơn người ta nghĩ, nó mở ra những chân trời mới nó không lui cui trong những phân tích tâm lư ái t́nh đến nhạt nhẽo của một cô Mùi. Lấy ǵ của Nhất Linh để so sánh với Rừng Mắm, với Hương Rừng Cà Mâu của hai nhà văn miền Nam tiêu biểu nhất.

 

Hai là xu hướng tân học, trào lưu tư tưởng mới tiếp thu từ Âu Châu với các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo. Hăy khoan nói đến vấn đề hơn kém. Nhưng rơ ràng có một ngă rẽ phủ nhận TLVĐ để từ đó họ có mặt. Nó thể hiện đúng cái luật chơi của lịch sử văn học… Mặc dù được cái ưu thế v́ TLVĐ được giảng dạy trong chương tŕnh Việt Văn các lớp Trung Học, vậy mà Nhất Linh cũng đă chấp nhận thua cuộc và xếp lại việc làm báo.

 

Và chúng ta cùng đọc lại một đoạn văn như một thứ tuyên ngôn văn học, một thứ vỡ bờ quá đà của một Mai Thảo:

 

“.. Không khí cũ không thở cùng được nữa. Những khuôn vàng thước ngọc xưa không c̣n ảo tưởng được những kích thước bây giờ. Và đời sống là đi tới. Không lùi, không giậm chân một chỗ.

 

Trong một thực trạng dầy đặc những chất liệu của những sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không chỉ c̣n là tả chân Nguyễn Công Hoan, lăng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực. Mà vươn phóng từ một thoát ly để đưa tới một h́nh thành, hóa thân từ một chặt đứt, bằng những thí nghiệm và những khám phá, chứng minh rằng cái bây giờ ta đang sống tuyệt đối không c̣n một đồng t́nh với cái hôm qua đă tách thoát, đă ĺa xa. Chất nổ ném vào. Cờ phất, xuống đường, xuống núi. Ra biển ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng cho văn chương đă bắt đầu, Và thơ bây giờ là thơ tự do”

 

Trích lại Nguyễn Mạnh Trinh, tạp chí văn nghệ, trang 230

 

Đọc đoạn văn trên th́ chỗ nào c̣n là đất cho TLVĐ, chỗ nào cho Nhất Linh. Quả thực diện mạo văn học sau 1954 tại miền Nam đă khác trước.

 

Phải trơ trẽn lắm, người ta mới có can đảm phớt lờ hai ḍng văn học này. Cũng phải trơ trẽn lắm mới không thấy chẳng bao lâu sau, số phận Mai Thảo và những nhà văn trong nhóm Sáng Tạo nhường chỗ cho một thứ văn học đặt vấn đề. Với rất nhiều ưu tư và trăn trở, với nhiều cô đơn và t́m ṭi, với rất nhiều nhẽ ránh từ dấn thân nhập cuộc đến chán nản buông xuôi.

 

Đó là ḍng văn học thời thế, văn học chiến tranh của thập niên 1970.

 

Và nói làm chi đến sau 1975 th́ trong nước cũng như ngoài nước, TLVĐ chỉ c̣n hiện diện như một cái tên không hơn không kém.

 

Ấy là người ta chưa kịp nhắc tới ở phía bên kia với các nhà văn, nhà thơ, sau 1954 trong nhóm Nhân Văn Giai phẩm.

 

Nh́n lại hai buổi triển lăm và hội thảo này, tôi rất nghi ngờ về mục đích và thiện chí của người tổ chức. H́nh như họ đang bị cuốn đi bởi một triều cường nào đó, đi ngược trào lưu lịch sử văn học. H́nh như họ tự bịt mắt, đưa ra những đáp số văn học- mà phê b́nh chẳng phải phê b́nh-khảo cứu không ra khảo cứu- mà tính cách chèo tuồng như chiếm ưu thế của một thứ văn học phải đạo. Họ nói như những con vẹt mà không cần vận dụng chút suy tư, tính khách quan trong phê b́nh văn học.

 

80 năm sau vẽ lên một chân dung văn học như những thần tượng đă ră mục như một hoài niệm văn học. Họ rơ ràng không làm đầy đủ nhiệm vụ của người cầm bút.

 

Họ đă không gánh nổi cái gánh nặng lịch sử về mặt văn học và chính trị của Nhất Linh để lại. Những người đă chấp nhận tham dự vào bữa tiệc văn học này một ngày nào đó phải nghĩ lại là ḿnh đă nhầm để một tay cai thầu văn nghệ thao túng và mua chuộc một cách ngây thơ vô số tội.

 

Và đối với tôi, không ǵ thô bỉ bằng thứ chính trị hóa văn học.

 

Trường hợp người con út của nhà văn Nhất Linh- ông Nguyễn Tường Thiết.

 

Buổi triển lăm và hội thảo về TLVĐ đă kết thúc một cách không đẹp. Tờ Người Việt đă đăng lại bài viết của ông Nguyễn Tường Thiết phê b́nh kẻ viết bài này.

Trong ḍng họ Nguyễn Tường đă có nhiều người thành đạt. Đến ba anh em trở thành nhà văn trong một văn đàn th́ kể là hiếm có. Thời kỳ vàng son của TLVĐ ấy đă được trân trọng và được nh́n nhận… Chỗ của văn đoàn ấy đă được định vị ở một thời kỳ nhất định.

 

Chân trời văn học miền Nam sau đó đă mở ra nhiều ngă rẽ như một biển văn chương mà những nhà văn đủ loại như những con thuyền vượt sóng ra khơi- đầy lăng mạn-đầy tính phiêu lưu-đầy tham vọng- và đầy chất nghệ sĩ.

 

Tên tuổi họ mỗi ngày mỗi nhiều. Họ đă đến, họ đă đi, họ đă có mặt và ở một lúc nào đó họ sẽ rời khỏi để lại bao nhiêu tâm t́nh trong đó có sự tŕu mến, sự trân trọng, sự thích hay không thích tùy trường hợp.

 

Nhưng có một điều chắc chắn chiếu văn học không ai ngồi lâu được. Vừa ngồi nóng đít th́ đă có kẻ đến thay thế như thể bị phản bội. Độc giả thích đấy rồi một lúc nào đó ngoảnh mặt quay đi. Và từ Nguyễn Du đến nay, những người cầm bút đều cảm nhận được cái vinh quang bèo bọt đó. Và phải biết chấp nhận nó như thân phận người- thân phận nhà văn-.

 

Riêng trường hợp Nhất Linh- Ông vừa là nhà văn, vừa là nhà chính trị, đôi khi cả hai như nhập vào nhau đến độ người ta có cảm tưởng Nhất Linh nhà văn đi t́m một Nhất Linh nhà chính trị.

 

Và có thể cho đến lúc quyên sinh, ông vẫn ở trong trạng thái đi t́m chính ḿnh như một ảo vọng. Và theo tôi, chỉ có Vũ Khắc Khoan mới hiểu rơ về điều này.

 

Con ông, Nguyễn Tường Thiết quả thực đă không hiểu được người cha của ḿnh và tự đặt cho ḿnh trách nhiệm đi t́m lại một Nhất Linh chỉ có trong tâm tưởng. Ông không thể dựng lại Nhất Linh một ḿnh nên phần lớn, ông muốn dựng lại một h́nh tượng vóc dáng Nhất Linh qua trung gian những quen biết, những liên hệ văn chương- những nhà văn, những người làm văn học, những người đồng chí của Nhất Linh không thiếu trong một t́nh tự lịch sự tối thiểu đối với một khuôn mặt văn học lớn. Đó là những người như Vơ Phiến, Thụy Khuê, Nguyễn Liệu, Trương Bảo Sơn, Nguyễn Tường Bách, Phạm Phú Minh, Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Bùi Bích Hà, Huy Cận. Và gần đây, mặc dầu ông là một người quốc gia chân chính- với sự cẩn trọng và e dè, thăm ḍ thiện chí của bên kia, ông dấn thêm một bước nữa, đi đồng thuận với những người mà trước đây cha ông coi là kẻ thù. Từ thù đến bạn chỉ v́ cha của ông được họ tôn vinh trở lại. Lẽ dĩ nhiên, ông tự nhủ chỉ bắt tay họ trong phạm vi văn học và những ǵ liên hệ đến cha ḿnh.

 

Nhưng đây quả thực là con dao hai lưỡi.

 

Trong số những người vừa kể trên, bà Thụy Khuê đă có lần nh́n rơ được chân tướng Nguyễn Tường Thiết đă mạnh dạn khuyên Nguyễn Tường Thiết như sau: “Hôm nọ trong đêm giao thừa: tôi có mạo muội “khuyên” anh: Nên rút ông Nhất Linh ra ngoài, để đi con đường riêng của ḿnh. Và trong thư mới viết cho tôi, anh có ư ngại, anh băn khoăn: Nếu “bỏ Nhất Linh đi” th́ liệu có c̣n cảm hứng để viết nữa hay không? Bây giờ đọc xong hồi kư của anh th́ tôi chắc chắn hai điều: về cảm hứng, tôi nhớ Nhất Linh có khuyên B́nh Nguyên Lộc: “Không có chuyện cảm hứng ǵ cả, mỗi ngày bắt buộc ḿnh phải ngồi viêt một hai trang th́ cảm hứng sẽ đến”. Điều này trước đây tôi cũng học được của Nguyễn Hiến Lê. C̣n câu “rút Nhất Linh ra” th́ nay tôi xin “rút lại”, kể như không nói, anh muốn viết ǵ th́ viết, miễn là anh thành thực với chính ḿnh như anh vẫn làm từ trước tới nay, như trong cuốn sách này”.

Nguyễn Tường Thiết, Nhất Linh, cha tôi, trang 320-321

 

Điều này cũng cho thấy rơ hơn thân phận tầm gửi, ông sống nhờ cái bóng của cha ḿnh.

 

Trước khi tóm tắt tắt tất cả những ǵ tôi đă viết về Nhất Linh- điều mà từ đó đă gây một sự thịnh nộ quá tải nơi ông Nguyễn Tường Thiết-… Tôi hiểu và chia sẻ được với ông với tư cách một người con. Ở trường hợp tôi, có thể tôi cũng hành xử tương tự.

 

Tôi cũng nhân tiện xin lỗi ông về lá thư của ông gửi cho tôi trong bài viết đầu tiên của tôi. Sau đó, tôi đă vô t́nh giữ lại lá thư trong một bài viết khác đă có nhiều sửa đổi.

 

C̣n ngoài ra, tất cả những lời tố cáo khác về tôi, tôi không nh́n nhận.

 

· Thứ nhất, theo thói quen viết biên khảo, tôi không viết điều ǵ nếu không có dẫn chứng, hoặc nhân chứng (Oral History). · Thứ hai, những nhà văn như Thế Uyên và nhất là Duy Lam thuộc ḍng ngoại của nhà văn- dù có khác biệt chính kiến với một số người thuộc ḍng họ Nguyễn Tường-, các anh ấy trước sau đều có sự kính trọng Nhất Linh với tư cách người bác ruột, tư cách một nhà văn và tư cách một người đồng chí. Tôi phải viết về điều này, v́ trong những bản Tự Thuật lúc cuối đời, Thế Uyên bầy tỏ sự bực bội v́ có một vài anh em trong ḍng họ Nguyễn Tường từ chối ngay cả tư cách họ hàng ruột thịt với người Bác-nhà văn- với một lư do thiển cận là anh thuộc ḍng họ ngoại. Đôi khi anh phải viện dẫn cả mẹ ruột ḿnh- bà Nguyễn Thị Thế- cho những luận cứ của anh… Mong là những người trong ḍng họ Nguyễn Tường điều chỉnh lại cái nh́n về Thế Uyên, mặc dầu ai cũng biết Thế Uyên có vẻ ngang tàng, khác người. Trước sau các anh ấy cũng vẫn hănh diện về người bác của ḿnh và ḍng họ. · Phần tôi, tôi đă không phải chỉ viết phê phán Nhất Linh mà thôi. Đă có những bài khác viết công b́nh và trân trọng về vai tṛ và chỗ đứng của TLVĐ và Nhất Linh trong Văn Học thời Phạm Quỳnh và thời Sáng Tạo. Trong thứ ngôn ngữ phê b́nh, tôi đă đi xa và đào sâu vào những điều được coi là cấm kỵ và từ đó nhiều người đọc đă gán ghép vô bằng như: âm mưu đưa Nhất Linh vào nhà thương điên. Thú thực, chưa bao giờ tôi dùng ngôn ngữ xúc phạm như thế đối với một người như Nhất Linh.

 

· Tuy nhiên, tôi quyết bảo vệ những luận điểm mà tôi coi là những điểm yếu của Nhất Linh về mặt văn chương cũng như chính trị.

 

Về mặt văn chương:

· Tôi chỉ công nhận một Nhất Linh tiền chiến, thành công và rực rỡ về nhiều mặt- chủ yếu là mặt văn chương, c̣n về mặt xă hội có hạn chế-, và đặt một ranh giới về Nhất Linh sau 1954 đă đi tới chỗ thoái trào. Đó cũng là quan điểm của nhiều người như Phạm Thế Ngũ, Vơ Phiến, Duy Lam và Thế Uyên. · Mặt khác, tôi công nhận bên cạnh nhóm TLVĐ, c̣n có nhiều nhà văn, nhà thơ cũng sáng chói chả thua ǵ các nhà văn trong nhóm TLVĐ, nhưng đă bị bỏ quên, bỏ qua, một cách oan nghiệt lúc sinh thời, sống nghèo túng như các nhà văn Vũ Trọng Phụng và Nam Cao. · Mặt yếu kém của TLVĐ là kéo bè, kéo nhóm bôi xấu, chế diễu, d́m dập các nhà văn ngoài nhóm mà hầu hết cách này cách khác trở thành nạn nhân của TLVĐ. Tôi không biết, trong buổi hội thảo đă có ai đủ can đảm đề cập đến vấn đề này hay không. · Một chuyện nhỏ, để bào chữa sự cho thất bại của Văn Hóa Ngày Nay, ông Nguyễn Tường Thiết đă cứ cố t́nh đổ trách nhiệm cho ông TT Ngô Đ́nh Diệm d́m dập Nhất Linh qua nhà phát hành Thống Nhất, không chuyển báo đi. Ông Diệm th́ giờ đâu mà toan tính những chuyện nhỏ nhoi thù vặt như thế. Tôi đă hỏi anh Duy Lam, anh nói báo VHNN đóng cửa v́ lỗ lă. Tôi cũng chờ đợi nhà văn Nhật Tiến sẽ nói rơ về điều này một lần nữa trong nay mai...Tôi cũng yêu cầu ông Nguyễn Tường Thiết đọc cuốn Hồi kư Đời tôi của ông Nguyễn Liệu- một đồng chí của Nhất Linh- trong đó ông Nguyễn Liệu sau 1963, ra báo Xuân, rồi không lo lót nhà phát hành- rất tiếc ông không nêu rơ nhà phát hành nào- và họ đă d́m không phát hành tờ báo Xuân đưa đến cảnh lỗ lă. Qua chuyện này, tôi rửa oan cho Ông TT Ngô Đ́nh Diệm.

 

Nguyễn Liệu, Hồi kư đời tôi, trang 306

 

· Cuối cùng, tôi xin đưa ra một tư liệu trong một cuốn sách xuất bản năm 2006, trong sự dè dặt thường lệ, mà các tác giả cuốn sách hiện c̣n sống. Đó là cuốn: 100 khuôn mặt Văn Nghệ sĩ của Hồ Nam và Vũ Uyên Giang, trong đó có đề cập đến trường hợp nhà văn Nhất Linh nhận tiền của CIA Mỹ.

 

Với một lối viết trào phúng có kể lại một lần nhà báo Lư Thắng Lê Văn Tiến- quen biết với Nhất Linh như tư cách đàn em, nhưng cũng là người quen biết bác sĩ Trần Kim Tuyến- đă rủ tác giả lên Đà Lạt cùng với nhà văn Đỗ Đức Thu và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn, tức Mai Nguyệt- người phụ trách Mục Nói hay Đừng trên tờ báo Tự Do cùng với họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

 

Xin trích lại lời tiết lộ của nhà báo Lư Thắng Lê Văn Tiến:

 

Theo sự tiết lộ của Lư Thắng Lê Văn Tiến th́ sau khi nhận làm cố vấn sáng lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Cộng Ḥa, nhà văn Nhất Linh đă chịu nhận sự yểm trợ ngầm của một tổ chức Văn Hóa Mỹ ra tờ Nguyệt san Văn Hóa Ngày nên ông sắp giă từ vùng suối Đa Mê xuống Sài G̣n làm báo với Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn, Nguyễn Thị Vinh, Trương Bảo Sơn và mời họa sĩ Duy Thanh giúp phần minh họa cho Văn Hóa Ngày Nay.

 

Xin đọc một đoạn kế tiếp để chứng tỏ sự thật như thế nào:

 

Lư Thắng lấy gà quay, thịt quay, thịt nguội, rau sống bầy ra với hai chai Martelle Cordon Bleu. Nhà văn Nhất Linh cầm một chai Martelle mở nút đưa lên mũi hít hít rồi nói: - Ḿnh ghét Tây, nhưng mê rượu Tây, Martelle là thứ Cognac không chê vào đâu được, phải không Tchya? - Anh nói chí phải nếu uống rượu Pháp th́ phải uống Martelle Cordon Bleu. - Cậu c̣n nhớ cái đận ḿnh lưu vong ở Hồng Kông? - Quên sao được anh? Tchya nhớ nhất là bữa nhậu lẩu cá trên núi với anh và Nguyễn Gia Trí. Bữa đó ḿnh chơi hết mấy chai Mao Đài, cái anh Mao Đài phủ Thiệu Hưng cũng tuyệt đấy chứ anh .(…) - Tại sao anh không cản giáo gian (Vũ Hồng Khanh) kư hiệp định mồng 6 tháng ba? - Cái tay giáo gian này lôi thôi lắm, hắn là một tay quân phiệt hoạt đầu, kư xong Hiệp định mùng 6 tháng ba bị vụ Ôn Như Hầu sợ quá, cũng ba chân bốn cẳng chạy sang Tàu, sau đó về làm Bộ Trưởng Thanh niên cho Nguyễn Văn Tâm, cách mạng với chính trị ǵ hắn. Thôi ta thưởng thức Martelle Cordon Bleu đi đừng nói chuyện vớ vẩn nữa.(..) - Cậu (ám chỉ Lê Văn Tiến) là người gần cả Tuyến lẫn Nhu, cậu thấy hai nhân vật này thế nào? - Ông Nhu có lần nói với em rằng nhà họ Nguyễn Tường chỉ có anh Long (nhà văn Hoàng Đạo) là đáng kể, Việt Minh đă xơi tái Hoàng Đạo ở Quảng Châu rồi th́ họ Nguyễn Tường coi như đoàn xe lửa không c̣n đầu nữa nằm ́ một chỗ. Nếu ngày 19 tháng 8 Hoàng Đạo không bị bệnh thương hàn khiến Nguyễn Xuân Chữ bất đắc dĩ phải làm quyền Khâm Sai Bắc Kỳ th́ làm sao Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội . Giải pháp Bảo Đại hư cũng v́ Việt Minh xơi tái được Hoàng Đạo ở Quảng Châu. Tuyến chỉ là người của hành động làm sao sánh được với Nhu, Tuyến là người biết người biết ta thể nào cũng có một ngày chống lại Nhu, em giúp Tuyến là để chờ ngày đó.

 

Trích 100 khuôn mặt Văn Nghệ sĩ, Hồ Nam- Vũ Uyên Giang, trang 296

 

Phải chăng v́ những nhận xét như trên đụng chạm đến tự ái đưa đến sự thù oán chế độ cũng như việc chào cờ và phải suy tôn Ngô Tổng Thống đă làm Nhất Linh tức giận bỏ ra khỏi rạp ciné như lời Nguyễn Tường Thiết kể lại?

 

Cuối tuần vừa qua, tôi lại đă có dịp được nghe bài phát biểu của nhà văn Doăn Quốc Sỷ về nhà thơ Tú Mỡ cũng như về bài thuyết tŕnh về căn nhà ánh sáng và tŕnh diễn các mẫu áo dài của họa sĩ Cát Tường tại tờ Người Việt.

Cái cảm tưởng thứ hai đến với tôi là sự phô trương và thiếu tự trọng đối với người nghe. Họ tự coi công việc này như một thành quả lớn lao về văn học và xă hội. Họ cũng chú trọng nhiều tới cái bề ngoài, cái vỏ, cái phô trương để che đậy cái nội dung rỗng. Tôi thấy thật lố bịch mỗi khi một tác giả lên phát biểu.

Nó gây cho người ta có cảm tưởng trong lănh vực nào nhóm TLVĐ cũng nhất – Nhất về văn chương đổi mới về văn, về nhạc, về thơ, về cải tiến xă hội. Nhất thời ấy và nhất cả bây giờ.

 

Chẳng hạn, những chương tŕnh xây dựng căn nhà ánh sáng tạm gọi là có tư tưởng cải tiến dân sinh đi nữa th́ việc thực hiện những dự án ấy đi đến đâu. Cụ thể là có bao nhiêu đơn vị gia cư đă được xây dựng ở Hà Nội? Chỉ có ít căn nhà ở khu Phúc Xá, môt khu gần bờ sông thường được gọi là băi Phúc Xá? Ai là người được thừa hưởng những căn nhà tiện nghi ấy? Chưa kể khi ở Hải Pḥng, Nhất Linh c̣n nói phóng đại tới xóm ánh sáng. Nghĩa là cả một khu làng trở thành những đơn vị gia cư kiểu mẫu, vệ sinh sạch sẽ, rẻ tiền và đầy đủ tiện nghi. Thực hiện đúng nếp sống văn minh.

 

Cứ thực mà nói, nó vẫn chỉ là những dự án, nằm trên giấy tờ, quảng cáo và chẳng gây một chút ảnh hưởng thực tế nào cả?

 

Nếu kết quả không có ǵ th́ việc phát biểu về những chương tŕnh ấy nhằm mục đích ǵ sau 80 năm? Hà Nội không ai đề cập đến vấn đề này. Đáng nhẽ họ nên làm theo mới phải.

 

Áo dài Việt Nam đă có từ lâu, trong một bài viết nhan đề: Des habitants de la Cochinchine, ngày 8 tháng 1, năm 1859 có vẽ kiểu áo dài thời đó với ống tay rộng với lời chú thích: Jeune dame Cochinchinoise. Nhiều bức h́nh chụp với chú thích như: Annamite lady and her servant, cả hai người đều mặc áo dài cũng có chút ngực nhô ra. Phần lớn các bức h́nh này vào khoảng 1900 – 1905.

 

Và áo dài miền Bắc khá phổ biến được nhiểu phụ nữ quyền quư mặc cũng vào thập niên 1900.

 

Cho nên cùng lắm kiểu vẽ áo dài của họa sĩ Cát Tường có cách tân đôi chút – có bông xóe ở hai vai áo – và rất có thể chỉ là bắt chước lại áo đầm của của các mệnh phụ người Pháp.

 

    

 

Nhưng cái áo dài mặc thời đó và cái áo dài tŕnh diễn bây giờ do các mệnh phụ phu nhân – xin lỗi các vị phu nhân – biểu diễn thời trang có điều ǵ giống và khác nhau? Phần tôi, tôi chỉ thấy sự khác biệt giữa ngực và vú. Phụ nữ xưa chỉ có ngực mà không có vú, phụ nữ ngày nay chỉ có vú mà không có ngực.

 

Sự khác biệt giữa xưa và nay là ở chỗ đó.

 

Thời ở Hà Nội – dù là Le Mur hay không Le Mur – áo dài phụ nữ thẳng đuột từ trên xuống dưới trông hiền lành và không gợi lên tính dục. Cái đẹp trong áo dài phải t́m ở một chỗ nào khác chứ không phải trên phần thân thể phía ngang ngực hay phía dưới thắt lưng của người phụ nữ.

 

Cho nên, nói là thời trang Le Mur, nhưng phải nói lại là thời trang hiện đại mới đúng.

 

Điển h́nh là sau 1954, có c̣n ai gợi nhớ đến mẫu áo dài đó nữa không?

 

Chiếc áo dài miền Bắc di cư vào miền Nam thay thế chiếc áo bà ba th́ có chút ǵ liên quan đến Le Mur? Trong số hàng ngàn các tiệm may lớn nhỏ ở Sài G̣n, ai c̣n nghĩ đến kiểu áo dài đó?

 

V́ thế Hà Nội – khi chưa có giao lưu văn hóa – qua nhà xuất bản Sự thật đă phê phán TLVĐ như sau:

 

TLVĐ đưa ra chủ đề cải cách xă hội trên tinh thần cải lương tư sản... Tư tưởng cải lương đó không những hết sức không tưởng đầy sự gian dối mà c̣n mang tính chất phản động v́ nó xóa nḥa mâu thuẫn giai cấp, ru ngủ người bị bóc lột bằng thứ cải tạo ban ơn.

Trích Từ Điển Văn Học, tập 2, do nxb Khoa Học, Xă Hội, năm 1984, tài liệu do giáo sư Lưu Trung Khảo cung cấp.

 

Cộng sản phê phán có phần cao siêu quá, phần tôi chỉ giữ lại chữ Không tưởng. Cá chương tŕnh đó cho dù có đến 3000 – 4000 ngàn người tham dự. Nhưng chỉ nói mà không có việc làm cụ thể nào. Th́ chỉ là không tưởng nếu không dám nói là nổ, là huyênh hoang.

 

C̣n về mặt văn học, có thể nói nhiều chỗ các tác giả bắt chước con đà điểu, nhiều chỗ khác lại bắt chước con vẹt... Khen th́ bắt chước vẹt. Không dám chê th́ bắt chước đà điểu. Tôi đă nhận ra nhiều con đà điểu và dĩ nhiên cũng nh́n ra nhiều con vẹt.

 

Ngoài Tự Lực Văn Đoàn c̣n nhiều chân trời khác đang chờ đợi chúng ta góp công sức làm việc.

 

Như mới đây ở trong nước, tôi mới nhận được một cuốn sách gửi tặng nhan đề: Thư của các thừa sai, do ông Nguyễn Minh Hoàng dịch. Có nhiều sách dịch lắm ở VN, mà phần thương mại chiếm đa phần nên dịch ẩu, dịch sai cũng nhiều.

 

Dịch có chọn lựa như cuốn của Nguyễn Minh Hoàng cũng thật hiếm có.

 

Ngoài sách dịch c̣n có hàng ngàn sách đủ loại do nhiều nhà xuất bản đảm nhận ở Việt Nam. Xấu tốt cũng cần thẩm định lại.

 

Nhưng chúng ta đừng quên rằng đă có rất nhiều những công tŕnh số hóa hay phục hoạt lại tài liệu xưa của miền Nam đă được h́nh thành một cách âm thầm và lặng lẽ mà không cần khua mơ, khua trống ầm ĩ như tờ Người Việt.

 

Chẳng hạn hằng trăm công tŕnh sưu tập của nhà văn văn Phạm Thị Hoài đă phục hoạt lại các tác phẩm của các nhà văn miền Nam trên mạng Talawas. Tôi nghĩ rằng công của nhà văn Phạm Thị Hoài đối với Văn học miền Nam không nhỏ. Không có PTH th́ nhiều phần của nền văn học ấy đă hầu như bị mai một sau chiến dịch truy lùng sách vở miền Nam sau 1975. Nhà văn Nhật Tiến cho biết, ông bị tịch thu khoảng 2000 sách đủ loại sau 1975.

 

Ngày nay, tất cả các bộ sử đủ loại nay cũng được phục hoạt, số hóa đầy đủ mà bất cứ ai cũng có thể có được không cần phải là những người làm công việc biên khảo. Chẳng hạn hiện tôi có trong tay các bộ Việt Sử Tiêu án của Ngô Thời Sĩ, Nam Sơn Thực Lục, Đại Việt Thông Sử, Lê Quư Đôn, Đại Việt Sử Kư toàn thư, Annam Chí Lược, Sử liệu thời Tây Sơn.

 

Đặc biệt sách in có Quốc sử triều Nguyễn – Đại Nam thực lục – . Bộ Tinh tuyển Văn học. Sách in ấn rất đẹp dày hàng mấy ngàn trang mà hầu như chỉ để ngắm!! Và nhất là bộ 200 năm nghiên cứu truyện Kiều của gần 200 giáo sư, học giả cả miền Nam lẫn miền Bắc viết về truyện Kiều, dày 1989 trang, giấy in như giấy in sách kinh thánh (Bible) do nxb Giáo dục phụ trách.

 

Đấy là những tài liệu tôi có, tôi biết và c̣n bao nhiêu những công tŕnh khác không được biết tới v́ không có điều kiện được tiếp cận?

 

Công tŕnh số hóa toàn bộ Bulletin des amis du vieux Hue (BAVH) cách đây cả hơn 10 năm chẳng những được in ra thành sách mà c̣n được số hóa đầy đủ.

 

Các tập san Sử Địa của hai miển Nam Bắc cũng đều được in vào đĩa đầy đủ.

 

Các báo Nam Phong của Phạm Quỳnh cũng được Viện Việt Học ở Cali số hóa đầy đủ. Trong tương lai Viện Việt Học cũng số hóa các tạp chí Quê Hương, Bách Khoa v.v... Các báo Nam Kỳ Địa Phận cũng như Tri Tân cũng được in lại.

Và trên Thư viện toàn cầu, Việt Nam thư quán hàng ngàn đầu sách truyện đủ loại đă được đánh máy và đưa lên mạng cũng như các truyện Chưởng, Kiếm Hiệp… các truyện dịch đủ loại. Nhiều phần tài liệu về nhật kư đủ loại của Phạm Duy, của Cao Văn Luận, của tướng Hoàng Văn Thái tôi đă đọc và in ra để dùng làm tài liệu riêng cho ḿnh.

 

Vậy mà những người chủ trương những trang mạng này nào ai biết tới họ, nào ai có một lời vinh danh!! Họ không có tiền bạc, không có cơ sở thương mại, không có nhân viên, nhưng chỉ nhờ độc giả mà nay một số đông bạn đọc thưa hưởng những giờ phút thư giăn đọc sách.

 

Một cơ sở văn hóa mà tôi đọc và xử dụng với nhiều thích thú là mạng điện tử Gio – o của bà Lê Thị Huệ. Trong đó tôi chú trọng tới hai người: Nguyễn Duy Chính và Ngô Bắc. Tôi đă in ra làm tài liệu không sót một bài, hoặc được chính tác giả in ấn, làm b́a gửi tăng cho tôi – như các bài biên khảo của Nguyễn Duy Chính về sử Trung Hoa cũng như nhà Tây Sơn… Những biên khảo này làm đảo lộn những nhận thức vốn quen thuộc khi nói về nhà Tây Sơn của các sách sử cũ cũng như của những nhà viết sử uy tín. Sách vở tài liệu cũ nay trở thành lỗi thời, thiếu xót, v́ không được đọc nguyên bản tài liệu của Trung Quốc.

 

Tôi cũng đọc một mảng sử lớn lao, đồ sộ – hầu như ít được ai lưu tâm đủ – do người ngoại quốc viết về Việt Nam trong những thế kỷ trước và hiện nay – nhất là người Mỹ, Anh, Đức, Bồ Đà Nha, Tây Ban Nha và người Nhật – do Ngô Bắc chuyển ngữ. Những bản dịch chắc c̣n cần chỉnh sửa về câu văn, nhưng nếu chỉ xét về số lượng, về những thông tin, về những hiểu biết cách đây vài thế kỷ của các người ngoại quốc viết về Việt Nam xa xưa th́ thật là đáng giá lắm lắm.

 

Tôi đếm dối cũng đến hơn 200 bài biên khảo công phu của các học giả ngoại quốc. Tôi đă in, tôi đă đọc, tôi t́m hiểu, ráng nhớ, ráng phân tích. Đây cũng là cơ hội giúp tôi truy cập thẳng vào nguyên bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp. Tôi có cảm tưởng, tôi đang sinh ra ở thế hệ Phạm Quỳnh và đọc những bài viết của các nhà trí thức lỗi lạc một thời.

 

Tôi thú nhận, những nhận thức về sử, quan điểm sử trong mối liên thuộc với sử Trung Hoa cũng như ngoại quốc đă thay đổi rất nhiều sự nhận thức nơi tôi do hai ông Nguyễn Duy Chính và Ngô Bắc đă thực hiện.

 

Đó là những người làm biên khảo không mang tính trường ốc, nhưng lại đóng góp rất nhiều trong việc mở mang kiến thức sử mà tôi là người được thụ hưởng. Mà nào họ có cần đánh trống khua mơ ǵ đâu. Tôi trọng họ ở chỗ đó và coi thường những người khác cũng ở chỗ đó.

 

Tôi cũng không thể nào không nhắc đến một tên tuổi mà công khó với văn học thật là đáng nể: Anh Trần Hoài Thư ở New Jersey... Trước đây tôi cũng đă nhận được một sưu tập thơ thời chiến... với hàng vài trăm nhà thơ đă có mặt trong tuyển tập. Anh thu góp, đóng lấy, in lấy, biếu không bán. Nay anh lại thu tập các bài viết của các nhà văn miền Nam và đặt tiêu đề là: Những vấn đề văn học miền Nam trong thời chiến trong Thư Quán Bản Thảo, năm thứ 12. Công sưu tập đi về từ các thư viện như Cornell và Yale, rồi cùng với vợ – chị Yến đau yếu – lụi cụi sắp xếp, lụi cụi in ấn – hằng ngàn trang sách.

 

Những công việc sưu tập như thế về giá trị sưu tập, t́m ṭi thật khó mà đo lường cho công bằng được.

 

So ra những công tŕnh làm việc âm thầm ấy th́ công việc số hóa Phong Hóa, Ngày Nay chỉ là chuyện trong muôn một. Đáng giá nhưng không phải là vô giá. Cũng đáng hănh diện, nhưng không phải ta đây là nhất. Cùng lắm là một viên gạch trong một ṭa nhà.

 

Tôi đă dành tŕnh bày một cách vắn gọn những công tŕnh nhằm phục hoạt văn học miền Nam đă từng bị cộng sản xóa bỏ. Từ đó cho thấy TLVĐ chỉ là một bộ phận nhỏ nhoi trong số những mục tiêu mà chúng ta có bổn phận đào xới lại và bảo tồn…

 

Không nên bất công với lịch sử Văn học và cũng không nên coi văn học miền Nam gói trọn vào một văn đoàn mà vốn nay nó đă thực sự bị vượt qua.

 

Một bạn văn đă viết cho tôi như sau về TLVĐ: Sau năm 1954, nhiều nhà văn tiền chiến đă đánh mất hào quang của ḿnh. Và trong thời đại thông tin như hiện nay, nhiều thần tượng đều hóa ra đất sét cả. Người ḿnh cứ thích vẽ ra một cục đá rồi thi nhau vái lậy như thần linh.

 

Nhà văn Doăn Quốc Sỹ với Tú Mỡ

 

Tôi thật sự thất vọng khi nghe xong bài phát biểu của nhà văn Doăn Quốc Sỹ. Kính trọng ông trước bao nhiêu th́ nay giảm đi theo tỷ lệ nghịch.

 

Thay v́ phát biểu với tư cách nhà văn, thuộc nhóm Sáng Tạo, ông Phát biểu với tư cách con rể Tú Mỡ. Đây là một quyết định sai lầm của tác giả, v́ nó chẳng nói lên được điều ǵ! Đi nghe ông để chỉ nghe một vài câu tán hươu, tán vượn về Tú Mỡ?

 

Nhưng ai đă có dịp nghe bài tham luận của nhà văn Doăn Quốc Sỹ chắc không khỏi thất vọng v́ nhà văn Doăn Quốc Sỹ nói mà như thể không nói ǵ cả.

 

Câu hỏi trực tiếp của tôi là ông đến đây làm ǵ?

 

Ông không thể đến đoàng hoàng với tư cách một nhà văn được sao? Ông dại diện ǵ cho Tú Mỡ? Đại diện cho hoạt động của Tú Mỡ, thái độ chính trị của Tú Mỡ, sự nghiệp văn chương của Tú Mỡ?

 

Ông chỉ nêu một vài câu chuyện bên lề về ngày đám cưới của ông và chiếc xe b́nh bịch của ông bố vợ… cũng như trích dẫn một vài câu thơ “vô tội” nhất của Tú Mỡ.

 

Thật sự với tư cách một nhà văn của nhóm Sáng Tạo, với một số lượng tác phẩm đồ sộ chống cộng, với thành tích hai lần đi tù ngót nghét gần 20 năm, tôi hỏi lại ông một lần nữa, ông đến đây làm ǵ để chỉ phát biểu vài điều vu vơ như thế hay là để được cắt băng khánh thành buổi triển lăm?

 

Thật sự có muốn trách ông cũng không được như tôi đă dự đoán trong phần bài trước, v́ ông dù sao cũng là người con rể của Tú Mỡ. Cái khó của ông là ở chỗ đó và c̣n có thể có cái khó khó gấp bội lần hơn mà tôi sẽ nói sau.

 

Nói về nhà văn Doăn Quốc Sỹ, có lẽ ông là một trong những nhà văn miền Nam được cả độc giả miền Nam trước 1975 và sau 1975 trong và ngoài nước kính trọng và quư mến nhất về tư cách con người.

 

Nhất là tư cách một người ở trong nhà tù cộng sản.

 

Nhà văn Vơ Phiến, vốn không phải là người dễ tính khi phê phán các nhà văn miền Nam cũng đă phải hạ bút bằng một câu trân trọng đáng giá ngàn vàng như sau:

 

“Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn”. Nhận xét như thế là tóm gọn tất cả những tác phẩm cũa nhà văn Doăn Quốc Sỹ.

 

Nhưng phía người cộng sản th́ lại nh́n ông như một thứ biệt kích văn nghệ nguy hiểm và xấu xa nhất. Tôi xin trích dẫn hai nhận định cũa những người phía bên kia về ông Doăn Quốc Sỹ: “Doăn Quốc Sỹ cũng là một cây bút phản động hung hăng không kém ǵ Vơ Phiến. Nhưng về phong cách diễn tả th́ lại rất sống sượng. Có khi đang giữa chừng một truyện ngắn, hắn bỗng nhiên mở ngoặc đơn ra rồi xen vào đó những lời nguyền rủa chẳng dính dấp ǵ đến sự diễn biến của câu chuyện “Trong cái điên ba của cuộc thế phản trắc, người ta dầy xéo lên t́nh người, đềm nhiên xương máu đồng bào đồng loại, nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lănh tụ như chúng sao được.” (Doăn Quốc Sỹ: Chiếc chiếu hoa cặp điều, trong Ǵn Vàng giữ Ngọc, Sáng Tạo, 1967, trang 143).

 

Ở chỗ khác, Doăn Quốc Sỹ vừa chửi thực dân, nhưng lại chấp nhận thực dân, v́ theo hắn “cộng sản c̣n ghê tởm hơn nhiều.”

 

Trích Lữ Phương, Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của Đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam. Nhà xuất bản Văn Hóa Hà Nội, 1981.

 

Chắc quư bạn biết Lữ Phương là ai chứ? Một người vốn ăn cơm gạo miiền Nam rồi nằm vùng, theo MTGPMN sau 1975 chửi các nhà văn miền Nam bằng thứ ngôn ngữ xách mé của cộng sản chẳng thua ǵ cộng sản thứ thiệt. Lữ Phương gọi sách mé Doăn Quốc Sỹ bằng Hắn, Nó. Doăn Quốc Sỹ th́ ghê tởm bọn chúng!!!

 

Đáng nhẽ ông đến đây với tư cách một nhà văn nạn nhân của chế độ cộng sản và đ̣i trả những món nợ mà người cộng sản đă dành cho ông.

 

Sau này, sang đây tỵ nạn, người ta không bao giờ c̣n t́m thấy thứ ngôn ngữ đó nữa nơi Doăn Quốc Sỹ…

 

Nhưng nhà nhà văn Doăn Quốc Sỹ c̣n bị Trần Trọng Đăng Đàn đặc biệt duyệt xét lại toàn bộ các bản văn kịch của ông như Hồ Thùy Dương, Trái Cây Đau Khổ, Trăng sao, Tiếng Hú Tâm Linh... và cho rằng Doăn Quốc Sỹ đă bầy ra những xảo thuật chống cộng và phản động chính trị tinh xảo...

 

Trần Trọng Đăng Đàn, Văn Hóa, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954 – 1975, các trang từ 343 – 351

 

Một nhân vật như thế dưới mắt người cộng sản mà khi đi ra đoàn tụ ở nước ngoài, ông tỏ ra kín đáo và tránh né tất cả những tuyên bố chính trị đụng chạm đến cộng sản. Trong buổi ra mắt trong buổi họp mặt với các giáo chức ở Cali, nhiều người không nhận ra con người thật của Doăn Quốc Sỹ nữa.

 

Tôi có cảm tưởng hiện nay ông vẫn c̣n tự nhốt ḿnh trong nhà tù – nhà tù của chính ông. Ông hiền lành quá như đóng vai một hiền triết. Người ta kỳ vọng ở ông sẽ viết được một Goulag Việt Nam. Không, ông im lặng... Tại sao những trường hợp như các ông Bùi Tín và Vũ Thư Hiên lại có thể viết được những tác phẩm để đời khi đào thoát ra khỏi Việt Nam. Với tài năng và kinh nghiệm đau xót có thừa về cộng sản, người ta kỳ vọng ở ông một tác phẩm lớn, tầm cỡ.

 

Và người ta sẽ phải nghĩ thế nào về trường hợp Nguyễn Chí Thiện – Cũng được chính thức rời khỏi VN – Nhưng thái độ chính trị của ông rất là rơ ràng, có sự ṣng phẳng, sự hiên ngang và chấp nhận đối đầu trong mọi t́nh huống.

 

Giải đáp những thắc mắc trên, tôi mang chính kinh nghiệm trong gia đ́nh để khai thông truyện này.

 

Gia đ́nh tôi, có anh em khi được đoàn tụ đă được dặn ḍ như một lời hăm dọa:

“Nay nhà nước cho anh được xuất ngoại, đoàn tụ gia đ́nh, chúng tôi chỉ yêu cầu anh một điều: Anh ra nước ngoài, xin đừng tuyên bố, không làm điều ǵ cũng đừng viết bất cứ điều ǵ có hại cho nước nhà. Chúc anh được mọi điều may mắn”.

 

Đối với những người được chính quyền cho phép xuất ngoại th́ dư luận cho rằng cá nhân họ thường bị đốt cháy. Họ bị ràng buộc bằng những giao kèo có thể bất thành văn buộc họ phải im lặng, và ngay cả buộc họ phải làm một số công việc theo lệnh của trong nước.

 

Mỗi ngày, trong sự cô đơn tuyệt cùng của nhà tù, phải viết đi viết lại những bản tự kiểm, nào ai thấy hết được nỗi khốn cùng của sự đe dọa đó!

 

Trường hợp Thế Uyên, nhất là Duyên Anh đă bị cộng đồng người Việt chống Cộng đối xử một cách mạnh tay c̣n đó. Tẩy chay, chửi bới, nhục mạ và ngay cả bị đánh đập như trường hợp Duyên Anh. Duyên Anh, Thế Uyên đều là những nhà văn với cá tính ngang tàng, tại sao họ đă viết như thế? Chỉ người trong cuộc mới biết được.

 

Tôi nghĩ không dễ cho ông Doăn Quốc Sỹ có thể làm được việc đó, mặc dù đă ở lúc cuối đời.

 

Viết đến đây tôi mong đợi như một đ̣i hỏi nhà văn Doăn Quốc Sỹ cần lên tiếng dứt khoát về vấn đề này một lần. Lên tiếng nhận hay phủ nhận đều có lợi cho uy tín của ông và cũng đánh tan mọi nghi ngờ trong cộng đồng người Việt và một cách gián tiếp làm mất mặt cộng sản!

 

Nguyễn Văn Trung, sau này cũng đành thú nhận: Tham gia cách mạng là tham gia vào một quá tŕnh tự tiêu diệt sau này.

 

Và nó cũng sẽ hóa giải cho nhiều trường hợp lư lịch và thẻ căn cước tỵ nạn của nhiều nhân vật khác.

 

Tôi xin nhắc lại không dễ cho ông có thể làm việc đó, mặc dù đă ở lúc cuối đời. Ở lúc cuối đời c̣n có ǵ để sợ? C̣n cần ǵ để giữ im lặng? Trước khi chấm dứt về trường hợp nhà văn Doăn Quốc Sỹ, tôi tiếc là đă không gửi kịp mấy câu thơ sau đây của ông Tú Mỡ tế sống Bảo Đại để ông có dịp đọc cho khán giả nghe:

 

“Hỡi ôi, Vĩnh Thụy

Tuy chưa măn đời

Coi như tắt nghỉ

Cờ ba sắc, sắp phủ ván thiên

Áo sáu tấm đưa vào nghĩa Địa

Đội mũ rút, mũ dừa để mở mang công nghệ

Vợ Tây cưới, con Tây nuôi, cảnh nhà hú hí

Tây cũng phải buông

Mỹ không cứu xuể…

 

Vài câu thơ do giáo sư Lưu Trung Khảo chuyển đọc do c̣n nhớ lơm bơm được.

Và đây là nhận xét của Tú Mỡ về nhà văn Nhất Linh mà ông Nguyễn Sỹ Tế đă quên trích dẫn:

 

“Nhắc tới Nhất Linh, nhà thơ Tú Mỡ nói rằng đó là người vừa đáng yêu vừa đáng tiếc. Ông viết: “Điều đáng tiếc là sau kháng chiến, anh đă theo bè lũ Ngô Đ́nh Diệm vào Nam để rồi bị bè lũ ấy chèn ép, cắt mất nguồn sống đến nỗi uất ức phải tự tử”.

 

Khúc Hà Linh: Xung quanh cái chết của nhà văn Nhất Linh

 

Về một nét son của nền đệ nhất cộng ḥa miền Nam Việt Nam.

 

Khi viết về phần này liên quan đến việc tự tử của Nhất Linh để phản đối chế độ ông Ngô Đ́nh Diệm, tôi vẫn tự hỏi ḿnh là tại sao ông Diệm đă bị nhiều người thù oán đến như thế! Ông có tội t́nh ǵ mà bao nhiêu người, đủ thành phần, đủ loại trí thức mà cùng chung một nguồn gốc tôn giáo trút lên đầu ông đủ thứ tội. Trong đó hằn lên sự hận thù tôn giáo?

 

Trong đó có Nhất Linh. Mà chỉ là sự hận thù như chính Nguyễn Tường Thiết thú nhận trong việc Nhất Linh phải đứng suy tôn ông Diệm trong một rạp ciné.

 

Xét về nhiều mặt, ông Diệm làm nhiều điều tốt hơn điều xấu. Thành quả xây dựng nền đệ nhất cộng ḥa non trẻ biết bao trở ngại phải vượt qua để đưa đất nước tiến lên. Con người ông là tốt – con người quốc gia chân chính – như nhận xét của TT Thích Tâm Châu và rất nhiều người khác. Vậy mà khi tôi viết về những điều tốt về chế độ đệ nhất cộng ḥa th́ cũng c̣n nhiều kẻ vẫn c̣n oán hận ông Diệm bám đuôi tôi như bầy kên kên lấy tôi để xỉa xói, để trút hận oán.

 

Tôi không có liên quan trực tiếp tới chế độ đó, tôi cũng không có ân oán ǵ với những người nối đuôi chửi tôi. Nhưng càng lớn, tôi càng nhận thức được rằng – đối với ai tôi không biết – nhưng với riêng tôi, được đi ăn học đàng hoàng, trở thành một người trí thức của miền Nam – . Đó là một hồng ân. Và giả dụ tôi ở lại miền Bắc th́ số phận tôi sẽ ra sao? Tôi hỏi thay cho những ai đang hận oán chửi chế độ VNCH!!!

 

Chỉ nghĩ tới điều phải ở lại miền Bắc thôi, tôi đă rừng ḿnh, sởn da gà, đêm nằm gặp ác mộng nếu chẳng may không di cư vào miền Nam được.

 

Cho nên, giá của cuộc di cư này là vô giá và giá của cuộc di tản lần thứ hai năm 1975 cũng là một phần thưởng vô giá ngoài sự mong đợi của mọi người.

 

Bài học cho mỗi người chúng ta là phải biết học bài học của ḷng biết ơn, biết ai là bạn, ai là thù...

 

Và xin nhớ rằng chỉ có một kẻ thù chung là cộng sản, c̣n lại tất cả chúng ta, dù sao chăng nữa th́ cũng là người cùng nhà.

 

Tôi thật sự không hiểu những người khác đă không nhận thức ra điều này để ra rả chửi miền Nam, chửi chế độ ấy bằng đủ thứ ngôn ngữ tuyên truyền của Hà Nội.

 

Có thể nh́n cho sâu, nh́n cho xa th́ đây là một Hội chứng c̣n sót lại từ khi kư ḥa ước 1862 và nhất là được đánh dấu vào năm 1868 với phong trào Văn Thân. Cứ giả định ông Ngô Đ́nh Diệm là Phan Huy Quát th́ việc làm chính trị của ông có thể thông suốt hơn nhiều chăng. Quy định về việc treo cờ có thể lúc ấy chỉ c̣n là một quyết định hành chánh và máu đă không đổ ra một cách vô ích.

 

Hận thù tôn giáo là một thảm kịch đă xảy ra tại nhiều nước, nhiều xă hội. kéo dài hết đời này sang đời khác.

 

Như thế, ngay từ đầu, việc Bảo Đại chọn lựa ông Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng có thể đă là một quyết định sai lầm – sai lầm cả từ phía người Mỹ lẫn người Pháp về sự đánh giá nhẹ yếu tố tôn giáo.

 

Cho nên không lạ ǵ những công tŕnh tốt đẹp mà ông Diệm đă làm cho đất nước vẫn bị phủ nhận. Cũng không lạ ǵ, ông Diệm tỏ ra đối xử tử tế với Nhất Linh, nhưng vẫn bị ông Nhất Linh t́m cách lật đổ. Ông Nhất Linh thù ghét chế độ ấy, nhưng ông chưa hề viết một bài, chưa hề có một lời tuyên bố trực tiếp hay minh bạch như một tố cáo chế độ. Như trường hợp cải tổ giáo dục sau đây chế độ ấy đối xử với Nhất Linh như thế nào. Và chỉ hơn hai năm sau, những người được hưởng những vinh hạnh lớn nhất của cuộc cải tổ giáo dục đă đứng chung trong hàng ngũ những kẻ lật đổ ông Diệm.

 

Hận thù tôn giáo và chủng tộc là một điều khó có thể nói đến lư lẽ được.

 

Tôi nghĩ có thể cần đọc thêm lịch sử các nước Hồi Giáo để hiểu rơ hoàn cảnh đất nước ḿnh.

 

Theo tài liệu do ông Hồ Đắc Huân c̣n lưu trữ được về thời đệ nhất cộng ḥa th́ vào năm 1958 đă có những cải tổ lớn về chương tŕnh giáo dục miền Nam. Một đại hội về giáo dục đă đưa ra một số vấn đề then chốt nhằm nâng cao phẩm chất nền giáo dục ấy dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: Tính Nhân bản, tính dân tộc và tính khai phóng. Trong đó hội nghị đă dành cho ngôn ngữ văn chương Việt Nam một vai tṛ chủ yều: Số giờ việt ngữ tăng lên 6 giờ ở bậc đệ nhất cấp, trong đó có đưa nhóm Tự Lực Văn Đoàn chính thức vào chương tŕnh giáo dục.

 

Xem Hồ Đắc Huân, Sáu năm hoạt động của chính phủ VNCH, trang 659 – 660

Giáo sư Lưu Trung Khảo là người đă được mời tham dự các buổi họp khoáng đại và tham gia vào các phiên họp riêng từng tiểu ban đă cho tôi biết một số chi tiết đáng nói sau đây.

 

Thành phần tham dự đứng đầu là ông Nguyễn Hữu Chỉnh – thay ông bộ trưởng Trần Hữu Thế công du – ông nguyên là đổng lư văn pḥng bộ giáo dục. Tham dự viên là các hiệu trưởng các trường Trung học, các trưởng ty tiểu học và một số giáo sư như: linh mục Trần Văn Hiến Minh, giáo sư Trần Bích Lan, giáo sư Trương Công Cừu, giáo sư Đàm Xuân Thiều, giáo sư Hà Như Chi và có giáo sư Luu Trung khảo cùng nhiều vị khác không nhớ hết.

 

Cũng theo giáo sư Khảo, việc thảo luận hoàn toàn tự do và không có một dấu hiệu nào cho thấy có sự chỉ huy hay áp dặt nào. Khi thảo luận xong đă đi đến đúc kết và đưa ra một chương tŕnh giáo dục được thi hành ngay trong năm 1958. Các bản chương tŕnh này cũng được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp gửi cho các ṭa đại sứ VN ở Sài G̣n.

 

Sau đó phái đoàn Hội nghị đă được ông Diệm tiếp đón.

 

Nếu chỉ nói trong chương tŕnh có phần giảng dạy về TLVĐ th́ đây là một vinh dự lớn lao cho nhóm v́ hiện nhiều tác giả trong nhóm c̣n sống vào thời điểm 1958 cả trong Nam lẫn ngoài Bắc như Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu. Lưu Trọng Lư, Huy Cận đều có được nói tới gián tiếp trong chương tŕnh mặc dầu họ nằm ở phía bên kia. Thầy giáo, học sinh thoải mái đọc thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư. Chống Cộng chứ đâu có cấm học hỏi văn chương tiền chiến.

 

Sự thông thoáng và tự do như thế th́ nói chi đến trường hợp Khái Hưng, Hoàng Đạo và nhất là Nhất linh.

 

Sau khi có chương tŕnh chính thức th́ đă có rất nhiểu các giáo sư ra sách giáo khoa viết về TLVĐ như các giáo sư Lê Hữu Mục, Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Sĩ Tế và nhất là Phạm Thế Ngũ. Hầu như đă có một sự tự do tuyệt đối đánh giá và khen các nhà văn trong TLVĐ mà không bị một h́nh thức kiểm duyệt nào... trong các sách giáo khoa ấy.

 

Phải hiểu thế nào là hai chữ độc tài trong trường hợp này? Nói chung, ông Diệm thường giao phó trách nhiệm cho các chuyên viên, giáo sư thảo kế hoạch và làm giáo dục.

Về phía Đại Học, ông Diệm để cho họ có quyền tự trị trong việc giảng dạy trong các trường Y Khoa, Luật Khoa, Văn Khoa cũng như các trường kỹ thuật.

Chỉ riêng ở trường Văn Khoa, các giáo sư hoàn toàn độc lập và tùy tiện chọn các tác giả mà họ ưa thích để giảng dạy...

 

Về triết học, có ngưỡng cửa mở ra cho tất cả triết học Phật giáo, Ấn Độ giáo, Nho giáo, Lăo giáo... Đến ngay cả triết học Mác Xít cũng được giảng dạy mà không có bất cứ sự kiểm duyệt và can thiệp nào của Khoa trưởng.

 

Về triết học Tây Phương, có dư luận hiểu lầm rằng, triết học Hiện sinh đă được quảng bá và giảng dạy tràn lan. Hoàn toàn không đúng như thế.

 

Triết học Hiện sinh – đặc biệt triết học Hiện sinh kiểu Sartre chỉ là những chọn lựa bên lề, không chính thức nằm trong chương tŕnh giảng dạy.

 

Thiên Chúa giáo là một bộ phận tôn giáo nên không có một chứng chỉ hay môn dạy về đạo này ở bậc Đại Học Sài G̣n.

 

Có hằng trăm ngàn người học sinh, sinh viên được đào tạo dưới chế độ đệ nhất cộng ḥa, đă có những ai trong số đó bị chế độ độc tài ấy hành xử bất công, gia đ́nh bị tù tội v́ vấn đề tôn giáo th́ xin hăy cứ lên tiếng. Đă có bà mẹ, người chị, đă có vị sư nào bị cấm đi chùa, cấm xây cất chùa, cấm việc đào tạo tăng ni?

 

Nhất Linh c̣n muốn ǵ hơn nữa đối với nền Đệ Nhất Cộng Ḥa và thỏa măn tham vọng muốn lật đổ?

 

H́nh như trong buổi Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn, không ai muốn nhắc nhở đến điều này! Họ cúi mặt làm ngơ!! Gánh nặng lịch sử về cuộc đời làm chính trị của Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam và t́nh trạng bệnh hoạn dẫn đưa đến cuộc tự vẫn của ông!!

 

Phần này tôi đă nói đủ, nói nhiều lần, nay chỉ xin tóm lại, tránh trích dẫn và buộc những ai – ít ra những người sau đây phải lên tiếng, hoặc rút lui vào im lặng. Đó là các ông Nguyễn Tường Thiết – Phạm Phú Minh và công ty Người Việt. Họ có thừa các phương tiện truyền thông để đè bẹp tiếng nói của tôi nếu họ muốn đối chất.

 

· Việc ông Nguyễn Tường Tam trốn vào ṭa đại sứ Trung Hoa Dân Quốc.

Người ta sẽ phải đánh giá thế nào về tư cách con người làm chính trị của Nhất Linh trong vụ này. Xin hăy trả lời đi. Trốn vào đó là tự ḿnh nhận tội đồng lơa. Trốn vào đó là gián tiếp lo bản thân mặc kệ và bỏ rơi 33 đồng chí khác phải vào tù cho thấy một nhân cách chính trị bất xứng. Nếu không nói là hèn nhát.

 

Ai đă cứu ông Nhất Linh ra khỏi hoàn cảnh nửa khóc nửa cười này?

 

Có một cái nhục nhă trốn vào, tính toán từ lúc tham gia đảo chính, nghĩ tới con đường rút lui an toàn cho ḿnh, lui cui một ḿnh, lẻn vào ṭa đại sứ và cũng có một cái nhục nhă trốn ra – nhục đến hai lần – nhục với đồng chí và nhục với chính kẻ thù của minh – . Bởi v́ kẻ cứu ra không ai khác chính là linh mục Raymond de Jaegher, giám đốc Tự do Thái B́nh Dương rồi Ngô Đ́nh Nhu, Trần Kim Tuyến – kẻ thù mà ḿnh âm mưu lật đổ.

 

Ngô Đ́nh Nhu thả Nhất Linh ra thay v́ nhận được một lời cám ơn lại nuôi thêm nỗi hận oán nơi Nguyễn Tường Tam.

 

Đáng nhẽ khi thất bại về chính trị th́ cách hay nhất là lẳng lặng rút lui về ẩn dật. Đó là cung cách những người làm chính trị chuyên nghiệp.

 

Mới đây, tôi có được xem một reportage về một nhà chính trị nổi tiếng muốn tách tỉnh Québec ra khỏi Canada. Trong cuộc trưng cầu dân ư, ông đă thất bại xít sao... Sau khi đọc lời tuyên bố từ chức, thay v́ dùng tài xế có xe Limousine và hộ vệ như thường lệ. Ông đă đi bộ và lẳng lặng lấy xe điện ngầm để về nhà.

 

Bao giờ, những người làm chính trị nước ta học được bài học dân chủ đó thay v́: Được th́ làm vua, thua th́ làm giặc.

 

Có thể v́ việc này mà theo ông Lê Nguyên Phu, thẩm phán công tố cho hay, ông Nguyễn Tường Tam xin ṭa cho tránh phải đối chất với các đồng chí của ông.

 

Vụ trốn vào ṭa đại sứ này nhắc mọi người đến việc Nguyễn Tường Tam chỉ quay trở về Việt Nam cùng với đoàn binh Đệ bát lộ quân, tỉnh Vân Nam tiến vào Hà Nội rất muộn màng trong khi Hồ Chí Minh đă về nước ngay từ 1944 chuẩn bị nắm chính quyền. Giả dụ đoàn quân của tướng Lư Hán và các nhá cách mạng chống Cộng thân Trùng Khánh chỉ sang Việt Nam sớm vài tuần, có lẽ cuộc cách mạng tháng 8 đă hướng về một ngă khác…

 

Và khi người Tầu có thỏa thuận với người Pháp th́ họ rút lui về Tầu... Cũng lại chính Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần vội cuốn gói theo Tầu mặc kệ các đồng chí của ông sau đó bị Việt Minh sát hại.

 

Và Việt Minh đă thành công trong việc đặt các đảng phái Quốc gia ra ngoài ṿng và cứ thế các đảng phái biến mất và yếu dần đi. Đó là t́nh trạng mạnh ai nấy lo thân ḿnh. Kẻ yếu thế chạy về vùng Bùi Chu Phát Diệm, chờ thời. Kẻ uy thế hơn như Nguyễn Tường Tam th́ bám theo quân đội Trung Hoa t́m đường sang Trung Quốc mặc ai nấy chạy, mặc ai sống chết.

 

Ngay cả Trần Khánh Triệu, con ruột Nhất Linh cũng không biết Nguyễn Tường Tam ở đâu. Ông viết:

 

Ṭa báo dạo này ít người lai văng, cậu Hàng Bè (ám chỉ Nhất Linh) vẫn biệt vô âm tín…

 

Trong khi đó công an tự do đột nhập ṭa báo lục soát bắt bớ. Các đảng viên cao cấp như như bác Hề, bác Đóa, Trí, Dị bị đem đi biệt tích...

 

Trích trong Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, trang 161 – 172

 

Việc bỏ trốn sang Trung Hoa cho yên thân và sau này trốn vào ṭa đại sứ Trung Hoa Dân Quốc – . Tuy hai việc nhưng nói chung vẫn chỉ là một. Một con người, một cách hành xử.

 

Đau đớn nhất là cái chết của nhà văn Khái Hưng. Câu nói của Vũ Khắc Khoan là một vết dao đâm vào ngực Nhất Linh khi Vũ Khắc Khoan nói: Ông nói ông không làm chính trị, nhưng đă có biết bao nhiêu người v́ theo ông mà bị sát hại!!!

 

Ông Nguyễn Tường Thiết không đủ tư cách để bào chữa cho bố ḿnh về vụ này. Ông không hề dám nhắc nhở về vụ này. Ông đừng nói loanh quanh nữa, người ta cười cho.

 

Khi bắt buộc phải lấy lời khai, theo hồ sơ thụ lư và luật sư Dương Kiền – chồng cũ của bà Trương Kim Anh công bố 6 trang đánh máy về bản cáo trạng. Nhất Linh đă phủ nhận hết mọi cáo buộc. Không biết, không nghe, không dính vào, không tham gia, chỉ là do các đàn em làm. Ông phủ nhận không gặp Nguyễn Đ́nh Nghi, Nguyễn Chữ, Nguyễn Tường Bá, Nguyễn Tường Ninh… tại nhà ông. Nay ông luật sư Nguyễn Tường Bá có thể lên tiếng xác nhận hay phủ nhận việc này hay không?

 

Trong khi đó lời khai của các bị can như Phan Khắc Sửu, Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Phúc Vĩnh Lợi th́ cho rằng chính Nhất Linh là người thảo truyền đơn của mặt trận từ 4 giờ chiều ngày 19 – 11 – 1960 và đưa ra chỉ thị cho các thuộc hạ tổ chức rải truyền đơn và biểu t́nh.

 

Lại một lần nữa khai man đổ tội cho đồng chí của ḿnh. Lần này chính thức ông được thả ra.

 

Và v́ những lư do trên, lời yêu cầu của Nhất Linh với ông Lê Nguyên Phu xin đừng phải đối chất với các đồng chí của ông càng thêm sát sự thật.

 

Lời yêu cầu đó không được đáp ứng, Nguyễn Tường Tam t́m đến cái chết như một sự tự giải thoát?

 

Sau phần tŕnh bày này, tôi không nh́n thấy tư cách Nhất Linh trong vai tṛ lănh đạo chính trị cũng như dự kiến chính trị của ông là phải làm ǵ, làm thế nào.

 

Bệnh tật dẫn đưa đế vụ tự tử để lại chúc thư 71 chữ.

 

Về chứng bệnh tâm thần của Nhất Linh

 

Vào những thập niên 60, Y khoa của miền Nam về chứng bệnh tâm thầm mà theo một số bác sĩ cho biết là không có ǵ. Việc học ḥi, chẩn đoán cũng như chữa bệnh đều không đáng kể. Chẳng hạn như một tỉ dụ, vai tṛ của bán cầu phải hay trái, (hémisphère droit et gauche), vai tṛ của chất liquide céphalorachidien và chỉ cần một trục trặc nhỏ có thể thay đổi chức năng của hai bán cầu năo này. Chẳng hạn chỉ cần sự có mặt của một anti – corps như chất N – méthyl – D – acid – đủ làm đảo lộn chất liquide cephalorachidien rồi.. Nó làm tăng Globules blancs nơi bán cầu phía phải và bao nhiêu là biến chứng xảy ra tiếp theo.

 

Trích một bài viết của nữ kư giả Susannah Cahalan nhan dề: Le mois que la folie, trong số Sélection, thang tư, 2013.

 

Những test thường được xử dụng như: Résonnance magnétique, sonogaphies, radiographies, scanographies, tomographies và nhiều loại tests thử máu để t́m nguyên nhân bệnh c̣n chưa được áp dụng đầy đủ ở VN.

 

Nhưng nói cho cùng, suy nhược hay điên khùng cũng chĩ là chuyện của trời đất có thể xảy ra cho mọi người mà đáng nhẽ phải được coi là b́nh thường. Nhưng đối với dân chúng thời ấy th́ đó là những cấm kỵ. Người ta tránh né nói đến – Ai nói đến chứng bệnh tâm thần th́ động ḷng như một xúc phạm – . Và phải che đậy dấu kín. Và người ta chỉ xét cái bề ngoài qua những cử chỉ điệu bộ mà đưa ra những lời b́nh phẩm như: Người kỳ cục, không b́nh thường, người tàng tàng, dở người, nặng nữa là khùng, điên.

 

Về trường hợp Nhất Linh, tôi đă dẫn chứng nhiều người quen biêt và bạn thân của ông nói về t́nh trạng tâm thần của ông từ: Tú Mỡ, Hoàng Xuân Hăn, Nguyễn Tường Bách, Thế Uyên, Hiếu Chân, Nguyễn Tường Thiết, Nguyễn Ngu Ư, Trương Bảo Sơn, Nguyễn Vỹ nhất là Vũ Bằng để nói về t́nh trạng suy nhược tinh thần của ông.

 

Tôi trích dẫn người khác như môt nhân chứng thay v́ phê phán người phát biểu, họ lại nhằm vào tôi! Thật là buồn cười.

 

Nhưng những người quư mến ông và như Nguyễn Tường Thiết sau này dám phủ nhận tất cả những nhận xét trung thực của các nhân chứng trên…

 

Tuy nhiên, sau này được biết có luận án của bác sĩ Mạc Văn Phước (đă quá văng) mà hiện nay, tôi được gia đ́nh – qua trung gian bs ĐNT, cho mượn bản chính của luận án. Luận án tŕnh bày nguyên nhân cái chết của bốn văn nhân là Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và Nguyễn Tường Tam, được đệ tŕnh công khai ngày 20 tháng 7 năm 1968.

 

Trong một đoạn rất quan trọng mà theo tôi nó có thể làm lu mờ về ư nghĩa việc tự tử của Nhất Linh, đồng thời biến chúc thư trở thành một tờ giấy giả mạo. Sau đây là nội dung được ghi như sau trong luận án:

 

Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm Nhất Linh có bịnh thần kinh suy nhược (Neurasthénie). Ông đă bị ám ảnh tự sát (Obsession par le suiccide). Mấy tháng trước, cũng theo b.s Phiếm, Nhất Linh đă uống thuốc ngủ tự tử khi ông trốn ở đường Lê Thánh Tôn. Chính b.s Phiếm chữa chạy, rửa dạ dầy, chích thuốc Strychnine. Số lượng thuốc ngủ hồi ấy v́ ít nên ông b́nh phục ngay và vài hôm sau ông lại đi họp Hội Văn Bút!

 

Nói tóm lại, Nhất Linh đă bị tinh thần suy nhược, chúng tôi không dám phê b́nh tính cách tranh đấu tiêu cực của ông (Theo b.s Phiếm, ông bị ảnh hưởng sâu xa của cái chết của Thích Quảng Đức). Nhưng đứng về phương diện y học, th́ tự tử với tính cách tiêu cực của nó chứng tỏ là Nhất Linh đă bị khủng hoảng tinh thần.

 

Bác sĩ Mạc Văn Phước, Bệnh tật vá cái chết của Nhất Linh, trang 51

 

Mặc dầu ông Nguyễn Tường Thiết phủ nhận thông tin này viện cớ rằng gia đ́nh không hay biết, con gái bác sĩ Phiếm cũng không nghe cha kể…

 

Nhưng chúng ta cần nh́n nhận là việc viết lại câu truyện tự tử này trong luận án tŕnh bày trước các giáo sư giám khảo không thể là chuyện viết không bằng chứng…

 

Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm là người thân cận với ông Nhất Linh không có lư do ǵ lại có thể bịa ra chuyện tự tử lần thứ nhất. Chuyện ông dấu kín mọi người, ngay cả con cái trong nhà hay gia đ́nh Nhất Linh cũng là chuyện bỉnh thường và hiểu được.

 

Chuyện tự tử nào có hay ho ǵ, càng dấu kín được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

 

Nhưng ông bs Phiếm lại có đủ tư cách – ngay cả ở phạm vi đức lư hay chuyên môn của nghề thầy thuốc – tiết lộ cho đồng nghiệp hay học tṛ là bác sĩ Phước nghe câu chuyện tự tử này và c̣n rạch ṛi chi tiết kể đă chữa trị cứu sống ông Nhất Linh bằng thuốc ǵ v.v…

 

Bác sĩ Phước càng không có lư do ǵ dám bịa ra câu chuyện quan trọng như thế này. Ông nghe các đàn anh, các thầy nói sao th́ ghi lại.

 

Chưa kể Nhất Linh là người nghiện rượu nặng mà theo nghiên cứu của bác sĩ Carol Ann Paul ở đại học Boston, 2008 cho hay những người nghiện rượu nặng th́ năo bộ thun nhỏ lại 2% trong 10 năm và rượu là dấu hiệu của sự suy tàn về năo bộ. (déclin). Đặc biệt là suy yếu về khả năng nhận thức.(Facultés cognitives) và có thể là t́nh trạng điên rồ (démence).

 

Và để củng cố thêm một dư luận nữa về việc tự tử của Nhất Linh, tôi xin đực phép trích nguyên văn lá thư của luật sư Hà, bạn đồng nghiệp tập sự với luật sư Nguyễn Tường Bá tại văn pḥng luật sư Vương Văn Bắc vào năm 1974… Và xin để tùy luật sư Nguyễn Tường Bá quyền được trả lời lá thư sau đây của luật sư Hà.

 

Vào đầu tháng 6 năm 1974, anh ls Nguyễn Tường Bá tới văn pḥng Luât sư Vương văn Bắc, Lê Sĩ Giai Đăng Như Kỳ, nơi chúng tôi làm việc, khoảng 10giờ 30 sáng đưa ra 1 sấp ảnh chụp cảnh đám tang nhà văn Nhất Linh rất đông người tham dự khoảng trên dưới một ngàn người theo nhận xét của tôi lúc bấy giới, có các luật sư đồng nghiệp tới xem như ls Hầu thi Đông, Trân tn Lan.

 

Trong lúc đang xem, anh ls Bá đột nhiên nói: anh nói thật với Hà, Nhất Linh bị bệnh phải chết thôi nhưng Nhất Linh tự tử v́ muốn cái chết đi vào lịch sử thôi! Câu nói này tôi ghi nhớ măi và theo đuổi tôi tới một ngày tôi gặp anh Nguyễn Đông Ngạc, tại một nhà hàng Tràng An, nằm trên đường St – Denist, TP Montreal.

 

Ăn xong tô phở tối chợt thấy anh Nhạc đang ăn với một người bạn ngồi tại một bàn ăn ngay cạnh cửa kính nh́n ra đường. Tôi tiến lại gần và hỏi: chào anh Ngạc, tôi quen thân với anh ls Nguyễn Tường Bá cùng làm việc tại VPLS ở VN. Tôi nghe nói anh là bà con thân thuộc với nhà văn Nhất Linh?

 

Đúng! anh Ngạc trả lời, vậy xin hỏi anh một câu nói của anh ls Bá nói với tôi trước đây ở VN là: Nhất Linh bị bệnh phải chết nhưng ông tự tử v́ muốn cái chết đi vào lịch sử.

 

Vừa nghe xong, lập tức anh trả lời một câu ngắn gọn cụt lủn: đúng! nhưng v́ đại nghĩa dân tộc! như vậy là tricher! tôi đáp trả lại câu trả lời của anh rồi cùng người bạn ls Martin Levesque ra về. Vài tháng sau nghe anh Ngạc ra đi về cơi Phật.

 

Đó là sự thật chính tôi nghe trực diện từ anh ls Bá và xác quyết sau này của anh Ngạc như đă tŕnh bày ở trên.

 

Khi viết những ḍng này, tôi thấy ḿnh nhẹ nhơm như trút bỏ đi được một cái ǵ đó bám chặt ḿnh suốt mấy chục năm. Phải nói thêm, anh ls Bá là người dễ mến thân thiện, không muốn mất ḷng ai. Riêng tôi rât thân với anh khi anh c̣n định cư ở Montreal. Nhiều tuần, nhiều ngày, rất thường anh ghé thăm và ở lại với chúng tôi và đôi khi anh c̣n giúp chúng tôi coi bé Caty Nguyễn, nay là luật sư, khi tôi theo học luật tại Đại học Luật Montreal.

 

Vài hàng để anh nắm rơ sự việc này mà tôi giữ kín từ lâu nay.

 

Chào anh Lục

 

Chúng ta có cần nói thêm ǵ nữa không? Ai là người có thể cái gánh nặng lịch sử về cái chết tự tử của Nhất Linh. Và bào chữa cho ông bằng cách nào?

 

Xin hẹn độc giả một kỳ báo chót nữa nói về cái chết của ông Trần Huy Thánh, hay Trần Văn An, phụ tá thân cận của cụ Cường Để, bị giết tại Quảng Châu. Và cái chết này có liên quan trực tiếp đến Nguyễn Tường Tam – một người thân Nhật và một người thuộc phe Quốc Dân Đảng. Tài liệu phần lớn do các học giả người Nhật viết lại!!

 

PGM sưu tầm

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính