Địa Danh Thành Phố SÀI G̉N hay HỒ CHÍ MINH?

CHÍNH TRỊ HỌC KƯ ỨC VÀ ĐỊA DANH: 

TRƯỜNG HỢP “SÀI G̉N” TRONG KHÔNG GIAN DIỄN NGÔN,

CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN CỘNG SẢN HẢI NGOẠI, VÀ TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ.

 

Ngô Viết Quyền 

 

 

Tiểu Tự: Ư nghĩa của hiện tượng tên gọi thành phố “Sài G̣n” trong đời sống xă hội Việt Nam không chỉ gói gọn trong vấn đề chính danh, mà c̣n phản chiếu chiều sâu văn hóa và tâm thức cộng đồng. Tên gọi này, như một ḍng nước ngầm, đă vượt qua những biến động lịch sử và chính trị, vẫn được ǵn giữ bởi kư ức tập thể và t́nh cảm của người dân. Nó là biểu tượng cho sự đa dạng của các tầng lớp xă hội, khả năng thích ứng và dung ḥa giữa quá khứ và hiện tại…Do vậy, kư ức về Sài G̣n đă lặng lẽ bồi đắp giá trị tinh thần, không chỉ cho người ở lại mà c̣n cho cộng đồng người Việt xa xứ, góp phần giữ ǵn bản sắc và truyền thống dân tộc trong một thế giới luôn đổi thay.

 

Chung qui, tôi đă cố phân tích sâu sắc hiện tượng tên gọi “Sài G̣n” dưới góc nh́n đa chiều, kết hợp cả yếu tố lịch sử, chính trị, xă hội và tâm thức cộng đồng. Lập luận có chặt chẽ không, có xác thực không,  dẫn chứng có phong phú không…? Ngơ hầu tŕnh bày với đọc giả trí thức nhận xét rơ rằng địa danh không chỉ là vấn đề hành chính, mà c̣n là biểu tượng kư ức và bản sắc h́nh thành lịch sử và là biểu tượng văn hóa đă có chiều dài thời gian làm chứng tích của người Việt Nam. Việc gượng ép lư giải tính lai ghép với mục đich tuyên truyền chính trị của phe nhóm cục bộ, phe đảng Cộng sản Bắc Việt đă đổi chính danh thành phố Saigon thành Hồ Chí Minh chỉ là hiện tượng áp đặt ngôn ngữ thành một hành động chính trị đơn tuyến. Cách tiếp cận này không phù hợp với tinh thần học thuật, phân biệt rạch ṛi giữa thực hành xă hội và diễn ngôn chính trị, đồng thời khẳng định sức sống mănh liệt của kư ức tập thể bất chấp mọi biến động lịch sử. Kư ức về Sài G̣n vẫn âm thầm bồi đắp giá trị tinh thần cho cộng đồng người Việt, cả trong nước lẫn ngoài nước, giúp ǵn giữ cội nguồn giữa ḍng chảy thời gian và sự đổi thay của xă hội.

 

Trong bài nghiên cứu này, ngôn ngữ chính trị của Cộng sản Bắc Việt được tiếp cận như một hệ thống diễn ngôn có tính kiểm soát cao, trong đó việc lựa chọn từ ngữ có chức năng chiến lược nhằm định h́nh nhận thức và hành vi xă hội. Kinh nghiệm từ Paris Peace Accords và các thông cáo cố t́nh mập mờ về chính sách “tŕnh diện học tập cải tạo” (đúng ra phải là “tù lao động khổ sai không bản án hard labor concentration camp without trial”) cho thấy tính mơ hồ có chủ đích trong diễn ngôn chính trị, tạo ra nhiều tầng diễn giải trong thực tiễn. Cơ chế này tiếp tục ảnh hưởng đến cách vận hành thông tin trong giai đoạn hậu 1975, đặc biệt đối với cư dân miền Nam và cộng đồng di dân Việt ở hải ngoại. Trên nền tảng đó, bài nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính liên ngành, kết hợp phân tích lịch sử, phân tích diễn ngôn và so sánh các trường hợp nhằm nhận diện các mẫu h́nh kư ức tập thể gắn với địa danh “Sài G̣n”. Phân tích lịch sử cho phép tái cấu trúc các tầng ư nghĩa trước và sau 1975, trong khi phân tích diễn ngôn làm rơ quá tŕnh kiến tạo và tương phản ư nghĩa trong đời sống xă hội. So sánh quốc tế giúp đặt trường hợp Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn của chính trị hóa địa danh. Đồng thời, cộng đồng người Việt hải ngoại được xem như một không gian kư ức xuyên quốc gia, có vai tṛ duy tŕ và khuyếch đại biểu tượng lịch sử. Mỗi phần phân tích bao gồm thực hành ngôn ngữ, văn bản truyền thông và diễn ngôn cộng đồng. Tác giả không hướng đến xác lập quan hệ nhân quả đơn tuyến, mà nhằm khái quát hóa sự tương tác giữa quyền lực, kư ức và địa danh trong cấu trúc xă hội hiện đại [7][9].

 

 

TỔNG QUAN: 

 

Hiện tượng người dân trên khắp miền đất nước trong sinh hoạt thường nhật vẫn phổ biến việc sử dụng tên “Sài G̣n” thay v́ “Thành phố Hồ Chí Minh” là một vấn đề không chỉ về ngôn ngữ học đơn thuần, mà c̣n về xă hội học, đồng thời c̣n phản ảnh cấu trúc kư ức tập thể, bản sắc văn hóa đô thị được tích lũy và cũng kinh qua yếu tố lịch sử lâu dài qua tâm lư của cộng đồng cư dân [8][11][2].  Tác giả chủ tâm phân tích hiện tượng song hành cùng tồn tại giữa tên gọi “Sài G̣n” và “Thành phố Hồ Chí Minh” dưới góc nh́n chính trị học kư ức (memory politics). Sự song hành giữa hai tên gọi cho thấy địa danh là một đơn vị biểu tượng, nơi lịch sử, bản sắc và quyền lực hành chính cùng tương tác và định h́nh ư nghĩa xă hội, chứ không thể áp đặt [7][9]

 

Sau năm 1975, việc đổi tên quy mô lớn nhằm tái cấu trúc không gian biểu tượng đô thị có thể được hiểu như một hành động chính trị nhằm tái định vị tính chính danh lịch sử [12]. Tuy nhiên, sự tồn tại bền bỉ của “Sài G̣n” cho thấy khoảng cách giữa quyền lực thể chế và kư ức cộng đồng, đồng thời phản ảnh tính chính danh mang tính quần chúng của kư ức xă hội [8][13]. Hiện tượng này được đặt trong so sánh với các trường hợp quốc tế như Mumbai, Beijing và Saint Petersburg nhằm nhận diện quy luật song tồn giữa kư ức chính thức và phi chính thức. Đồng thời, cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại và truyền thông quốc tế đóng vai tṛ duy tŕ và khuyếch đại biểu tượng này trong không gian xuyên quốc gia [11].

 

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất khái niệm “kư ức lai” (hybrid memory system), để lư giải sự cùng tồn tại của nhiều tầng kư ức trong xă hội Việt Nam đương đại. Khung phân tích này cho phép hiểu rơ hơn về hiện tượng không như một dạng đối kháng chính trị đơn tuyến, mà như một cấu trúc xă hội–kư ức phức hợp, vận hành thông qua sự tương tác liên tục giữa nhà nước cầm quyền, xă hội dân sự và bối cảnh toàn cầu. Điển h́nh là sau 51 năm rồi, bọn họ vẫn không chiếm được trọn vẹn trái tim của người dân miền Nam và họ ngược lại c̣n vét sâu đáy, khơi rộng thêm hai bờ con sông Bến Hải, lại c̣n bị mất đi khá nhiều trái tim yêu nước chân chính, yêu nước thương ṇi của người dân miền Bắc v́ những tuyên truyền dối trá, xảo quyệt ngày càng bị phơi bày. 

 

 

I. Tóm Lược Lư Thuyết (Literature Review)

 

1) Kư ức tập thể và cấu trúc xă hội

 

Trong khung lư thuyết của Maurice Halbwachs, kư ức tập thể được hiểu như một cấu trúc xă hội mang tính động, được h́nh thành và duy tŕ thông qua các thiết chế như gia đ́nh và cộng đồng [8]. Kư ức không tồn tại độc lập mà liên tục được tái sản xuất qua ngôn ngữ, nghi lễ và tương tác xă hội. Quá tŕnh ghi nhớ và quên lăng v́ thế chịu sự chi phối của bối cảnh xă hội hơn là của quyết định hành chính. Do đó, các khuôn khổ kư ức đă nội tại hóa vẫn có xu hướng duy tŕ và thích nghi ngay cả khi biểu tượng chính thức thay đổi. 

 

2) Quyền lực biểu tượng và hành vi đặt tên

 

Theo Pierre Bourdieu, hành vi đặt tên không chỉ mang tính hành chính mà c̣n là một cơ chế biểu tượng của quyền lực, qua đó nhà nước định h́nh ư nghĩa cho cách thức xă hội nhận thức và diễn giải thực tại [2]. Việc gán tên cho không gian đồng thời mă hóa và hợp thức hóa các giá trị lịch sử, chính trị và văn hóa. Tuy nhiên, hiệu lực của quyền lực này phụ thuộc vào mức độ chấp nhận của các chủ thể xă hội. V́ vậy, sự tồn tại của các tên gọi phi chính thức phản ảnh quá tŕnh phản kháng liên tục giữa áp đặt thể chế và diễn giải xă hội. 

 

3) Diễn ngôn và quyền lực

 

Theo Michel Foucault, mọi diễn ngôn đều tồn tại trong một môi trường cạnh tranh không trung tính, nơi vận hành trong các quan hệ quyền lực, nơi nhiều hệ thống h́nh thành ư nghĩa cạnh tranh để xác lập tính hợp thức [6]. Trong bối cảnh này, địa danh không chỉ là kư hiệu ngôn ngữ mà c̣n là công cụ kiến tạo và duy tŕ diễn ngôn. Việc lựa chọn hay từ chối một tên gọi phản ảnh sự tham gia của các chủ thể vào quá tŕnh thương lượng quyền lực biểu tượng. Do đó, địa danh trở thành không gian tranh chấp nơi các diễn ngôn lịch sử, chính trị và văn hóa đồng tồn tại và tương tác. 

 

4) Địa danh học chính trị (critical toponymy)

 

Trong khuôn khổ địa danh học chính trị, việc đổi tên địa danh được xem như một thực hành quyền lực nhằm tái cấu trúc không gian biểu tượng và định hướng diễn ngôn lịch sử. Thông qua đó, nhà nước có thể ưu tiên một cách diễn giải chính thống, đồng thời làm suy giảm hoặc loại bỏ những kư ức không phù hợp với trật tự mới. Quá tŕnh này góp phần kiến tạo bản sắc quốc gia theo định hướng chính trị và ư thức hệ. Tuy nhiên, hiệu lực của nó phụ thuộc vào mức độ thẩm thấu và sự chấp nhận trong đời sống xă hội thực tế của các chủ thể là toàn thể người dân trực tiếp liên quan trong xă hội hiện đại [1]

 

 

II) Các Yếu Tố Cốt Lơi Không Thể Thay Thế

 

1) Yếu Tố Lịch Sử – Kư Ức Đô Thị.

 

Yếu tố lịch sử và kư ức đô thị cho thấy tên “Sài G̣n” mang chiều sâu thời gian, gắn liền với trải nghiệm và kư ức tập thể của nhiều thế hệ cư dân miền Nam trước 1975. Trái lại, TP. Hồ Chí Minh là danh xưng hành chính được thiết lập trong bối cảnh chính trị sau tháng 4/1975. Trong thực tiễn xă hội, các địa danh có bề dày lịch sử thường duy tŕ sức sống mạnh mẽ trong ngôn ngữ đời thường. Điều này phản ảnh mối liên hệ chặt chẽ giữa địa danh, bản sắc và kinh nghiệm sống của cộng đồng. V́ vậy, kư ức đô thị đă trở thành yếu tố bền vững, khó vượt qua, dù thay đổi thể chế hành chính [6]. V́ chúng gắn liền với bản sắc, kư ức và trải nghiệm cá nhân của cộng đồng cư dân tại đó

 

2) Yếu Tố Ngôn Ngữ – Tính Tiện Dụng.

 

Từ góc độ xă hội ngôn ngữ học, ta có thể nhận xét rằng tên gọi “Sài G̣n” có ưu thế về tính ngắn gọn, dễ phát âm và dễ đạt hiệu quả trong giao tiếp, nên phù hợp với khẩu ngữ thường nhật, thông dụng, phản ảnh quy luật phổ biến trong không gian ngôn ngữ và văn hóa. Điều này cho thấy tính tiện dụng là yếu tố quan trọng định h́nh lựa chọn ngôn ngữ của cộng đồng xă hội dân sự. Ngược lại, “Thành phố Hồ Chí Minh” là một danh xưng dài, mang tính trang trọng, chỉ phù hợp với văn bản hành chính [1]. Trong chiều sâu thẳm của nhiều xă hội, hiện tượng song hành tồn tại giữa “tên chính thức” và “tên thông dụng” là một quy luật khá phổ biến trong chiều không gian ngôn ngữ văn hóa cũng như trong giao tế hàng ngày giữa đại chúng. 

 

3) Yếu Tố Văn Hóa – Biểu Tượng.

 

Tên gọi “Sài G̣n” không chỉ là địa danh mà c̣n là một “biểu tượng văn hóa đô thị”, phản ảnh h́nh ảnh năng động, cởi mở của một trung tâm kinh tế - thương mại phồn vinh. Điều mà nhiều nghiên cứu về kư ức đô thị và biểu tượng không gian đă khẳng định: nó gợi lên h́nh ảnh về một không gian kinh tế năng động, cởi mở và đa dạng [4]. Niềm hănh diện với danh thơm được xưng tụng là “Ḥn ngọc Viễn Đông”. Do đó, việc sử dụng tên gọi “Sài G̣n” trong đời sống thường nhật mang tính tự nhiên văn hóa, nhưng cũng là một lựa chọn mang động cơ chống đối chính trị nội tại tiềm tàng ẩn hiện. Cho nên, người dân miền Nam mới “kháo” nhau rằng: “Hồ Chí Minh chết rồi mà chưa chôn, c̣n Sài G̣n cố chôn, mà không chịu chết!” 

 

4) Yếu Tố Tâm Lư Xă Hội.

 

Yếu tố tâm lư–xă hội cho thấy việc sử dụng tên gọi “Sài G̣n” ở một bộ phận cư dân các thành phố lớn, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh gắn liền với kư ức cá nhân, gia đ́nh và trải nghiệm lịch sử trước tháng 4/1975. Cách gọi này thường phản ảnh quán tính kư ức và cảm xúc hoài niệm hơn là một biểu hiện chính trị trực tiếp. Đồng thời, nó cho thấy sự nội tại hóa kư ức qua nhiều thế hệ trong môi trường đô thị. V́ vậy, lựa chọn ngôn ngữ ở đây chủ yếu mang tính xă hội và tâm lư, thay v́ hành động đối kháng có chủ đích [2]

 

 

III. Phân Tích: “Sài G̣n” Như Một Kư Ức Sống

 

1) Tầng lịch sử và Việt Nam Cộng Ḥa

 

Trong phân tích lịch sử và xă hội, tên gọi “Sài G̣n” không chỉ là địa danh mà c̣n là một cấu trúc kư ức tích lũy qua các tầng đô thị hóa, thời kỳ thuộc địa và đặc biệt là giai đoạn Việt Nam Cộng Ḥa [8][11]. Những tầng lớp ư nghĩa này định h́nh một bản sắc đô thị riêng, được duy tŕ trong kư ức tập thể của người dân miền Nam và cộng đồng tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại. Đối với nhiều chủ thể, tên gọi này c̣n biểu trưng cho một trật tự chính trị–xă hội đă kết thúc, nhưng chưa bị xóa nḥa. V́ vậy, tên gọi “Sài G̣n” vận hành như một “kư ức sống”, nơi quá khứ tiếp tục vẫn hiện diện và tái diễn trong thời hiện tại. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa địa danh, bản sắc và trải nghiệm lịch sử trong việc kiến tạo ư thức xă hội.

 

2) Cơ chế duy tŕ kư ức

 

Cơ chế duy tŕ tên gọi “Sài G̣n” vận hành thông qua các kênh tái sản xuất kư ức trong xă hội dân sự như truyền khẩu trong gia đ́nh, văn hóa đại chúng và thực hành ngôn ngữ thường nhật. Những kênh này không chỉ truyền tải mà c̣n củng cố ư nghĩa biểu tượng của địa danh trong trải nghiệm tập thể. Theo Pierre Nora, đây là dạng “lieux de mémoire”, nơi kư ức được bảo tồn khi lịch sử chính thức thay đổi. Trong bối cảnh đó, tên gọi “Sài G̣n” trở thành một điểm neo kư ức, cho phép quá khứ tiếp tục hiện diện trong đời sống hiện tại [10][11]. Điều này khẳng định rằng kư ức tồn tại một cách sống động trong thực hành xă hội, vượt ra ngoài khuôn khổ văn bản hành chính.

 

3) Kư ức cộng đồng hải ngoại như một hệ thống khuyếch đại

 

Kư ức cộng đồng hải ngoại vận hành như một cơ chế khuyếch đại, trong đó cộng đồng người Việt hải ngoại duy tŕ và tái tạo ư nghĩa của tên gọi “Sài G̣n” trong không gian xuyên quốc gia. Thông qua truyền thông, giáo dục và thực hành văn hóa, địa danh này được bảo tồn như một thành tố của bản sắc tập thể vượt ngoài lănh thổ. Các quá tŕnh này vừa tái hiện vừa thích nghi với quá khứ trong bối cảnh hiện tại, tạo nên một dạng kư ức linh hoạt. Theo Svetlana Boym, đây là biểu hiện của “nostalgia phản suy tư”, nơi kư ức được duy tŕ như một trải nghiệm sống. Qua đó, cộng đồng hải ngoại (diaspora) trở thành một hệ sinh thái kư ức có khả năng lan tỏa và củng cố biểu tượng văn hóa [5]

 

 

IV.) Hàng Không Quốc Tế Cũng Không Công Nhận Tên TP. HCM

 

1) Nguyên Nhân Gần:

 

Việc thẻ hành lư (baggage tag) trên các chuyến bay vẫn sử dụng mẫu mă SGN mặc dù theo nguyên tắc hành chính, không phải là một lựa chọn mang tính chính trị hay xă hội, mà chủ yếu là hạ tầng cơ sở hàng không quốc tế viện dẫn lư do xuất phát từ quy chuẩn kỹ thuật toàn cầu của ngành hàng không. 

 

(1) Đây là mă tự của sân bay theo tiêu chuẩn của International Air Transport Association (IATA) dành cho Tần Sơn Nhất International Airport. Việc sử dụng mă SGN trên thẻ hành lư chủ yếu nhằm đảm bảo tính nhất quán và nhận diện toàn cầu. Mă này mang tính quy ước kỹ thuật, không phản ảnh trực tiếp danh xưng hành chính hay ư chí chính trị đương đại. Do đó, SGN tồn tại như một kư hiệu vận hành độc lập với diễn ngôn chính trị–xă hội. Tính ổn định của mă tự là điều kiện thiết yếu cho hoạt động liên tục của hệ thống hàng không [4], mà không hề bị chi phối trực tiếp bởi danh xưng hành chính thể chế hiện hành. Do đó, SGN vẫn tồn tại mà CSBV không thể áp chế bằng cách nào để làm thành một biểu trưng chính trị – xă hội. 

 

(2) Các mẫu mă IATA gồm 3 chữ cái (SGN), được sử dụng rộng răi trong toàn bộ chuỗi vận hành hàng không trên toàn cầu. Chúng xuất hiện để định danh sân bay trong hệ thống đặt vé, quản trị vận chuyển hành lư, điều phối chuyến bay và kiểm soát không lưu. Cơ chế này cho phép đồng bộ hóa dữ liệu giữa các hăng bay, sân bay và trung tâm logistics trên phạm vi toàn cầu. Việc giản lược thành ba kư tự giúp tăng tốc độ xử sự, giảm sai sót trong môi trường vận hành phức tạp. Do vậy, mẫu mă của SGN theo International Air Transport Association (IATA) đóng vai tṛ như “ngôn ngữ chung” của ngành hàng không quốc tế, giúp nâng cao hiệu quả vận hành trong môi trường phức tạp liên kết cao. V́ vậy, giá trị của mă SGN nằm ở tính chức năng, cố t́nh bỏ qua ư nghĩa biểu tượng của chế độ CSBV hiện tại, khiến việc thay đổi gần như bất khả thi [3][4].

 

(3) Khi một mẫu mă đă được tích hợp sâu vào hạ tầng dữ liệu toàn cầu, nó trở thành một phần của “quán tính hệ thống” (system inertia) của dữ liệu toàn cầu (ticketing, boarding, baggage handling, logistics) và trở thành một chuẩn mực vận hành, khiến việc thay đổi trở nên phức tạp và tốn kém từ phần mềm đặt chỗ (booking) đến kiểm soát hành lư (handling luggage). Bất kỳ điều chỉnh nào cũng đ̣i hỏi sự đồng bộ trên hàng loạt hệ thống liên kết. Chi phí kỹ thuật, rủi ro vận hành và nguy cơ gián đoạn khiến việc thay đổi gần như không thể chấp nhận được [3]. Do đó, nguyên tắc duy tŕ mă cũ được ưu tiên nhằm bảo đảm tính liên tục của hệ thống toàn cầu. 

 

2) V́ Sao Là “SGN” Mà Không Phải “HCM”?

 

(1) Mă tự SGN có nguồn gốc lịch sử từ tên “Saigon”, được thiết lập trong giai đoạn hội nhập hàng không quốc tế trước 1975, qua đó trở thành một định danh kỹ thuật ổn định. Trong cách tiếp cận học thuật, SGN vận hành như một “hằng số hệ thống”, tách biệt khỏi biến động của danh xưng hành chính hay ư đồ chính trị đương đại muốn thay đổi [4]. V́ mă tự sân bay không phải là một cái “tên viết tắt tùy ư” của một thể chế trong quốc gia nào. Nói một cách học thuật hơn: SGN tồn tại như một “hằng số kỹ thuật” của hạ tầng cơ sở hàng không quốc tế, chứ không phải là một biểu tượng hành chính có thể thay đổi theo biến động của từng thể chế chính trị. 

 

(2) Trong hệ thống quy chuẩn của International Air Transport Association (IATA), nguyên tắc chung là giữ nguyên mă tự định danh lịch sử, là nguyên tắc cốt lơi mà SGN được đặt lên hàng đầu nhằm duy tŕ tính ổn định và liên tục, tránh gây gián đoạn cho mạng lưới hàng không toàn cầu [4]. Mọi thay đổi chỉ được xem xét trong điều kiện bắt buộc về kỹ thuật hoặc an toàn, do rủi ro gián đoạn dữ liệu và vận hành liên hệ truyền thông. 

 

(3) Ngoài ra, việc CSBV yêu cầu dùng mă tự “HCM” đă không được sử dụng c̣n liên quan đến cơ chế phân bổ mă tự theo quy tắc tránh trùng lặp và bảo đảm tính duy nhất phù hợp với quy tắc phân bổ mă tự của IATA trong toàn hệ thống quốc tế [3]. Trong thực tiễn, ba chữ HCM đă không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của IATA v́ một hai lư do nào đó (Tác giả sẽ có bài viết đào sâu hơn khi thuận tiện). Quá tŕnh phân bổ này mang tính toàn cầu, không phụ thuộc vào ưu tiên với danh xưng hành chính của từng quốc gia riêng lẻ. V́ vậy, việc muốn tự lựa chọn mă tự không thể phản ảnh ư chí chính trị của CSBV mà phải tuân theo logic vận hành chuẩn mực hóa quốc tế. 

 

3) Nguyên Nhân Sâu Xa Về Cấu Trúc Hệ Thống:

 

(1) Trong cấu trúc vận hành của hệ thống hàng không quốc tế, dưới sự điều phối của các thiết chế như International Air Transport Association (IATA), ưu tiên vận hành dựa trên nguyên tắc mang tính liên tục, ổn định và chuẩn mực hóa dữ liệu hơn là phản ảnh biến động chính trị–hành chính địa phương. Do đó, các thay đổi về danh xưng không đủ điều kiện để tái cấu trúc hệ thống kỹ thuật hàng không quốc tế, vốn vận hành theo logic phi chính trị hóa nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả xuyên biên giới [4].

 

(2) Khi một mă tự sân bay đă được tích hợp sâu vào mạng lưới dữ liệu đa tầng toàn cầu, nó trở thành một chuẩn mực kỹ thuật gần như bất biến mang tính quán tính của hệ thống [5]. Việc thay đổi đ̣i hỏi điều chỉnh đồng bộ toàn bộ chuỗi vận hành (đặt vé, hành lư, logistics, kiểm soát không lưu), kéo theo chi phí cao và rủi ro gián đoạn. V́ vậy, các chủ thể trong hệ thống có xu hướng duy tŕ trạng thái hiện hữu, khiến mă định danh tồn tại như một “hằng số kỹ thuật” ổn định lâu dài. 

 

(3) V́ vậy, SGN tồn tại như một “di sản” về lịch sử của người dân miền Nam và kỹ thuật chuẩn mực hóa của ngành hàng không quốc tế, dẫu rằng người dân miền Nam không mang hàm ư chính trị sâu sắc ngầm chống đối, mà theo nhu cầu cấp thiết là phải thay đổi thể chế hiện hành. Nhưng Sài G̣n luôn măi là Sài G̣n, là kư ức, là niềm tin yêu và hy vọng trở về xây dựng lại quê hương hậu cộng sản của người dân miền Nam yêu Tổ quốc và dân tộc. Với ư niệm: Quê hương ta ai ngăn trở ta về? (“Hữu quan nan trở mộng gia hồi.”)

 

 

V. Truyền Thông Quốc Tế và So Sánh Ṿng Tṛn Lặp Lại Kư Hiệu Quốc Tế

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc truyền thông quốc tế tiếp tục sử dụng tên gọi “Saigon” trong lịch sử, văn hóa và du lịch góp phần duy tŕ giá trị biểu tượng của địa danh này. Quá tŕnh đó h́nh thành một “ṿng tṛn lặp lại kư hiệu”, trong đó diễn ngôn quốc tế vừa phản ảnh vừa củng cố kư ức nội địa. Ngược lại, thực hành ngôn ngữ trong nước tiếp tục tái sản xuất và gia cố tính nhận diện toàn cầu của tên gọi. Sự tương tác hai chiều này cho thấy địa danh vận hành như một thực thể sống động trong không gian thông tin xuyên biên giới [7][9]. Qua đó, tên gọi “Sài G̣n” được duy tŕ đồng thời ở cả b́nh diện quốc gia và văn hóa toàn cầu. 

 

1) Bombay → Mumbai

Trường hợp Bombay chuyển thành Mumbai minh họa rơ nét cho động thái đổi tên mang tính hậu thuộc địa nhằm khẳng định bản sắc bản địa và tách khỏi di sản ngôn ngữ của thời kỳ thực dân. Tuy nhiên, trong thực tiễn xă hội, cả hai tên gọi vẫn cùng tồn tại, phản ảnh sự chồng lấn giữa kư ức lịch sử và bản sắc hiện đại. Điều này cho thấy việc áp đặt tên chính thức không hoàn toàn thay thế được thói quen ngôn ngữ đă được định h́nh lâu dài. Sự song hành này đồng thời thể hiện quá tŕnh thương lượng liên tục giữa quyền lực nhà nước và kư ức tập thể. 

 

2) Peking → Beijing

Trường hợp Beijing, thường được gọi là “Peking”, cho thấy một quá tŕnh chuẩn hóa địa danh mạnh mẽ của nhà nước, thông qua hệ thống phiên âm Pinyin. Chiến lược này nhằm gắn liền với chiến lược thống nhất ngôn ngữ và biểu tượng quốc gia. Việc áp dụng hệ thống phiên âm chính thức phản ảnh nỗ lực tái cấu trúc diễn ngôn và kiểm soát tính chính danh trong không gian kư hiệu. Tuy nhiên, điển h́nh là tên gọi “Peking University”, vốn duy tŕ như một dạng kư ức tổ chức. Trong bối cảnh chuẩn hóa mạnh, kư ức lịch sử vẫn có khả năng tồn tại dưới dạng dư ảnh thể chế. Điều này cho thấy ngay cả trong bối cảnh kiểm soát cao, kư ức vẫn duy tŕ dưới dạng dư ảnh biểu tượng. 

 

3) Leningrad → Saint Petersburg

Trường hợp Saint Petersburg phản ảnh sự biến động của biểu tượng chính trị qua nhiều lần đổi tên theo các giai đoạn dẫu cùng ư thức hệ Cộng sản. Quá tŕnh này không chỉ mang tính hành chính mà c̣n tái cấu trúc kư ức lịch sử theo từng thời kỳ. Hệ quả là kư ức về địa danh phân tầng theo thế hệ, mỗi nhóm gắn với một tên gọi riêng biệt. Điều này cho thấy địa danh là một cấu trúc kư ức sống động, biến đổi theo ḍng chảy chính trị–xă hội. 

 

 

VI. Tổng Lược Về Lư Thuyết

 

Từ các trường hợp nêu trên, chúng ta có thể rút ra bốn quy luật như sau:

 

(1) Tính song trùng chính danh giữa nhà nước vs xă hội: Sự tồn tại đồng thời giữa tên gọi chính thức do nhà nước quy định và tên gọi phi chính thức trong đời sống xă hội phản ảnh một cấu trúc chính danh kép, trong đó quyền lực thể chế và thực hành xă hội liên tục thương lượng ư nghĩa biểu tượng của địa danh.

 

(2) Tính bền vững của kư ức, nhất là khi kư ức có chiều dài hơn chính sách mới được ban hành: Kư ức tập thể, một khi đă được nội tại hóa qua thực hành xă hội và truyền thống văn hóa, thường có độ bền chắc vượt trội so với các thay đổi chính sách hành chính. Điều này cho thấy tính bất tương xứng giữa thời gian chính trị và thời gian kư ức.

 

(3) Vai tṛ của cộng đồng tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại cố ư duy tŕ kư ức ngoài lănh thổ: Cộng đồng tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại cố vận hành như một không gian kư ức xuyên quốc gia, nơi các biểu tượng lịch sử và địa danh được tái sản xuất độc lập với cấu trúc nhà nước trong nước, qua đó duy tŕ tính liên tục của kư ức tập thể. 

 

(4) Toàn cầu hóa kư hiệu. Việc này viện dẫn lư do thuận tiện truyền thông quốc tế khuyếch đại kư ức: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, truyền thông quốc tế đóng vai tṛ như một cơ chế khuyếch đại kư hiệu, tái tạo và lan tỏa các địa danh lịch sử vượt ra ngoài biên giới quốc gia, qua đó góp phần định h́nh lại cách thức kư ức được tiêu thụ và tái diễn giải trên quy mô toàn cầu. 

 

 

TẠM KẾT. 

 

Hiện tượng tên gọi “Sài G̣n” cho thấy địa danh không chỉ là một đơn vị hành chính–không gian, mà là một thực thể mang tính chính trị–xă hội, nơi kư ức lịch sử và quyền lực biểu tượng cùng vận hành. Việc nhà nước áp đặt việc đổi tên từ “Sài G̣n” sang TP. Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với sự triệt tiêu kư ức cũ của người dân miền Nam, mà ngược lại, nó tạo ra một cấu trúc kư ức lai (Hybrid), nửa vời,  trong đó nhiều tầng diễn ngôn cùng tồn tại và tương tác. Cấu trúc này trở nên đặc biệt bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại, khi kư ức không c̣n bị giới hạn bởi lănh thổ quốc gia. 

 

Trong đời sống xă hội Việt Nam, việc sử dụng tên “Sài G̣n” phản ảnh sự giao thoa giữa kư ức lịch sử, thói quen ngôn ngữ và tính tiện dụng trong giao tiếp, hơn là một hành động chính trị đơn tuyến. Hiện tượng này cho thấy tính phức tạp của thực hành xă hội, nơi các biểu tượng ngôn ngữ vận hành vượt khỏi khuôn khổ hành chính. Các danh xưng có chiều sâu lịch sử vẫn duy tŕ bền vững như một dạng kư ức xă hội, vượt lên trên những thay đổi thể chế (nhưng không hẳn là có chính danh) [2]. V́ vậy, không nên giản lược việc sử dụng tên gọi “Sài G̣n” thành một biểu hiện phổ quát của “chống đối ngầm”. Trong một số diễn ngôn chính trị trong đảng, các hiện tượng ngôn ngữ có thể bị diễn giải như tín hiệu chính trị; tuy nhiên, cách tiếp cận học thuật đ̣i hỏi phân biệt giữa kư ức tập thể và hành vi chính trị có chủ đích. Các biến động lịch sử lớn cho thấy thay đổi xă hội là kết quả của nhiều yếu tố cấu trúc như kinh tế, chính trị, xă hội và tâm lư quần chúng. Trong lĩnh vực hàng không quốc tế, mă định danh SGN theo chuẩn của International Air Transport Association (IATA) phản ảnh ưu tiên về tính ổn định kỹ thuật và liên tục hệ thống hơn là cập nhật theo danh xưng hành chính [3]. Điều này cho thấy trật tự toàn cầu vận hành dựa trên hiệu quả và tính tương thích của hệ thống, thay v́ phụ thuộc vào biến động chính trị nội địa. Tổng thể, hiện tượng tên gọi “Sài G̣n” minh chứng rằng kư ức tập thể không hề bị xóa bỏ mà c̣n được tái cấu trúc trong một không gian đa tầng [7][8][10]. Trong không gian đó, lịch sử, ngôn ngữ và quyền lực cùng tồn tại và tương tác liên tục.

 

 

Ngô Viết Quyền * Saint Cloud, Florida – April 2026 * 

 

Nguồn Tham Khảo/ FOOTNOTES 

 

[1] Azaryahu, M. “The Power of Commemorative Street Names.”
[2] Bourdieu, P. Language and Symbolic Power.
[3] Confino, A. “Collective Memory and Cultural History.”
[4] Edensor, T. National Identity, Popular Culture.
[5] Boym, S. The Future of Nostalgia.
[6] Foucault, M. The Archaeology of Knowledge.
[7] Forest, B. & Johnson, J. “Unraveling the Threads of History.”
[8] Halbwachs, M. On Collective Memory.
[9] Light, D. “Street Names in Post-Socialist Romania.”
[10] Nora, P. Les Lieux de Mémoire.
[11] Smith, A. D. National Identity.
[12] Verdery, K. The Political Lives of Dead Bodies.
[13] Gillis, J. R. Commemorations.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính