Từ nón cối Bùi Tín đến nón cối ngoé Điếu Cày

 

Nguyễn Thế Khiết

 

 

Một ngày mưa phùn năm 1974, tôi che ô cầm bản báo cáo định kỳ đi bộ đến một trụ sở gần văn pḥng để trao cho một anh chàng người Mỹ.

 

Mỗi tháng, tôi gặp anh chàng Mỹ này một lần, và mỗi lần kéo dài từ năm phút đến nửa tiếng đồng hồ. Chúng tôi chỉ nói về công việc, và ngoài những lời chào hỏi và chúc tụng nhau th́ không bao giờ nói đùa hoặc nói chuyện trời mây. Vậy nên tôi chẳng biết cái anh chàng này vui tính hay là nghiêm khắc thế nào. Tôi cũng không bao giờ nói tiếng Việt với anh ta nên không rơ anh chàng nói tiếng Việt giỏi đến đâu. Có điều, anh chàng này chỉ nghe tôi nói chuyện với mấy anh chàng thông dịch viên làm việc cùng sở với anh ta mà nhận ra tôi là dân Bắc Kỳ di cư 1954. Vậy nên mới có chuyện.

 

Lần đó, tôi trao bản báo cáo cho anh ta xong, đang định bước ra th́ anh chàng gọi lại, bảo đứng chờ một chút. Sau đó, anh ta đem ra cho tôi xem một tấm h́nh và hỏi rằng tôi có bà con với người trong h́nh hay là không.

 

Tôi cầm tấm h́nh lên xem th́ thấy trong đó là một sĩ quan Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt. Bên dưới tấm h́nh, một ai đó đă viết mấy chữ bằng bút lông màu đen, ‘Colonel Bui Tin of the NVA’. Theo cuốn cẩm nang chuyển ngữ Việt – Pháp – Anh mà MACV đưa cho chúng tôi trước đó th́ người Mỹ dùng chữ colonel để chỉ thượng tá, và senior colonel để chỉ đại tá của quân đội Bắc Việt.

 

Tôi không rơ anh chàng Mỹ hỏi thật hay hỏi chơi, hay là hỏi móc họng, nhưng vẫn trả lời theo sự thật là tôi không có bà con, và không biết nhân vật trong h́nh. Anh ta cười cười, nói rằng tưởng tôi có bà con với Bùi Tín th́ nhờ tôi một việc. Tôi chào anh ta rồi ra về.

 

Vừa về đến văn pḥng, tôi vào hỏi ông sếp của tôi ngay, ‘Ḿnh có tài liệu về Thượng Tá Bùi Tín không, trung tá?’

 

Ông sếp của tôi vừa tiếp tục đọc một văn bản ǵ đó, vừa nói với tôi thay cho câu trả lời, ‘Để tao biểu tụi nó đem sang cho. Mày qua đó hỏi, tụi nó không đưa đâu’.

Tập tài liệu mà người ta đem sang cho chúng tôi mượn trưa hôm đó khá đầy đủ. Tôi xem lướt qua th́ thấy có nói về Phùng Văn Cung, Trịnh Đ́nh Thảo, Nguyễn Thị B́nh. Tôi thấy có nói cả về Đại Tá Vơ Đông Giang và Đại Tá Hà Văn Lâu nhưng tôi cũng đă biết qua hai tay này nên mở xem đoạn nói về Bùi Tín. Tôi rất chú ư đến đoạn sau đây.

 

Ngay sau khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ th́ Hà Nội phái Bùi Tín vào Nam. Nhiệm vụ của Bùi Tín là nghiên cứu t́nh h́nh cả hai bên để chuẩn bị cho kế hoạch đem quân từ Bắc vào Nam, càng sớm càng tốt. Bùi Tín có mặt tại miền Nam vào lúc mà Tướng Nguyễn Khánh cùng Đại Tá Nguyễn Chánh Thi làm chỉnh lư.

 

Tháng Tư 1964, Bùi Tín về đến Hà Nội. Trong báo cáo, Bùi Tín chê hàng ngũ lănh đạo của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và chê cả việc tổ chức. Bản báo cáo của Bùi Tín rất quan trọng đối với cuộc diện chiến tranh tại miền Nam lúc đó v́ nó giúp Hà Nội lên kế hoạch phù hợp với t́nh h́nh hơn.

 

Sau này, khi nghe tin Bùi Tín bỏ ngũ, ở luôn tại hải ngoại, tôi cũng chú ư. Tuy nhiên, sau khi để ư thấy ông ta trả lời các cuộc phỏng vấn th́ tôi thấy không khá rồi. Khoảng năm 1993(?), người ta có tổ chức một buổi nói chuyện cho Bùi Tín tại một nhà hàng gần nhà. Tôi quyết định không tham dự, mặc dù có mấy người đến tận nhà kéo đi.

 

Sau đó, một bạn thân có mặt trong buổi nói chuyện này kể lại cho tôi nghe như sau. Có một người nói rằng trưa ngày 30 tháng Tư 1975 tại Dinh Độc Lập, Dương Văn Minh có nói với đám sĩ quan Bắc Việt rằng “Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao” và Bùi Tín nói rằng “Các ông không có ǵ để bàn giao cả, đầu hàng đi thôi.” Người này hỏi Bùi Tín rằng điều đó đúng hay không và Bùi Tín xác nhận rằng chính ông ta nói với Dương Văn Minh gần như nguyên văn như thế.

 

Nghe vậy, tôi khinh bỉ Bùi Tín ngay. Tôi được biết rất rơ là vào thời điểm đó, Bùi Tín là phó ban biên tập của tờ Quân Đội Nhân Dân chứ không c̣n chỉ huy bất cứ một đơn vị nào trong quân đội. Khi toán chiến xa T54 vào đến Dinh Độc Lập, Bùi Tín và đám phóng viên chiến trường c̣n ở Củ Chi. Bùi Tín chỉ vào đến Dinh Độc Lập sau khi Dương Văn Minh đă từ đài phát tranh trở về đó. Tôi thấy Bùi Tín không phải là người lương thiện.

 

Năm 1999, Giáo Sư Tôn Thất Thiện có đến Melbourne. Một tối nọ, Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu gọi tôi lên nhà gặp Giáo Sư Thiện. Ngoài tôi ra th́ c̣n có hai anh nữa cũng làm việc trong ngành truyền thông. Tôi có hỏi GS Thiện về Bùi Tín và được ông kể cho nghe chuyện xưa có liên quan đến ông và Cù Huy Cận, Bùi Tín.

 

Sau hết, GS Thiện tâm sự với chúng tôi như sau. Bùi Tín có liên lạc với ông, muốn gặp ông nói chuyện trong chỗ bạn bè với nhau. Ông đă trả lời Bùi Tín rằng “Anh ca tụng Hồ Chí Minh, c̣n tôi th́ chống cộng, bạn bè sao được, gặp nhau làm ǵ?”

 

Kể từ đó, Bùi Tín nói ǵ, làm ǵ, chửi ai, ca tụng những ai, tôi không đề ư đến nữa. Bên cạnh đó, ai ca tụng Bùi Tín, bênh vực Bùi Tín th́ hết đối thoại được với tôi.

 

Bây giờ đến nhân vật thứ hai, Dương Thu Hương.

 

Trong cuốn Tiểu Thuyết Vô Đề, Thị Hương viết rằng biệt kích quân Việt Nam Cộng Hoà hăm hiếp nữ bộ đội, cắt cả nhũ hoa và âm hộ đem đi. Đây là một sự vu khống trắng trợn.  Thị Hương quả là bất lương vô liêm sỉ.

 

Cũng trong thời gian đó, Thị Hương ăn mặc hở hang, cùng Bác Sĩ Bùi Duy Tâm nằm ôm nhau ngoài bờ hồ bị Tướng Công An Dương Thông sai đàn em bắt về trụ sở. Ít lâu sau, Tâm từ Hoa Kỳ viết thư về báo cho Thị Hương rằng ḿnh sắp làm tổng thống. Thị Hương cả mừng, viết cho Tâm rằng “Anh làm tổng thống th́ em sẽ là đệ nhất phu nhân.” Thị Hương quả là một đứa trắc nết.

 

Ấy vậy và có cả hàng hàng lớp lớp những người say sưa ca tụng Dương Thu Hương. Những kẻ này quay lại chửi những người quốc gia không chịu ca tụng Thị Hương như bọn họ. Tôi th́ bị họ phán rằng không đáng xách dép cho Thị Hương.

 

Bây giờ đến vụ thứ ba.

 

Năm 1998, có một phái đoàn của Quốc Hội Úc đi Việt Nam mà một trong những mục đích chính là t́m hiểu về t́nh trạng nhân quyền tại đây. Được tin này, ban chấp hành của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria có hỏi tôi rằng ai là trưởng phái đoàn, và nếu tôi có quen biết th́ họ nhờ vị này một việc.

 

Tôi vừa trả lời vừa giải thích với họ như sau. Không nên nhờ vả vị trưởng phái đoàn, bởi v́ vị này ở trong cương vị không thể chất vấn bên chính phủ Việt Nam. Tôi biết rằng khi hai bên ngồi đối thoại với nhau th́ bất cứ một ai trong phái đoàn của Úc cũng có quyền nêu câu hỏ, đặt vấn đề. V́ thế nên tôi đề nghị họ rằng hăy nhờ một thành viên trong phái đoàn mà tôi quen thân là nữ Thượng Nghị Sĩ Lynn Allison. Họ đồng ư như vậy.

 

Vài ngày sau, tôi chở một vị đại diện cộng đồng đến gặp cô Allison. Hai người nói chuyện với nhau khoảng 40 phút, tôi ngồi ở ngoài uống trà xem TV, không rơ họ bàn bạc những ǵ. Tôi không rơ vị này được cử làm đại diện cộng đồng gặp cô Allison là v́ vai vế, v́ ông ta biết tiếng Anh, hay là v́ ông là một cán bộ nặng kư của Mặt Trận, hoặc là cả ba.

 

Hai ngày trước khi đi Việt Nam, cô Allison gọi tôi lên. Cô này đưa cho tôi xem một danh sách những người c̣n ở Việt Nam “cần được phái đoàn quan tâm đặc biệt”. Tôi không biết danh sách này cô ta nhận từ ai, lúc nào, nhưng cô có giải thích rằng “Vietnamese Community” đưa cho cô. Tôi xem qua danh sách, thấy Tiêu Dao Bảo Cự nằm trên cùng.

 

Nếu tôi nhớ không lầm th́ dưới nền Đệ Nhị Cộng Hoà, Bảo Cự là giáo sư dạy Quốc Văn trung học Đệ Nhị Cấp. Chúng tôi có được cho biết về hành tung nối giáo cho giặc của y ta. Vậy nên tôi nói với Allison về con người Bảo Cự như thế, và góp ư rằng tên này không xứng đáng để được phái đoàn tận t́nh giúp đỡ.

Cho đến nay, tôi vẫn tin rằng cái danh sách đó là do Mặt Trận, tiền thân của Việt Tân, đẻ ra. Tôi tin như thế là có những tù nhân lương tâm nổi danh nhưng không được cảm t́nh của bọn này đă không có tên trong danh sách.

 

Rồi c̣n nhiều vụ sau đó nữa, như Trần  Khải Thanh Thuỷ, như Cù Huy Hà Vũ, như Điếu Cày. Qua những vụ này, chúng ta thấy rằng những kẻ từ đầu đă ca tụng Bùi Tín, Thị Hương cũng đều tận t́nh tham gia trên các diễn đàn. Bọn họ chửi bới thậm tệ những ai thuộc thành phần quốc gia mà không vỗ tay tán dương bọn người kia cùng với họ. Chúng ta xem lại th́ thấy cũng chính đám người này hết sức ca tụng Nguyễn Đạc Thành và thứ trưởng áo thun Sơn đă kính cẩn dâng hương có đính kèm nước mắt cá sấu.

 

Chúng ta có thể thấy bọn họ bất chấp lẽ phải, mà chỉ chờ chúng ta lên tiếng là xúm vào chửi rủa những ai chống cộng kiên tŕ, như có đứa nào đạo diễn phía sau. Cứ xem ngôn từ của bọn chúng, văn phong của bọn chúng th́ đủ biết chúng nó ở đâu chui ra, được những ai chỉ bảo.

 

Theo dơi những sự việc như thế, cá nhân tôi đủ để tự kết luận cho riêng ḿnh và v́ thế, xin thưa với những đứa ném đá giấu tay đó như sau.

 

Năm 1996, có một buổi văn nghệ tuyển dụng tài năng trẻ. Đồng hương ủng hộ rất nhiều, thậm chí có nhiều người sẵn sàng biếu tiền, không cần vé vào cửa v́ đă hết chỗ. Bên cạnh đó, chi phí chẳng là bao v́ nhiều người bảo trợ. Khách quan mà nói, tiền lời có khiêm nhượng lắm cũng được trên 12 ngàn đô-la. Thế mà ban tổ chức tuyên bố là lỗ nặng. Tại sao? Tại v́ cái thằng cầm tiền nói rằng làm mất hết rồi(!!!).

 

Năm 1998 và 1999, hội chợ Tết của cộng đồng đều lỗ nặng, trong khi mọi năm đều lời khá bộn. Tại sao?

 

Cũng trong hai năm này, tiền trả các hoá đơn điện thoại của cộng đồng quá nhiều, mà toàn là gọi đi Hoa Kỳ và Pháp, ngoài giờ làm việc. Tại sao?

 

Tôi mà trả lời th́ sẽ có nhiều đứa tan nát gia đ́nh. Tôi biết những đứa này là ai, đă từng làm những ǵ, mà nhiệm vụ là phải làm thêm những ǵ. Vậy nên những ḍng cuối cùng này tôi dành cho chúng nó.

 

Các người không thể bịp được đồng hương măi măi. Những vùng mà các ông tự khoe bịp là có "căn cứ, có quân", tôi đă ghé qua gần hết. Tôi đă từng vào trại Sikhiw để thăm một số anh em thoát khỏi nanh vuốt các ông vào ẩn thân trong đó. Tôi không rơ những anh đó bây giờ ở đâu, nhưng tôi biết rất rơ là họ hận các ông lắm. Bởi v́ tội ác của các ông nhiều lắm...

 

Nguyễn Thế Khiết

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính