Galang một thời một đời

 

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

Như thói quen mỗi buổi sáng ở freeway trên con đường đến sở, tôi lơ đăng bật đài phát thanh để nghe cho đỡ đường dài. Bỗng nhiên, nghe đoạn phóng sự những người tị nạn về Galang thăm lại cảnh cũ xưa, tưởng như ḿnh lạc vào một thế giới khác. Trước mặt, không thấy cảnh kẹt xe nữa. Suy nghĩ miên man, đi quá mấy exit mà không biết. Trong tâm, bùi ngùi cảm xúc. Hai mươi năm, qua thật mau. Một thời đă qua. Một đời tiếp nối. Tự nhiên, những người trăm năm cũ hiện về. Từ kư ức chẳng thể nào quên. Những ngày tháng ấy.

 


Tôi vượt biển vào tháng tám năm 1980. Cũng đă đi nhiều lần, cũng lên “cá lớn, cá nhỏ” nhiều bận, bị lừa gạt, chạy xất bất xang bang nhiều phen, rốt cuộc đến được xứ sở tạm dung vào một ngày trăng tṛn. Đến đảo Kuku, khi nơi đây dân tị nạn vừa chuyển tiếp từng đợt qua đảo lớn Galang nên chỗ này hoang vu lắm. Những dăy nhà dài bỏ không, cây cỏ xanh um. Ngôi chùa ở lưng đồi, trơ những hàng cột và những tấm bạt ni- lông rách bươm phần phật trong gió. Và nghĩa địa, nơi những người tị nạn sớm bỏ dương trần, những bia gỗ sắp hàng trong cái lạnh lùng hoang dă không sinh khí.


Nhưng, phong cảnh đảo th́ tuyệt đẹp. Đi sâu vào trong, có ḍng suối, có những mỏm đá hữu t́nh. Bờ biển cát trắng, nước trong. Những ngày đầu, trăng sáng lồng lộng. Qua một hành tŕnh mệt nhọc trên biển, bây giờ mới biết chắc ḿnh c̣n sống. Lúc đầu, chân lơ lửng bềnh bồng như trên sóng. Mấy ngày sau, mới b́nh thường đi lại vững vàng trên mặt đất.


Thời khắc mà nh́n biển với màu xanh mù mịt thăm thẳm đă qua. Nhớ lại cảm giác,trên hành tŕnh, nh́n đại dương xanh biền biệt một màu, nhất là vào những buổi chiều tắt nắng sao cô đơn và phập phồng chi lạ. Biển với những tay sóng thịnh nộ như lúc nào cũng muốn ra oai vùi dập với con người và con thuyền gỗ nhỏ bé. Biết bao nhiêu người vùi ḿnh dưới đáy đại dương. Biết bao nhiêu con thuyền vỡ tan trong giông băo. Đến lúc nh́n thấy những cánh chim sao ấm áp quá. Đất đă hiện ra, và cái sống đă như trở lại.


Bây giờ, biển lại hiền ḥa vỗ về bờ cát. Bây giờ, biển lại âm vang những khúc t́nh ca. Ngay cả khi trong những cơn mưa nhiệt đới, dù mù mịt ngoài khơi nhưng trong bờ nước ấm áp dễ chịu. Ngọn núi ở phía trong, với những đường ṃn khuất khúc, với những khoảng rừng thưa, như hứa hẹn những không gian nào, nơi chốn nào cho t́m ṭi khám phá. Hết rồi những ngày bị ḍm ngó, bị đe dọa ở quê hương. Saig̣n, có những lúc rưng rưng nhớ. Thành phố của những ngày mới lớn, của những mơ ước, của những nỗi niềm.


Ở Kuku nửa tháng rồi có tàu lớn chở qua Galang, một cuộc sống khác bắt đầu, như ở một phố nhỏ nào lạ lẫm. Một con đường trải nhựa từ bến tàu đi vào trung tâm đảo. Những dăy nhà tôn hai bên, khu Galang I. Con đường đi qua tới cuối đảo là khu Galang II đang xây cất. Lúc ấy cả đảo có chừng gần hai chục ngàn thuyền nhân, có người di chuyển từ Mă Lai, Thái Lan hoặc Hồng Kông tới. Thuyền nhân Hồng Kông th́ có bề ngoài bảnh bao hơn những nơi khác đến. Nhiều lần tôi ở trong những người đại diện trại đón tiếp và cũng nhiều lần được nghe những mẫu chuyện về đời thuyền nhân. Có những nghẹn ngào cố nén xúc động khi nhắc về những người đă khuất và những chuyện thương tâm. Biển đưa người đi nhưng biển cũng vô t́nh giết người.


Ở đó, một cuộc sống tạm bợ lạ lùng bắt đầu. Cũng có các nơi phải đến: nơi cấp lương thực hai tuần một lần, nơi phát thư để mong có những liên hệ với thế giới bên ngoài, có văn pḥng cao ủy để làm thủ tục định cư, có ban đại diện trại để lo những công tác công cộng.


Nh́n bề ngoài th́ như vậy, nhưng trong thâm tâm mỗi người tị nạn chất chứa đầy ắp những nỗi niềm. Cá nhân tôi, may mắn mọi chuyện chót lọt, không phải lo lắng đến chuyện đi Mỹ nên tâm tư thoải mái hơn. Dù rằng, vẫn nghĩ về quê hương với nỗi ngậm ngùi. C̣n phần đông, với mọi người là cảnh huống nóng ḷng chờ đợi ngày đi định cư. Những ngày ở đảo, dài theo chuỗi đợi chờ. Có nhiều người bị ở đây cả năm nên tinh thần khá sa sút. Những cái loa, báo tin mừng, tin buồn. Người đi vui vẻ. Người ở lại, lo lắng đợi chờ.


Nhưng, có những nỗi đau đớn lớn hơn. Có những người mất mát thân nhân ngoài biển cả. “Nghĩ đắt vô cùng giá tự do”, câu thơ Thanh Nam thật là đúng. Ở barrack tôi ở có ông già người Hoa cả đại gia đ́nh cả mấy chục người chỉ c̣n sót lại có hai ông cháu. Buổi tối ông cơng đứa cháu nội trên vai lủi thủi đi xem truyền h́nh rồi nặng nề trở về trong đêm tối trông đau đớn làm sao. Có lần ông kể trong nước mắt, cái đêm mà cả đại gia đ́nh của ông bị lính Mă Lai áp tải lên thuyền tống ra khơi rồi tất cả bị sóng cuốn đi. Tiếng khóc nén trong lồng ngực nghe tội nghiệp. Xoa đầu đứa bé ba bốn tuổi, ông nói nếu không có nó chắc ông cũng chẳng sống làm ǵ. Những người như vậy, chắc đến lúc họ xuôi tay về với đất mới có thể quên lăng được nỗi đau đớn ấy.


Nếu có dịp trở lại, tôi sẽ ghé về để nh́n lại barrack mà ḿnh đă sống gần sáu tháng. Cũng như, sẽ bồi hồi biết bao khi đứng ở cầu tầu để đón những người đến và tiễn những người đi. Con đường xuyên qua đảo, biết bao nhiêu kỷ niệm. Những h́nh bóng thoáng qua. Những cuộc t́nh vời vợi. Cũng có những nuối tiếc bâng khuâng, ngày ấy tuy đă hơn ba mươi tuổi mà sao nghe già cỗi cuộc đời. Mới đây hai mươi lăm năm. Và, những người muôn năm cũ... Tôi chợt nhớ đến một bài hát làm tôi xúc động. Bài “Trên đảo Galang nghe người hát” của anh Trần Đ́nh Quân, bây giờ đă khuất núi. Bài hát mà tôi đă nghe chính tác giả hát trong một cuộc họp mặt có rất đông những người viết văn làm thơ viết nhạc ở nhà tôi với tiếng đàn đệm dương cầm của chị Quỳnh Giao. Bài nhạc đă làm cho tôi rưng rưng và mắt đỏ đến nỗi phải ra sau vườn để trấn tĩnh lại. Nốt nhạc buồn, ngôn ngữ b́nh dị nhưng truyền cảm, diễn tả một tam trạng mà bất cứ ai đă ở trại đảo đều cảm thấy. H́nh như tôi đă thấy đôi mắt buồn vời vợi của người hát:

“Chiều qua trên đảo Galang, nghe người hát bài Kembali Ké Jakarta (trở về Jakarta).
Người có Jakarta, người có quê hương để trở về thăm nhà.

Chiều nay trên đảo Galang quê người xa lạ một ḿnh nghe ḷng đau. Trở về đâu. Về đâu?

Quê ta! Về đâu! Về đâu! Trở về đâu! Về đâu!?

Quê ta đó ta không được ở. Nhà ta đó ta phải bỏ đi.

Cha mẹ ta tủi buồn thương nhớ. Người yêu ta đau đớn ĺa xa.

Anh em ta âm thầm từ biệt. Bạn bè ta câm nín ngậm ngùi”


Điệp khúc về đâu, về đâu cứ xoáy mạnh trong tim người nghe. Về đâu bây giờ, những người đă bỏ ḿnh trong biển cả? Về đâu bây giờ những người lưu lạc bỏ lại quê hương? Không phải một ḿnh anh Trần Đ́nh Quân có câu hỏi ấy, lúc đó. Mà, bây giờ, cũng có nhiều người ngậm ngùi hát điệp khúc ấy trong hồi ức như tôi, lúc này. Sao tôi muốn gửi theo những người thuyền nhân trở về thăm lại Galang, Bidong một chút tâm t́nh chia sẻ. Hăy thắp giùm tôi một nén nhang nơi nghĩa trang của những người nằm lại. Hăy đi giùm tôi lên nhà thờ trên dốc cao hay bước những bậc thang gỗ lên chùa để cầu nguyện và đa tạ đất trời. Tôi muốn cám ơn đất nước Indonesia đă dung chứa và bảo bọc chúng tôi. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ ḿnh là một người may mắn dù trong bất cứ hoàn cảnh ngặt nghèo nào. Làm lại cuộc đời ở tuổi trên ba mươi dù chậm nhưng vẫn c̣n chưa trễ. Định cư xứ người đi học, đi làm, tôi đă hiểu được cái giá mà khi ḿnh vượt biển đă định. Cố gắng sao sống cho đúng con người, chu toàn bổn phận với chính bản thân ḿnh, gia đ́nh ḿnh, đất nước ḿnh. Có phải, đó là điều tôi thực hiện? Xin ơn trên d́u dắt tôi đi trên con đường ấy!


Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo