ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA

 

 Nguyễn Nhơn



Đây không phải là Đại Cách mạng Văn hóa Mao xếnh xáng , bước tiến nhảy vọt chệt 1967. Đây là nói về cuộc Cách mạng sáng chói của nước Nga 1989 làm sụp đổ cả Đế quốc Nga xô viết và khối cọng sản Đông Âu.

 
Trước nay, bàn về nguyên do sụp đổ của Liên xô, người ta thường viện dẫn lư do suy thoái kinh tế, về chi phí chiến tranh Afghanistan và về sau học giả Brzezinski c̣n lưu ư về yếu tố thanh niên Nga không biết sợ cọng sản như thế hệ cha anh nên đứng lên lật đổ chế độ Xô viết Nga.

 
Mới đây, bạn gởi cho bài viết cũ của Leon Aron, Foreign Policy ( Bản dịch Hồ Ngọc Cư ) đưa ra một quan điểm khác hẳn về nguyên do thực tế của cuộc cách mạng Nga 1989.

 
Về nguyên do kinh tế, tác giả luận giải:

Không có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô h́nh dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này c̣n kéo dài cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng, nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 — một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được (manageable).”

 
Về chiến phí Afghanistan, tác giả nhận xét:

Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy tŕ một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.”

 
Câu hỏi đặt ra là, trong t́nh h́nh kinh tế, tài chánh tương đối ổn định như vậy, tại sao Liên xô bỗng nhiên sụp đổ mà cả giới học giả Nga lẫn các nhà nghiên cứu quốc tế đều bị bất ngờ, không tiên liệu được?


Theo tác giả có một lư do có thể nhận thấy là:

 “ Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) — tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết.”

 
Vậy th́ nguyên do đích thật của cuộc cách mạng Nga 1989 là ǵ?

 

Ngày nay, sau khi nghiên cứu lại các dữ kiện lịch sử, tác giả nhận thấy nhiều phát biểu của các nhân vật có tham dự vào tiến tŕnh ấy, từ Gorbachev,  Aleksandr Jakovlev, ngoại trưởng Eduard Shevardnadze...đều chú trọng vào t́nh cảnh phi đạo lư, dối trá và khủng bố của thời kỳ chế độ Xít ta lin nít đưa tới t́nh trạng xă hội tồi tệ không c̣n chịu đưng được như lời phát biểu của ngoại trưởng Shevardnadze:

Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém v́ t́nh trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đă nói với Gorbachev vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đă thối nát. Phải thay đổi thôi”.

 

Và chính Gorbachev đă kết luận:

Mô h́nh Xô-viết không những bị đánh bại trên b́nh diện kinh tế và xă hội; nó bị đánh bại ngay trên b́nh diện văn hóa. Xă hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đă bác bỏ mô h́nh ấy trên b́nh diện văn hóa v́ nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.”

 

Về phía giới trí thức Nga, tác giả viết:

 “ Những người đă gieo vào xă hội “chuyển biến ngoạn mục về ư thức” không ai khác hơn là những kẻ đă từng châm ng̣i cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ.

 

Cuối cùng, từ các tác động kể trên, tâm thức người dân Nga chuyển biến như tác giả Aron nhận xét:

Đối với họ, việc phục sinh đạo lư là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xă hội (social norms), mà c̣n là một cuộc cách mạng trên b́nh diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách của người dân Nga.

 
Và như vậy, cuộc cách mạng Nga 1989 lừng lẩy khởi phát, giống y như những cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập sau nầy.

 

  • TRÔNG NGƯỜI LẠI NGẨM ĐẾN TA

 
Trích dẫn đôi hồi về cuộc cách mạng Nga từ hai mươi mấy năm về trước để chiếu rọi vào t́nh cảnh nước nhà hiện nay.

 
Nhớ hồi năm 1994, khi Mỹ băi bỏ cấm vận, thiết lập bang giao với csvn, chừng đôi ba chục đồng bào tị nạn cọng sản ở thành phố San Jose, dưới sự điều động của Ban Đại diện cộng đồng đầu tiên dược bầu lên, tụ tập trước trụ sở Liên Bang trên Đường 1 biểu t́nh phản dối băi bỏ cấm vận, lập bang giao với vc.
V́ mục tiêu biểu t́nh thuộc về chánh sách của chánh phủ Liên bang nên đồng bào Tỵ Nạn Cộng sản ít chú ư nên cuộc biểu t́nh mới có ít người tham dự như vậy!
 
Trước t́nh cảnh ấy, các người làm chánh trị cơ hội mới toan tính bắt tay với vc thỏa hiệp chia chác quyền lực, nói thác là chống cộng bằng cách khác để né đ̣n.


Chẳng ngờ rằng bị công luận phát hiện, lật tẩy, chống đối mạnh mẻ: Các cuộc mưu toan đối thoại , thỏa hiệp với vc đều bị đồng bào biểu t́nh phản đối dữ dội.

 
V́ vậy mà những người Ḥa hợp, ḥa giải, đối thoại với vc mới hô hoán là “ chống cộng cực đoan, quá khích “, thậm chí “ độc quyền chống cộng. “

 
Người chống cộng mới phản bác rằng: Đối thoại, thỏa hiệp với vc chẳng những không phải là chống cộng mà c̣n là Chống - chống cộng ( Anti – anti – communism ) như thuật ngữ kể trên:

 “ Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) — tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết.”

 
Ngày nay sự thể vẫn c̣n y như vậy:

 
Các quư ông làm chánh trị cù cưa vẫn cứ kiến nghị, thỉnh nguyện xin “ đảng “ cho cải sửa, tức Xin - Cho! Rấn lên mức nữa là: “ Phản biện trong phạm vi cơ chế .” Gần đây là Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh và xây dựng xă hội dân sự và vân vân...Họ hành xử như vậy v́ họ nghĩ rằng chế độ toàn trị cọng sản vững vàng không thể lay chuyển được nên chỉ c̣n con đường cải lương, hợp tác với cs sửa đổi lần hồi, viện cớ là tránh làm cách mạng “ gây đổ máu, tàn phá!”
 
Nói về đổ máu th́ như vầy: Theo blogger Hùynh Ngọc Chênh, hàng năm có 35,000 người chết v́ tai nạn giao thông. Con số thương tật th́ gấp đôi gấp ba. Dưới nền y tế xă nghĩa ta, khi bệnh nhân 4 gười nằm một giường, có khi nằm tràn ra cả hành lang th́ bị thương tật, sống không bằng chết. Cho nên cứ tính đổ đồng hàng năm có 100 ngàn thương vong v́ tai nạn giao thông.
 
Cuộc chiến chống độc tài Assad, Syria hơn hai năm nay có 100,000 người mất mạng. So với con số ấy th́ người Việt Nam chết v́ tai nạn giao thông dưới sự cai trị “ chết sống mặc bây, tiền thầy bỏ túi “ của bọn cs An nam nhiều hơn số người Syria chết v́ chiến đấu chống độc tài Assad gấp hai lần!

 
Cựu vc nằm vùng Lê Hiếu Đằng nói rằng: Xin đảng cho nó ra Dân chủ – xă hội đối lập công khai th́ “đảng” vẫn cứ “ khống chế “ nền chánh trường VN 30 năm nữa. Như vậy th́ con số người chết v́ giao thông đến lúc ấy lên tới 3 triệu là già nửa tổng số người chết trong Chiếnh Thế giới lần I là 5 triệu!

 
Bây giờ nói về tàn phá: Chắc chắn trong khi nổi dậy sẽ có việc đập phá cơ ngơi làm ăn của bọn tư bản đỏ, tức là đảng viên cs hoặc họ hàng cs. Đó là của ăn cướp trên mồ hôi nước mắt của người dân. Cho nên của đó đáng lẽ sau cách mạng sẽ phán xét trả về cho người dân th́ nếu có tổn hại ít nhiều th́ cũng do người dân chung chịu chớ chẳng phải của ông, của cha ǵ của cọng sản và đồng bọn.


Không ai dư nước mắt khóc thương của ăn cướp bị hư hại.

 
Huống chi ngày nay, t́nh thế Việt Nam c̣n tồi tệ hơn xă hội Liên xô ngày trước hàng trăm lần. Trí thức dù chấp nhận cách mạng hay không, người dân lâm vào cảnh đường cùng sẽ tự thân hành động:

 
Tiếng súng hoa cải Nhà họ Đoàn, Tiên Lăng nả thương 6 ưng Khuyển côn an, bộ đội chống cưỡng chế cào nhà, cướp đầm vườn.


Hào kiệt Đặng Ngọc Viết, Thái B́nh v́ dân trừ bạo, v́ nghĩa vong thân!


Tiếng bom chai Molotov, plastic cảnh cáo cường quyền tiếp tục nỗ vang.

 
Đó là chỉ dấu tiền cách mạng Dân tộc: Khi người dân thức tỉnh, nhận thức truyền thống nhân nghĩa của tổ tiên bị sói lang cọng sản mà hủy hoại, sẽ vùng lên đ̣i lại đạo lư và nhân phẩm cũng giống như dân tộc Nga và Ả Rập thực hiện: Đại Cách mạng VĂN HÓA – DÂN TỘC.

 

  • Sấm trạng

 

"Hùm gầm khắp nẻo gần xa

Mèo kêu rợn tiếng quỉ ma tơi bời

Rồng bay năm vẻ sáng ngời

Rắn qua sửa soạn hết đời sa-tăng

Ngựa lồng quỉ mới nhăn răng

Cha con ḍng họ thầy tăng hết thời

Chín con rồng lộn khắp nơi ”

 
Giáp ngọ là năm 2014

Hẹn nhau Saigon 2015

 

Nguyễn Nhơn

 

*
*       *


Tài liệu tham khảo

 

Một biến cố lạ lùng đáng kinh ngạc.

 

MỌI ĐIỀU BẠN TƯỞNG BIẾT VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ LÀ SAI LẦM.


Và v́ sao việc này trở nên quan trọng trong một thời đại cách mạng như hiện nay?

 

Leon Aron, Foreign Policy

Trần Ngọc Cư dịch 

                                                                                     
Mọi cuộc cách mạng đều tạo ra kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần đây nhất phải được kể là một trong những kinh ngạc lớn nhất. Trong những năm trước 1991, gần như không một chuyên gia, học giả, viên chức chính quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy trước được sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài độc đảng, một nền kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm Linh đối với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả những nhà bất đồng chính kiến Xô viết cũng như chính những nhà cách mạng tương lai — nếu ta xét qua hồi kư của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng Ba năm 1985, không một nhân vật đồng thời nào của ông dự kiến một cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ư nhau về tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô Viết, nhưng không ai coi những vấn đề này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ, chí ít trong tương lai gần.


Vậy, do đâu mà có sự thiển cận đều khắp lạ lùng đến thế? Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) — tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết.


 Tuy nhiên, một số nhân vật khác vốn không được coi là mềm dẻo đối với chế độ cộng sản cũng không kém kinh ngạc trước sự cáo chung của chế độ này. Một trong những người thiết kế chiến lược Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh, ông George Kennan, viết rằng, trong khi nh́n lại toàn bộ “lịch sử các sự vụ quốc tế trong thời hiện đại”, ông nhận thấy rằng “thật khó nghĩ ra một biến cố nào lạ lùng, đáng kinh ngạc, và mới thoạt nh́n không thể giải thích nỗi, hơn sự tan biến đột ngột và toàn bộ…của đại cường mệnh danh kế tục nhau là Đế quốc Nga rồi đến Liên Xô”. Richard Pipes, có lẽ là sử gia Mỹ hàng đầu về nước Nga và cũng là một cố vấn của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, cho rằng cuộc cách mạng gần đây của Nga là “bất ngờ”. Một tuyển tập gồm các bài tiểu luận viết về sự cáo chung của Liên Xô trong một số báo đặc biệt năm 1993 của tạp chí bảo thủ National Interest (Lợi ích Quốc gia) có tựa đề là “Cái chết lạ lùng của chủ nghĩa Cộng sản Xô viết”.


Nếu có thể hiểu được dễ dàng hơn, th́ sự thiếu phán đoán mang tính tập thể này có thể đă được an toàn xếp vào một hồ sơ trí tuệ gồm những điều kỳ lạ và phù phiếm của khoa học xă hội rồi bị lăng quên. Tuy nhiên, thậm chí ngày nay, với khoảng cách 20 năm, giả thuyết cho rằng Liên Xô vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong t́nh trạng lúc đó hay bất quá cuối cùng nó sẽ bắt đầu một cuộc suy tàn kéo dài khá lâu, có vẻ là một kết luận không kém phần hợp lư. 


Thật vậy, vào năm 1985 Liên Xô gần như vẫn có đủ nguồn lực thiên nhiên và nhân sự của 10 năm về trước. Chắc chắn là, mức sống tại đây c̣n thấp hơn tại Đông Âu khá xa, nói chi đến phương Tây. T́nh trạng thiếu hụt hàng hoá, hạn chế lương thực, những hàng người dài trước các quầy hàng, và nạn nghèo khổ khắc nghiệt diễn ra đều khắp xă hội. Nhưng Liên Xô đă từng trải qua nhiều đại họa to lớn hơn thế và đă có thể đối phó mà không hề mất một mảy may quyền kiểm soát của nhà nước đối với xă hội và nền kinh tế, lại càng không hề từ bỏ quyền lực này.


Không có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô h́nh dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này c̣n kéo dài cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng, nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 — một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được (manageable).

 
Giá dầu lửa rơi cực nhanh, từ 66 đôla một thùng năm 1980 xuống 20 đôla một thùng năm 1986 (trong số 2000 giá cả) chắc chắn là một đ̣n nặng nề đánh vào tài chính Xô-viết. Tuy vậy, nếu điều chỉnh theo nạn lạm phát, th́ vào năm 1985 giá dầu lửa trên thị trường thế giới vẫn cao hơn năm 1972, và chỉ thấp hơn toàn thập niên 1970 một phần ba mà thôi. Nhưng đồng thời, mức thu nhập của người dân Xô viết gia tăng hơn 2% vào năm 1985, và sau khi điều chỉnh lạm phát, đồng lương của họ c̣n tiếp tục gia tăng trong 5 năm liền cho đến hết năm 1990 ở mức độ trung b́nh trên 7% mỗi năm.


Vâng, t́nh trạng đ́nh đốn kinh tế của Liên Xô là hiển nhiên và đáng lo ngại. Nhưng như giáo sư Đại học Wesleyan, ông Peter Rutland, đă chỉ rơ, “Dẫu sao, những chứng bệnh kinh niên của Liên Xô không nhất thiết đe dọa sinh mệnh của nước này”. Ngay cả nhà nghiên cứu hàng đầu về các nguyên nhân kinh tế của cuộc cách mạng này, ông Anders Aslund, cũng ghi nhận rằng từ năm 1985 đến năm 1987, t́nh h́nh “là không mảy may sôi động”.


Từ quan điểm của chính quyền, t́nh h́nh chính trị lúc bấy giờ thậm chí ít đáng lo ngại hơn trước. Sau 20 năm liên tục đàn áp đối lập chính trị, gần như tất cả những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng đă bị cầm tù, lưu đày (như trường hợp Andrei Sakharov từ năm 1980), buộc phải ra sống ở nước ngoài, hay chết trong các trại cải tạo và nhà giam.


Cũng gần như không có bất cứ một dấu hiệu nào khác báo trước một cuộc khủng hoảng tiền cách mạng (pre-revolutionary crisis), kể cả một nguyên nhân truyền thống thường được coi là có thể dẫn đến sự suy sụp của một quốc gia – đó là sức ép từ bên ngoài. Trái lại, thập niên trước đó được các học giả đánh giá đúng đắn là thời kỳ Liên Xô “đă thực hiện được tất cả những tham vọng quân sự và ngoại giao quan trọng”, như nhà sử học và ngoại giao Mỹ, ông Stephen Sestanovich, đă viết. Tất nhiên, lúc bấy giờ Afghanistan ngày càng cỏ vẻ là một cuộc chiến lâu dài, nhưng đối với một quân lực gồm 5 triệu binh sĩ như của Liên Xô, sự thiệt hại tại đó là không đáng kể. Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy tŕ một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.


Hoa Kỳ cũng không phải là một lực tác động cho cuộc cách mạng. “Học thuyết Reagan” bao gồm nỗ lực chống lại và, nếu có thể, đảo ngược những bước tiến của Liên Xô trong Thế giới Thứ ba quả có tạo được sức ép chung quanh đế quốc này, ở những nơi như Afghanistan, Angola, Nicaragua, và Ethiopia. Tuy nhiên, những khó khăn của Liên Xô ở đó cũng chẳng có ǵ nghiêm trọng để trở thành một nguy cơ cho chế độ.


Trong một màn giáo đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang có tiềm năng gây ra nhiều tốn kém cho đối phương, Sáng kiến Pḥng thủ Chiến lược [hay lá chắn nguyên tử] do Reagan đưa ra thực sự có ư nghĩa  nghiêm trọng – nhưng đề xuất này không hề báo hiệu một sự thất bại quân sự cho Liên Xô, v́ Điện Cẩm Linh biết chắc rằng việc triển khai hữu hiệu hệ thống pḥng thủ không gian của Mỹ cũng mất vài thập kỷ nữa mới thực hiện được. Tương tự như thế, mặc dù cuộc nổi dậy chống cộng sản bất bạo động của công nhân Ba Lan là một t́nh h́nh rất bức xúc cho giới lănh đạo Xô viết, làm nổi bật sự mong manh của đế quốc của họ tại châu Âu, nhưng vào năm 1985 Phong trào Đoàn kết (Soliditary) tỏ ra đă kiệt lực. Liên Xô h́nh như thích nghi được với việc tung ra các “đợt b́nh định” đẩm máu cứ 12 năm một lần – Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Ba Lan năm 1980 — bất chấp dư luận thế giới.


Nói thế khác, đây là một Liên Xô đang ở trên đỉnh cao quyền lực và thanh thế toàn cầu của ḿnh, theo quan điểm của chính nó lẫn quan điểm của thế giới c̣n lại. Sau này, sử gia Adam Ulam đă nhận xét “Chúng ta thường quên rằng vào năm 1985, không một chính phủ của một quốc gia quan trọng nào tỏ ra có quyền lực vững chắc và có đường lối chính sách rơ ràng như chính quyền Liên bang Sô viết”.


Hẵn nhiên, có nhiều lư do thuộc về cơ chế — kinh tế, chính trị, xă hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ như nó đă sụp đổ; tuy nhiên, những lư do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào. Nghĩa là, làm sao trong một thời gian từ năm 1985 đến năm 1989, trong lúc không gặp phải những t́nh trạng tồi tệ gay gắt về kinh tế, chính trị, dân số, và các vấn đề cơ chế khác, mà nhà nước và hệ thống kinh tế Xô viết bỗng dưng bị một quần chúng đủ đông đảo coi là ô nhục, thiếu tính chính danh, và hết chịu nỗi để phải sụp đổ?


Gần như hầu hết mọi cuộc cách mạng hiện đại, cuộc cách mạng Nga gần đây nhất được khởi động bằng một tiến tŕnh tự do hóa khá do dự “từ trên xuống” – và lư do căn bản của nó vượt quá nhu cầu sửa sai nền kinh tế hoặc làm cho môi trường quốc tế tốt đẹp hơn. Cái cốt lỏi trong sáng kiến của Gorbachev là rất lư tưởng, đó là điều không thể chối căi: Ông muốn xây dựng một Liên Xô có đạo lư hơn.


V́ mặc dù chiêu bài đưa ra là cải thiện kinh tế, nhưng rơ ràng là Gorbachev và những người ủng hộ ông trước hết muốn sửa chữa những sai lầm đạo lư hơn là sai lầm kinh tế. Hầu hết những điều họ tuyên bố công khai trong những ngày đầu của chương tŕnh tái cơ cấu (perestroika), bây giờ nh́n lại, có vẻ chỉ là một cách biểu lộ nỗi khổ tâm của họ về sự suy đồi tinh thần và những hệ quả xói ṃn đạo lư của thời đại Xít-ta-lin. Đó là bước khởi đầu của một sự liều lĩnh đi t́m kiếm những câu trả lời cho các vấn nạn to lớn mà mọi cuộc cách mạng vĩ đại thường bắt đầu: Thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, hợp với nhân phẩm? Cái ǵ tạo ra một trật tự kinh tế và xă hội công chính? Một nhà nước chính danh và đàng hoàng là như thế nào? Quan hệ của một nhà nước ấy với xă hội dân sự phải như thế nào?


“Một không khí đạo lư mới mẻ đang thành h́nh trên đất nước ta”, Gorbachev đă nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, nơi ông tuyên bố rằng glasnost (chủ trương cởi mở) và tự do hóa sẽ làm nền tảng cho perestroika (chủ trương tái cơ cấu)  xă hội Xô-viết của ông. “Việc thẩm định lại các giá trị và xét lại chúng một cách sáng tạo đang được tiến thành”. Sau này, khi nhắc lại cảm tưởng của ông rằng “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”, ông gọi đó là “lập trường đạo lư” của ông.

 
Trong một bài phỏng vấn vào năm 1989, “người cha đỡ đầu của glasnost”, ông Aleksandr Yakovlev, nhớ lại rằng, vào lúc trở về Liên Xô sau 10 năm làm đại sứ tại Canada, ông cảm thấy đă đến lúc người dân phải tuyên bố, “Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta…Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đă sống trước đây — một cách nhục nhă, ngoài mức chịu đựng”.


Theo ư kiến của vị thủ tướng của Gorbachev, ông Nikolai Ryzhkov, “t́nh trạng đạo lư [nrastennoe] của xă hội vào năm 1985 là nét đặc trưng “hăi hùng nhất”:


[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm ḿnh trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đă diễn ra — từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.


Một thành viên khác trong nhóm thân cận sơ khởi và rất ít ỏi của Gorbachev gồm những nhân vật chủ trương tự do, Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém v́ t́nh trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đă nói với Gorbachev vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đă thối nát. Phải thay đổi thôi”.


Trở lại thập niên 1950, một vị tiền nhiệm của Gorbachev, ông Nikita Khrushchev, đă lần đầu thấy rơ sự mong manh của cái nền tảng của ngôi nhà mà Stalin đă xây lên trên sự khủng bố và dối trá. Nhưng thế hệ thứ năm này của giới lănh đạo Xô-viết cảm thấy tin tưởng hơn về sức bật của chế độ. Gorbachev và các đồng chí của ông tỏ ra tin tưởng rằng những điều đúng cũng là những điều có thể quản lư được dễ dàng về mặt chính trị (politically manageable). Gorbachev tuyên bố rằng chủ trương dân chủ hóa “không phải là một khẩu hiệu nhưng là tinh túy của perestroika”. Nhiều năm về sau, ông đă trả lời phỏng vấn như sau:

Mô h́nh Xô-viết không những bị đánh bại trên b́nh diện kinh tế và xă hội; nó bị đánh bại ngay trên b́nh diện văn hóa. Xă hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đă bác bỏ mô h́nh ấy trên b́nh diện văn hóa v́ nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.


Sự thể những cải tổ đă đưa đến cuộc cách mạng năm 1989 phần lớn cũng phát xuất từ một nguyên nhân “lư tưởng” khác: bản thân Gorbachev rất ghét bạo động và, v́ thế, ông cương quyết không sử dụng việc áp bức quần chúng (mass coercion) khi tầm mức của các biến chuyển bắt đầu vượt quá ư định ban đầu của ông. Triển khai các lực lượng đàn áp kiểu Xít-ta-lin cho dù để “duy tŕ chế độ” cũng sẽ là một hành động phản lại niềm tin tưởng son sắt nhất của ông. Một chứng nhân nhớ lại Gorbachev đă nói vào cuối thập niên 1980, “Chúng ta được dạy là chúng ta phải đấm bàn”, rồi ông nắm tay lại, minh họa cú đấm. Viên tổng bí thư phát biểu tiếp: “Nói chung, việc này có thể thực hiện. Nhưng chúng tôi không thích làm như vậy”.


Vai tṛ của tư duy và lư tưởng trong việc mang lại cuộc cách mạng Nga xuất hiện rơ nét hơn khi chúng ta nh́n vào những diễn biến bên ngoài Điện Cẩm Linh. Một kư giả Xô-viết hàng đầu và về sau trở thành một tiếng nói nhiệt t́nh đối với chủ trương glasnost, ông Aleksandr Bovin, đă viết vào năm 1988 rằng những lư tưởng của perestroika đă “chín muồi” giữa lúc nhân dân ngày càng “bức xúc” trước nạn tham nhũng, ăn cắp của công trắng trợn, trước những láo khoét, và những cản trở chặn đứng việc làm của người lương thiện. Những dự kiến “về một cuộc đổi thay có thực chất đang bàng bạc trong không gian”,  một chứng nhân khác nhớ lại, và những người mang kỳ vọng này đă tạo nên một khối cử tri rơ nét (appreciable constituency) đang đ̣i hỏi những cải tổ triệt để. Thật vậy, những kỳ vọng đă đón chào Gorbachev khi ông lên cầm cầm quyền là rất mănh liệt và ngày càng gia tăng đến độ chúng có thể định h́nh cho chính sách thực sự của ông. Đột nhiên, chính các tư duy đă trở nên một yếu tố có cấu trúc, có thực thể trong cuộc cách mạng đang diễn ra.


Theo cách nói của Yakovlev, cái uy tín của ư thức hệ chính thống, vốn ràng rịt toàn bộ hệ thống chính trị và kinh tế của chế độ Xô-viết “như những niền thép”, đang ră rệu nhanh chóng. Nhận thức mới đă giúp người dân thay đổi thái độ đối với chế độ và tạo ra “một chuyển biến trong hệ thống các giá trị”. Dần dần, tính chính đáng của các sắp xếp chính trị [cơ chế chính trị] bắt đầu bị chất vấn. Trong một trường hợp điển h́nh của “định lư Thomas” bất hủ mà [nhà xă hội học] Robert K. Merton xây dựng thành lư thuyết – “Nếu người ta tin rằng một t́nh thế là có thực, th́ t́nh thế đó sẽ trở thành hiện thực trong hậu quả của nó”– sự suy đồi thực sự của nền kinh tế Xô-viết chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng sau khi và bởi v́ có một chuyển biến cơ bản trong cách người dân cảm nhận và đánh giá thành tích của chế độ.


Viết cho một tạp chí Xô-viết năm 1987, một độc giả Nga gọi những ǵ ông chứng kiến chung quanh ông là một “sự dứt khoát triệt để trong ư thức của người dân”. Chúng ta biết độc giả này nhận xét đúng v́ cuộc cách mạng của Nga là cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên mà tiến tŕnh của nó được vẽ thành biểu đồ trong các cuộc thăm ḍ dư luận quần chúng ngay từ đầu. Vào cuối năm 1989, cuộc thăm ḍ dư luận tiêu biểu đầu tiên đă cho thấy dân chúng nhiệt liệt ủng hộ các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh và việc hợp pháp hóa các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản Xô-viết – sau bốn thế hệ dưới chế độ độc tài độc đảng và trong lúc các đảng phái độc lập vẫn c̣n bất hợp pháp. Giữa thập niên 1990, hơn nửa số người được thăm ḍ trong một vùng nước Nga đồng ư rằng “một nền kinh tế lành mạnh” có khả năng phát triển nhanh hơn “nếu chính phủ cho phép tư nhân làm ăn theo ư họ muốn”. Sáu tháng sau, một cuộc thăm ḍ trên toàn nước Nga cho thấy 56% hậu thuẫn một cuộc chuyển đổi nhanh chóng hay tuần tự sang một nền kinh tế thị trường. Thêm một năm sau th́ số người ủng hộ kinh tế thị trường tăng đến tỉ lệ 64%.


Những người đă gieo vào xă hội “chuyển biến ngoạn mục về ư thức” không ai khác hơn là những kẻ đă từng châm ng̣i cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ. Như Alexis de Tocqueville nhận xét, những con người này “giúp tạo ra một ư thức chung về sự bất măn như vậy, một công luận được kiên định như vậy, rồi hai yếu tố này … lại tạo ra những đ̣i hỏi hữu hiệu cho các chuyển biến có tính cách mạng”. Đột nhiên, “toàn bộ việc giáo dục” trên cả nước trở thành “công tác của những người cầm bút”.


Tại Nga Xô cũng vậy. Những hàng người dài trước các sạp báo – đôi khi các đám đông phải xếp hàng quanh một khu phố từ lúc 6 giờ sáng, v́ lượng báo ra hàng ngày thường bán sạch chỉ trong ṿng 2 tiếng đồng hồ — và số người đặt mua ngày càng đông các báo nổi tiếng có chủ trương tự do đă chứng minh sức công phá của những nhà b́nh luận nổi tiếng thuộc khuynh hướng glasnost, hay xin mượn cụm từ của Samuel Johnson, “những bậc thầy truyền giảng chân lư” (teachers of truth): kinh tế gia Mikolai Shmelyov; các triết gia chính trị như Igor Klyamkin và Alexandr Tsypko; các tiểu luận gia như Vasily Selyunin, Yuri Chernichenko, Igor Vinogradov, and Ales Adamovich; các kư giả Yegor Yakovlev, Len Karpinsky, Fedor Burlatsky, và chí ít trên hai chục nhà văn nữa.

Đối với họ, việc phục sinh đạo lư là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xă hội (social norms), mà c̣n là một cuộc cách mạng trên b́nh diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách của người dân Nga. Như Mikhail Antonov tuyên bố trong một tiểu luận rất sáng tạo năm 1987, với tiêu đề “Vậy th́ việc ǵ đang đến với chúng ta?” trên tạp chí Oktyabr, phải “cứu” lấy nhân dân – không phải để họ thoát khỏi các mối nguy từ bên ngoài, nhưng “chủ yếu để họ thoát khỏi chính ḿnh, thoát khỏi các tiến tŕnh phi luân đang giết chết những phẩm chất cao quí nhất của con người”. Cứu nhân dân bằng cách nào? Bằng cách làm cho tiến tŕnh dân chủ hóa c̣n sơ sinh trở thành con đường định mệnh, không thể đảo ngược – không phải bằng “một đợt băng tan” ngắn ngủi của Khrushchev, nhưng bằng một cuộc thay đổi khí hậu. Và việc ǵ sẽ đảm bảo cho t́nh h́nh không thể đảo ngược này? Trên hết, đó là sự xuất hiện của con người tự do, một con người “không bị lây nhiễm trước các sự kiện lặp đi lặp lại của chế độ nô lệ tinh thần”. Tuần báo Ogoniok, một tạp chí quan trọng thuộc chủ trương glasnost, đă viết vào tháng Hai năm 1989 rằng chỉ có “con người không có khả năng làm chỉ điểm cho công an, không có khả năng phản bội và láo khoét, bất luận nhân danh ai hay tổ chức nào, mới có thể cứu chúng ta khỏi sự xuất hiện trở lại của một nhà nước độc tài”.


Lối lư luận ṿng vo này — để cứu nhân dân, người ta phải cứu lấy perestroika, nhưng người ta chỉ cứu được perestroika nếu có thể  thay đổi đựợc con người “từ bên trong” — gần như không hề làm cho ai khó chịu. Những người phát biểu tư duy về những vấn đề này gần như đă cho rằng việc cứu nước bằng chủ trương perestroika và việc kéo người dân khỏi băi śnh lầy tinh thần là hai nỗ lực đan kết chặt chẽ, có lẽ không thể tách rời nhau, và họ dừng lại ở đó. Vấn đề quan trọng là phải đưa nhân dân trở về “địa vị công dân” từ vị trí “nông nô” và “nô lệ”. “Đủ lắm rồi!” là một lời tuyên bố của Boris Vasiliev, tác giả của một tiểu thuyết bán rất chạy trong giai đoạn này về Thế chiến II, một cuốn truyện được đóng thành phim và được khán giả yêu chuộng không kém. Ông nói: “Đủ lắm rồi những láo khoét, đủ lắm rồi tinh thần nô lệ, đủ lắm rồi sự hèn nhác. Sau cùng, chúng ta phải nhớ rằng tất cả chúng ta đều là công dân. Những công dân tự hào của một đất nước tự hào!”


Nh́n kỹ vào những nguyên nhân của Cách mạng Pháp, de Tocqueville có nhận xét nổi tiếng rằng, các chế độ bị cách mạng lật đổ thường thường ít áp bức dân chúng hơn các chế độ trước đó. Tại sao? V́, theo suy đoán của de Tocquevile, mặc dù người dân “có thể ít khổ sở hơn”, nhưng họ lại “cảm thấy bị xúc phạm nhiều hơn”.


Thông thường, Tocqueville có khuynh hướng bàn về những điều tối quan trọng. Từ Những Người cha lập quốc trong Cách mạng Mỹ (the Founding Fathers), đến nhóm Jacobins của Cách mạng Pháp và nhóm Bôn-sê-vich trong Cách mạng Nga, những nhà cách mạng này đă chiến đấu chủ yếu dưới một bóng cờ: phát huy nhân phẩm. Chính v́ nỗ lực t́m kiếm nhân phẩm xuyên qua quyền tự do và quyền công dân mà khuynh hướng lật đổ chính quyền trong tinh thần glasnost vẫn c̣n tồn tại – và sẽ c̣n tồn tại. Cũng như trước đây những trang báo của tờ Ogoniok và tờ Moskovskie Novosti nằm hănh diện bên cạnh h́nh ảnh Boris Yeltsin trên chiếc xe tăng như là các biểu tượng của cuộc mạng Nga gần đây, ngày nay những trang mạng bằng tiếng Á-rập cũng hiên ngang làm biểu tượng cách mạng bên cạnh những h́nh ảnh các đám đông nổi dậy tại Quảng trường Tahrir của Cairo, tại Khu Casbah của Tunis [Tunisia], trên các đường phố của Benghazi [Lybia], và các thành phố sôi sục bạo động của Syria. Gác các vấn đề ngôn ngữ và văn hóa chính trị qua một bên, các thông điệp và cảm thức mà những cuộc cách mạng này gợi lên là rất giống nhau.


Mohamed Bouazizi, một thanh niên bán hoa trái, mà cuộc tự thiêu của anh đă châm ng̣i cho cuộc nổi dậy tại Tunisia khởi đầu cho Mùa Xuân Á Rập 2011, đă tự tử “không phải v́ anh ta thất nghiệp nhưng v́ khi anh đến nói chuyện với [chính quyền địa phương] có trách nhiệm về vấn đề của anh th́ bị đánh đập – cái chết này là để tố cáo chính phủ”, một người biểu t́nh tại Tunis đă nói với một nhà báo Mỹ như thế. Tại Benghazi, cuộc nổi dậy của người Lybia bắt đầu với việc các đám đông hô vang khẩu hiệu, “Nhân dân muốn chấm dứt tham nhũng!”. Tại Ai Cập, các đám đông đă “biểu lộ tinh thần tự cường của một dân tộc bị đàn áp quá lâu đă đến lúc không c̣n biết sợ hăi nữa, không muốn để cho giới lănh đạo của ḿnh tiếp tục tướt đoạt tự do và chà đạp nhân phẩm”, cây viết chuyên đề của tờ New York Times, ông Thomas Friedman, đă tường thuật từ Cairo vào tháng Hai năm nay. [Nếu có mặt ở hiện trường], ông cũng có thể đă tường thuật như thế từ Mát-xkơ-va năm 1991.


“Nhâm phẩm có ưu tiên hơn bánh ḿ!” là khẩu hiệu của cách mạng Tuy-ni-di. Kinh tế Tuy-ni-di đă gia tăng trong khoảng 2 và 8 phần trăm một năm trong hai thập kỷ liền trước cuộc nổi dậy. Với giá dầu lửa ở mức cao,Libya cũng đang phát triển kinh tế khá mạnh ngay trước khi có cuộc nổi dậy. Cả hai trường hợp này nhắc nhở chúng ta rằng trong thế giới hiện nay, tiến bộ về mặt kinh tế không thể thay thế cho niềm tự hào và tự trọng trong tư cách công dân. Nếu chúng ta không nhớ kỹ điều này, chúng ta sẽ tiếp tục kinh ngạc — trước “các cuộc cách mạng màu” trong thế giới hậu-Xô viết, trước Mùa Xuân Á Rập, và không chóng th́ chầy trước một biến động dân chủ tất yếu tại Trung Quốc – như chúng ta từng kinh ngạc trước cuộc cách mạng tại Nga Xô. “Thượng Đế đă ban cho chúng ta một ư thức mănh liệt về nhân phẩm khiến chúng ta không thể chấp nhận sự khước từ các quyền tự do và các quyền bất khả xâm phạm, bất chấp cả quyền lợi có thực hay giả tưởng nào mà các chế độ độc tài "ổn định’ có thể mang lại”, tổng thống của nước Kyrgyzstan, ông Roza Otunbayeva, đă viết vào tháng Ba năm nay. “Thật là kỳ diệu khi người dân, nam, phụ, lăo, ấu, thuộc nhiều tôn giáo và khuynh hướng chính trị khác nhau, qui tụ trong các quảng trường thành phố và tuyên bố ‘chúng tôi đă bựa lắm rồi’ (enough is enough)”.


Hẳn nhiên, động lực đạo lư tuyệt vời, sự t́m kiếm chân và thiện, chỉ là một điều kiện cần nhưng không đủ để tái tạo một đất nước thành công. Nhân dân có thể đủ sức lật đổ chế độ cũ (ancien régime), nhưng không thể cùng một lúc khắc phục được nền văn hóa chính trị độc tài đă ăn sâu trên cả nước. Gốc rễ của các định chế dân chủ do những cuộc cách mạng có động cơ đạo lư có lẽ tỏ ra c̣n quá nông cạn, không thể giữ vững một nền dân chủ hữu hiệu trong một xă hội thiếu truyền thống quí giá là cơ sở hạ tầng biết tự tổ chức và biết tự trị. Đây là điều có thể gây trở ngại to lớn cho việc thực hiện những hứa hẹn của Mùa Xuân Á-rập – đă thấy ở Nga. Sự phục sinh đạo lư ở Nga đă bị trở ngại do sự phân hóa và ngờ vực mà 70 năm độc tài toàn trị sản sinh ra. Mặc dù Gorbachev và Yeltsin đă tháo dỡ một đế quốc, nhưng cái di sản của năo trạng đế quốc trong hằng triệu người Nga đă khiến họ dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa tân độc tài của Putin (neo-authoritarian Putinism), với các chủ đề tuyên truyền to lớn như “sự bao vây của các thế lực thù nghịch” và “Nước Nga đứng dậy từ bước ngă quị”. Hơn thế nữa, bi kịch quốc gia to lớn (và tội lỗi quốc gia) mà chủ nghĩa Xit-ta-lin gây ra chưa bao giờ được t́m hiểu đầy đủ và chưa bao giờ được thống hối, v́ vậy đă làm hỏng toàn bộ nỗ lực phục hồi đạo lư, đúng như các người rao giảng glasnost từng mạnh mẽ cảnh báo.


Đó là lư do nước Nga ngày nay một lần nữa đang từng bước tiến tới một thời điểm perestroika khác. Mặc dù những đợt cải tổ thị trường trong thập niên 1990 và giá dầu lửa tăng cao hiện nay đă kết hợp lại để tạo nên sự phồn vinh chưa từng có trong lịch sử cho hằng triệu người Nga, nhưng sự tham nhũng trắng trợn của tầng lớp cai trị ở chóp bu, chế độ kiểm duyệt kiểu mới, và việc công khai khinh thường dư luận đă tạo ra t́nh trạng bất măn và yếm thế, một t́nh trạng đang bắt đầu lên tới (nếu không muốn nói đă thực sự vượt qua) mức độ của đầu thập niên 1980.


Người ta chỉ cần đến Mát-xcơ-va vài ngày để tiếp xúc với giới trí thức hiện nay hay, tốt hơn nữa, liếc qua các trang nhật kư mạng (blogs) trên LiveJournal (Zhivoy Zhurnal), diễn đàn Internet nổi tiếng nhất của Nga, hay qua các website của những nhóm trí thức đối lập và độc lập hàng đầu, là thấy được rằng câu châm ngôn của thập niên 1980 – “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa!” đang trở thành tín điều một lần nữa. Lệnh truyền đạo lư của tinh thần tự do đang tái khẳng định chính nó, và hiện tượng này không chỉ diễn ra hạn hẹp trong các giới trí thức và những nhà hoạt động dân chủ. Tháng Hai năm nay, Viện Phát triển Đương đại (the Institute of Contemporary Development), một viện nghiên cứu chính sách tự do do Tổng thống Dmitry Medvedev làm chủ tịch, đă xuất bản một tài liệu có vẻ như là một chương tŕnh vận động tranh cử tổng thống Nga năm 2012:

Trong quá khứ nước Nga cần tự do để sống [tốt đẹp hơn]; hiện nay nước Nga cần tự do để sống c̣n…Thách thức của thời đại chúng ta là làm sao để rà soát lại hệ thống giá trị, hun đúc một ư thức mới. Chúng ta không thể xây dựng một đất nước hiện đại với tư duy cũ…Đầu tư tốt đẹp nhất [mà nhà nước có thể dành cho con người] là Tự do và Nền Pháp trị (the Rule of Law). Và tôn trọng Phẩm giá của con người.


Chính cuộc t́m kiếm có tính cách trí thức và đạo lư này, một nỗ lực khôi phục niềm tự hào và tự trọng, bắt đầu bằng một cuộc duyệt xét đạo lư không nương nể đối với quá khứ và hiện tại của đất nước, chỉ vỏn vẹn trong vài năm đă khoét hổng nhà nước Sô-viết đồ sộ, tước sạch tính chính danh của nó, và biến nó thành một chiếc vỏ bị thiêu rụi (burned-out shell) để rồi tan ră vào tháng Tám 1991. Câu chuyện về hành tŕnh đạo lư và trí thức này là một câu chuyện hoàn toàn chiếm vị trí trung tâm về cuộc cách mạng vĩ đại cuối cùng của thế kỷ 20.

Nguồn: Foreign Policy, July/August 2011,

Trần Ngọc Cư dịch


 (Từ nghiencuulichsu.com)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính