STENDHAL ET MES SAISONS EN ENFER COMMUNISTE

 

l khnh thọ (nh văn, họa sĩ, Chteauroux, Php quốc)

 

       H 1991, su năm sau ngy đến Mỹ, cựu đại y Nguyễn Kim Qu, cựu t nhn cải tạo, cựu thuyền nhn, tiến sĩ v gio sư Php văn v Latin tại Đại Học Eastern Washington University v University of Oregon, đ được Ph Lun Hội (Rotary Club) Antony, mời đến Paris thuyết trnh về đề ti Việt Nam sau 1975. ng đ chọn ni về những năm ng bị giam trong cc trại cải tạo Việt Cộng. Sau đy l nguyn văn bi ni chuyện bằng tiếng Php trong đ ng m tả cc trại t v sự độc c của Việt Cộng v cho biết nhờ ơn Thượng Đế v tiểu thuyết của Stendhal ng đ được sống cn như thế no, sau tm năm đy ải.

 

      Bi thuyết trnh của Tiến sĩ Nguyễn Kim Qu (tựa đề lấy theo từ một bi thơ nổi tiếng của thi sĩ Rimbaud, Une saison en enfer) l một phối hợp độc đo, l th, giữa văn chương huyễn mộng qua Stendhal v thực tế gh tởm qua những t ngục Việt Cộng.

 

      Stendhal, tn thật Henri Beyle, l văn sĩ Php, thế kỷ XIX, tc giả những tiểu thuyết nổi tiếng, Le Rouge et le Noir, La Chartreuse de Parme... m những nữ nhn vật đều tuyệt đẹp, v những nam nhn vật đều bị vo t, thực tế hoặc theo nghĩa bng. Thế giới trong tiểu thuyết của Stendhal, kể cả những truyện về t ngục, v thế, ngạt ngo phấn hương nhờ tnh yu, hạnh phc v hnh bng mỹ nhn. Lc Stendhal cn sống, khng ai đọc sch của ng. Mi 50 năm sau khi chết, ng mới được nổi tiếng v trở thnh một hiện tượng trong văn học sử Php. Hiện tại, ng l một trong những văn sĩ hiếm hoi được nghin cứu, ph bnh, i mộ nhiều nhất. C cả một Hội gọi l Stendhal Club, tại Paris v Grenoble.

 

      Ngoi ra, luận n tiến sĩ (1990) của gio sư Nguyễn Kim Qu c tựa đề: La prison dans luvre romanesque de Stendhal (T ngục trong tiểu thuyết của Stendhal). Thng 3, 1992, cng với một số gio sư đại học trn thế giới, ng được mời thuyết trnh về Stendhal nhn ngy mất lần thứ 150 của văn sĩ được tổ chức tại Paris, dưới sự chủ tọa của Tổng thống Php Franois Mitterrand. Bi của cc thuyết trnh vin đều được in thnh sch bn tại Paris.      

 

 

STENDHAL V NHỮNG MA CỦA TI DƯỚI HỎA NGỤC CỘNG SẢN

 

l khnh thọ dịch

 

 

     1. Ti khng bao giờ biết tại sao ti yu thch Stendhal v tiểu thuyết của ng nhiều đến thế. V điều đ, ngay từ thời trung học khi m ti thch th đọc đi đọc lại những trang đầy hương của Đỏ v Đen v Tu Viện thnh Parme, mặc d cha ti, một gio dn Cng gio mộ đạo gần như cực đoan, rất ght. Về chuyện ny, ti sực nhớ cu m ng Victor del Litto, Hội trưởng Stendhal Club, đ bất thnh lnh hỏi ti nhn dịp ti đến Grenoble lần cht, cch đy bốn năm: Tại sao anh thch Stendhal? Ti bối rối, khng biết trả lời sao. Trong những lần phỏng vấn xin dạy học ở Mỹ, ti cũng nghe lặp lại cu hỏi tương tự. Ni thực, ti th nhận hon ton khng biết những l do no khiến ti i mộ văn sĩ ngoại bin lỗi lạc ny nhưng được t người biết, v c lẽ t người thch trong đm độc giả cng thời với ng.

 

     Quả vậy, đối với ti, yu thch Stendhal cũng giống như yu một người đn b, hay một người đn ng. Yu hay khng yu, thế thi. Nhất l với Stendhal, khởi đầu như một tiếng st i tnh rất m i. Sự kết tinh, để dng chữ của ng trong De lamour, chỉ đến chậm v rất lu sau đ. V một tiếng st i tnh, nạn nhn no cũng biết, l khng cắt nghĩa được.

 

     Năm thng tri qua. V by giờ ti lại ngồi trước tờ giấy trắng tm lại một cu cắt nghĩa mới c thể hoặc đng hơn khng c thể. Ti yu thch Stendhal, c lẽ bởi những tiểu thuyết của ng, v trong tiểu thuyết của ng, bởi cc nhn vật nữ bất tử, tuyệt đẹp, dịu dng qu đỗi, đ m hoặc khng chỉ những nam nhn vật, tnh nhn của cc nng, v  những độc giả  như  ti c tm hồn đa cảm, m cn những ph bnh gia hiện đại nghim khắc nhất nữa trong số c Paul Valry, Jean-Paul Sartre v Julien Gracq chẳng hạn, giữa nhiều người khc.

 

     Ti yu, hơn nữa, trong tc phẩm của Stendhal, mi hương thần tin, ngất ngy, trường cửu như trong Proust, khng gian diễm ảo, phi thời gian, cấu thnh bởi thực v hư trộn lẫn, biến hnh, đ vỗ về lng ti trước bao nhiu  sự thật cht đắng, như chnh Stendhal đ viết, của cuộc đời, v lm ti mơ đến những khoảng trời xanh hơn, những m thanh tinh tuyền hơn cho những ca khc vĩnh cửu ti dng cho i tnh v nhan sắc.

 

      2. Trong thời chiến tranh Việt Nam, lc ấy l sĩ quan của qun lực Miền Nam, ti lun mang theo trong ti quần o trận tuyệt phẩm trữ tnh Truyện Kiều của thi ho dn tộc Nguyễn Du chng ti, tập thơ Les Fleurs du Mal của Baudelaire v một quyển tiểu thuyết của Stendhal m ti đọc giữa hai trận đnh, dưới giao thng ho, trong trại binh hay qun rượu... Nguyễn Du, Baudelaire, v nhất l Stendhal, như thế ấy, đ gip ti thot khỏi ci thực tế trĩu nặng m, theo Nerval ni, khng lun lun l em gi của mộng mơ. Ti thường để hồn ru theo nỗi m đềm của một cuộc đời tưởng tượng trong tất cả vẻ rạng ngời của n, trn ngập những my hồng, những tnh yu thắm xanh, những nụ hn v tận, một cuộc đời khng c tn ở trần gian ny. Ci chết rnh rập chng ti mỗi giờ, nhưng văn xui Stendhal, cn hơn l rượu v mỹ nhn, hay ma ty trong thơ Baudelaire, đ cho ti sự can đảm phi thường để đương đầu với n, trực diện: ti đ qun n, chưa đủ, ti đ khinh bỉ n, một cch r rng, dứt khot. Như những nhn vật của Stendhal: Julien, Fabrice, Octave, Lucien  v.v...

 

     Giai đoạn hậu chiến sắp cho qu vị thấy tiểu thuyết, v đặc biệt của Stendhal, đ lm ti m đắm một cch vừa chuyn chế vừa lợi ch như thế no.

 

     3. Chng ta đang ở vo năm 1975. Nền ha bnh nhục nh, p đặt bởi những siu cường lực trn đất nước chng ti ngy 30 thng 4, chấm dứt một cuộc chiến cũng khng km nhục nh v khai tử quốc gia VNCH từ nay bị trao vo tay bọn bạo tn Miền Bắc, kẻ chin thắng khng ngờ. Ngy đ, bỗng nhin ti trở thnh t binh v kẻ th của nhn dn m khng biết chnh xc tại sao. Chế độ mới, tự gọi l cch mạng, đỏ từ đầu đến chn, nhanh chng tự gắn cho mnh một nhiệm vụ vĩ đại: la tất cả sĩ quan v cn bộ Miền Nam vo t. Tại đ bắt đầu mọi bất hạnh của chng ti. Nhưng rồi, lng tin vo Thượng Đế bỗng nhin thức dậy trong ti v sự m say khng phai nhạt đối với Stendhal v những tiểu thuyết của ng thực sự đ cứu vớt ti, khng chỉ thot khỏi những xấu x của đời sống m cn sự tn nhẫn của ci chết ci chết m by giờ tỏ ra ngn lần đe dọa hơn trong lc chiến tranh. Như thế, nhờ ơn Cha v nhờ Stendhal, ti đ c thể sống st sau tm năm giam hm, đi kht, đau khổ, thiếu thốn, trong những trại t khc nhau v cuộc đọa đy khủng khiếp xuống dưới hỏa ngục.

 

     Hỏa ngục Cộng sản, dĩ nhin. Nhưng khng c ngn ngữ no c thể m tả đủ sự tn c của một trại t do bọn Cộng sản Việt Nam tức l Việt Cộng thiết lập. Đ l bọn cai ngục bẩm sinh, qu vị hy tin ti đi, ph diễn một khả năng v kinh nghiệm canh phng v địch. Khng một nơi giam giữ no, hư cấu hay c thực, m ti được biết, kể cả Quần đảo Goulag của Soljenitsyne, hay Hồi ức về căn nh tử tội của Dostoevski, c thể so bằng những trại Việt Nam trong ci m ti gọi l độc c tinh vi: ở đy người ta giết t nhn một cch khoa học, tiệm tiến, nhẹ nhng một cch khủng khiếp, bằng ci đi triền min. Để chế ngự chng ti hiệu quả hơn, bọn khốn nạn đ khai thc kho lo ci bản năng thấp nhất, tệ nhất của con người: nhu cầu ăn. t ra trong t, những nhn vật của Stendhal c thể ăn v uống đầy đủ: Fabrice lại cn c s-c-la của Cllia v Julien c sm banh v x-g của Mathilde gửi cho. Cn chng ti, cn ti, mỗi ngy, bắt buộc phải tự nhn thấy mnh chết lần chết mn như con vật bị vy hm, sống một ci chết hon ton đng nghĩa tồi tệ, nhục nh, hn hạ, cố tnh by ra bởi lũ Cộng sản đồng hương của chng ti. Một ci chết đến chậm, ko di, ko di, với trong hồn mỗi người t sự phẫn nộ bất lực, sự xấu hổ bị dồn vo thế buộc phải thường trực, mỗi ngy, nghĩ đến ci dạ dy trống khng v cch no để lm đầy n.

 

     Bọn họ đ ra lệnh cho cc sĩ quan phải trnh diện những ủy ban cch mạng nhn dn, chuẩn bị một kha học cải tạo m theo thng co chnh thức với lối hnh văn mơ hồ v bịp bợm sẽ ko di chỉ mười ngy hoặc một thng ty theo cấp bậc. Lc ấy vo thng su 1975. Tuy nhin, khng ai ngờ rằng đối với tất cả đ sẽ l một cuộc hnh trnh cuối đm xứng đng với Cline, ko di từ tm, mười, cho tới mười bốn năm, v đối với nhiều người, một v đi khng về, một lần vĩnh biệt cuộc đời v thế gian, trong hai nghĩa đen v bng. Đầu tin chng ti bị giam giữ trong những trại ở Miền Nam. Rồi một ngy đẹp trời, bọn họ quyết định chuyển ra Miến Bắc khoảng một trăm ngn phần tử bị xt l phản động nhất, nghĩa l nguy hiểm nhất, trong đ c Tổng gim mục Si Gn Nguyễn Văn Thuận v một số tướng lnh. Trn biển. Trong vi chiếc tu chở than cũ kỹ tịch thu của ngụy quyền. Chng ti bị cng tay, bị nhốt hng ngn người trong cc hầm tu, v như thể sc vật. Chuyến đi ko di ba ngy. Ba thế kỷ. Khng kh thiếu. Nước cũng thiếu. Thức ăn cho cả ngy l một ảo tưởng: mỗi t nhn được pht hai phong bnh bch qui mốc của lnh made in China, lớn bằng hai hộp dim, chỉ vừa đủ để khỏi chết đi. Pha trn, khng c g ngoi một vm tối đen. Chung quanh, những thn xc bất động chất đống cạ vo nhau v mnh mẩy dnh đầy bụi than. Ci nng kinh hồn hnh hạ t nhn. Ngay những giờ đầu, bốc ln một mi hi thối, lm ngộp thở, đầu độc căn hầm đầy người. Khắp nơi, im lặng như chết.

 

     Từ cảng Hải Phng, nơi m cuối cng chng ti được cập xuống, đến những trại tập trung khc nhau, cn một chuyền đi nữa khng km kinh hong, ko di khoảng hai hoặc ba ngy, bằng tu lửa hay xe cam nhng. V biện php an ninh, cửa lớn v cửa sổ xe lửa phải đng kn mt, dưới ci nắng nung người. Trong những hỏa l lưu động ấy, sự ngộp thở kinh khủng đến nỗi một số t nhn gi yếu v kiệt lực sau chuyến vượt biển đ chết trước khi đến nơi chỉ định.

 

     Những trại t ở Miền Bắc, ti nghĩ khoảng ba mươi, dnh cho chng ti, đều nằm trong vng ni nơi sinh sống của những sắc dn thiểu số lạc hậu nhất hay gia đnh của những người bị đi đy biệt xứ v l do chnh trị từ thời Php thuộc v sau Điện Bin Phủ gần bin giới Tu v Lo, ở đ những con muỗi to bằng những con ruồi hoặc gần như thế. Trn đường, những trẻ em v b gi, bị thc đẩy bởi mối hận th từ lu nui dưỡng v lun kch thch do sự tuyn truyền th bỉ, đ nm thẳng tay vo chng ti đất đ, đồ dơ v ht ln những trng chửi bới thậm tệ. Cũng như cc bạn đồng cảnh khổ, ti cố gắng nuốt những giọt nước mắt. Tủi nhục, đắng cay, uất giận.

 

     Cuộc sống tại cc trại Miền Bắc cn hơn l hỏa ngục. Khng cch no đo thot được. Chng ti bị bao vy một cch tuyệt vọng bởi những rặng ni trng điệp lm thnh những tường lũy thin nhin kin cố. Nhưng rồi, ngay cả nếu thot được, lm sao, ở trn ni, c thể sống st với ci lạnh, đi kht v sức kiệt? Chng ti bị giam trong những tp nh cũ thấp mi rạ, nằm ngủ trn một thứ giường tập thể lm bằng những tấm gỗ th, khng chiếu, khng gối, khng đệm, để rồi sng mai thức dậy mặt my, mnh mẩy rải đầy những vết rệp v muỗi cắn. Ngoi ra, ci lạnh tột độ, lm buốt xương. Về quần o, người ta chỉ pht cho chng ti một bộ đồng phục mu xanh da trời bằng vải th dng trong kỳ hạn hai năm v một tấm chăn cũ nt nhỏ xu bằng len xấu. Khng săng đan, khng tất vớ, khng mũ nn. Những thứ ny, chng ti phải tự xoay xở lấy, người ta bảo chng ti, hoặc l mặc kệ! Vo ma đng hay ma mưa, khng ti no ngủ được, v ci lạnh v ẩm ướt khắc nghiệt, khng thể chịu nổi nữa v chng ti bị cấm đốt lửa trong nh.

 

     Tuy nhin, tất cả những thứ ấy khng l g so với ci đi, cực hnh tồi tệ nhất. Phần ăn hằng ngy của chng ti, quả vậy, l một chn sắn (khoai m) cho một trong hai bữa. Khng c ăn sng. Khng cơm. Khng sữa khng đường. Khng thịt khng rau. Khoai m m người ta cho chng ti đ được phơi kh v, như thế, được dnh những khi mất ma cho heo m heo, ti đon, cũng từ chối khng ăn. V n c mu đen đen, vị chua chua, mi thum thủm. Nhưng ci đi chiến thắng mọi gh tởm v chọn lựa. Với mn ăn kinh khiếp ny, những anh chng d to con nhất, sau vi thng, c mu da xanh mt, vẻ hốc hc, mặt teo lại. Sau một năm, trở thnh những bộ xương biết đi. c đặc lại, người ta khng thể suy nghĩ hay phản ứng g nữa. Qun đi phẩm cch, một số người chỉ cn nghĩ đến ci ăn, v đ cũng tự nhin thi. Tệ hơn, người ta đnh mất ch chống đối, phản khng, tự trọng, v tất cả điều đ hon ton ph hợp với kế hoạch dự tr của Việt Cộng. Sự thiếu dinh dưỡng v thiếu thuốc men sinh ra nhiều căn bệnh hiểm ngho, khng trnh khỏi, v dụ bệnh thiếu sinh tố v ph thũng mỗi ngy, cng với bệnh sốt rt, chng vnh đua về bn kia thế giới, một cch nhẹ nhng, một hay hai t nhn khốn khổ.

 

     Những người cn sống st cứ tiếp tục nhai sắn kh bằng thch, tiếp tục đi, tiếp tục đau, v nhất l tiếp tục lao động khổ sai. Cai t khng ngớt lặp đi lặp lại rằng lao động l nguồn gốc mọi vinh quang, rằng khởi thủy, con người đầu tin, nghĩa l ng tổ của chng ta, l một con khỉ, rằng con khỉ ấy v phải tro ln cy hi tri, xuống ruộng trồng la, vo rừng săn thỏ, vắn tắt, lao động vất vả, đ dần dần mất bộ lng di để trở thnh đẹp đẽ, trơn tru như chng ta hm nay. V thế, người ta ht vo tai chng ti, hy tống cổ những kẻ chy lười lao động, ăn bm, mnh cn đầy lng l, ra khỏi thin đng Cộng sản!

 

     Về lao động hằng ngy, chng ti được chia thnh nhiều đội v tổ, v phải ra hiện trường lm việc tm tiếng mỗi ngy v su ngy mỗi tuần, ngy Cha Nhật dnh cho học tập chnh trị v những cng việc vặt vnh khc nhau. Chng ti lm tất cả mọi thứ, thay đổi việc lm, tổ đội, đồng đội cứ mỗi su thng, đại khi: trồng rau cải, x-lch, la, bắp  những sản phẩm m chng ti khng được quyền ăn. Hoặc sng sớm vo rừng chặt gỗ, đốn tre. Xy hay sửa nh, cầu, đường với dụng cụ th sơ từ thời Thượng cổ. Hoặc thay b ko cy trong ruộng, giữ tru, nui heo, cn g nữa? Ni ngắn gọn, lm tất cả những cng việc đối với chng ti đại y, đại t, v tướng lnh cho đến lc ấy hon ton xa lạ, chưa hề biết, kỳ quặc, v thế rất mệt. Thm vo đ l ci đi, ci lạnh, sự tn tạ thể xc v suy nhược tinh thần, v qu vị hiểu tại sao mức độ tử vong trong cc trại t ln cao như vậy.

 

     Nhất l sự suy nhược tinh thần. N giết người cũng tn nhẫn như ci đi v bệnh hoạn. Trong cảnh khổ, người ta khng thể bỏ qua sức mạnh của tinh thần v chịu đựng của tm hồn. Khng c sự can thiệp cứu rỗi của tinh thần, n tử hnh sẽ khng được bi bỏ, khng hon lại. C nhiều người trải qua suốt thng, kể cả suốt năm, ngồi than vn số phận, tiếc ho một hạnh phc, một vinh quang, hay một tnh yu vĩnh viễn bay mất, hay bm vu một cch tuyệt vọng vo thực tại gh tởm. Những người ấy, ci chết khng bao giờ bắt hụt.

 

     Nhưng đ cũng chnh l điều ti đ lm thời gian đầu. Ti cũng đ khc như mọi người trong đm Ging sinh đầu tin tại trại. V như mọi người, ti thấy đi kinh khủng, khng cử động nổi, thường t v mệt. Sức mạnh thể xc v tinh thần suy sụp chầm chậm, nhưng chắc chắn. Rồi một ngy, được nhn thấy, bất lực, một người bạn thn thiết chết trong hon cảnh hi hng v bất xứng của một con vật người ta đem đi thọc huyết, ti giật mnh sợ hi. Ti khng muốn chết như vậy, ti lặp lại cho chnh mnh trong cơn giận dữ đ nn. Chuyện kể trong Terre des hommes của Saint-Exupry về chng Guillaumet mệt nhoi, nhưng cứ lầm lũi bước đi trong tuyết ngy ny qua ngy khc, để khỏi gục ng, bỗng trở về trong k ức, rất đng lc. V rồi, phục hồi sinh kh ti khng biết nhờ sức mạnh thần linh no, ti bắt đầu bung lại lời thch đố năm xưa cho ci chết hỗn lo, ci chết xanh xao trong một bi thơ của Horace, ci chết m ti đ vất vả vật lộn với, từ thời chiến tranh, nhưng n khng bao giờ chụp bắt được ti, nhờ ơn Cha. Nhất l, ti la lớn, khng bao giờ bỏ cuộc.

 

     Bấy giờ, ti bắt đầu cầu nguyện trở lại, ban đm, v đọc lại với sự say m của một người tnh cũ những tiểu thuyết Stendhal, nhưng bằng tr nhớ, dĩ nhin. Từ đ, ti sống một thực tế khc, tự xem mnh đ chết đối với cuộc đời, như Octave trong Armance. Ti qun, cố gắng qun, bọn cai ngục v trại t, đi v bệnh, quần o tả tơi v thn xc kh ho tất cả những điều nhắc ti khng ngừng vẻ xấu x của địa ngục. Ti chiến thắng nỗi bất hạnh của ti bằng cch thi tưởng nhớ những người đn b đẹp m ti đ quen biết v c khi yu thương trong cuộc đời v by giờ đ trở thnh một thực tế cn kh với nắm, cn xa xi hơn cả chnh mộng mơ. Tri lại, ti chỉ nghĩ đến những nữ nhn vật của Stendhal Mathilde, Mme de Rnal, Cllia, la Sanseverina, Armance, Mme de Chasteller, giữa những nng khc m hnh bng trc tuyệt, vĩnh viễn trẻ v đẹp, đ đưa ti rất nhẹ nhng ra khỏi thực tế phũ phng v tầm thường, ci thực tế m ti nghĩ ti khng phải sinh ra để m lấy, ngay cả thời trước khi vo t. Ngy thng của ti tri qua như thế, m đềm, như nước tri qua cầu, v ti dm ni thm, hạnh phc, dưới bng những tnh nhn đẹp như hoa, t nhiều như trong Proust, t nhiều lạ thường, nhưng sẽ chung thủy, ti hy vọng, với ti cho đến pht la trần những người yu dấu duy nhất đ đến thăm ti trong t, đem lại bnh an v nh sng. Nhờ cc nng v sự hiện diện thường trực, vỗ về, t ngục của ti, tuy khng bao giờ c thể trở thnh thin đường như của Julien Sorel hay Fabrice del Dongo, cũng đ mất đi vẻ th thảm để cho ti ko l, trong nghĩa cụ thể, cuộc sống của ti, hay đng hơn ci chết của ti, một cch xứng đng nhất, cho đến ngy 18 thng ba 1983, thời điểm ti được thả. Sau tm năm trời!

 

     Sau hơn một năm thất bại chề trong những mưu toan vượt trốn qu hương v nỗi khổ bị bắt lại lần ny như một thuyền nhn km may mắn ti v c em gi, một đm đen, được ln trn một chiếc thuyền đnh c nhỏ một hm đ thả chng ti xuống căn cứ hải qun Subic Bay của Mỹ tại Manila sau tm ngy, tm đm tri dạt trn Thi Bnh Dương, giữa cơn bo lớn. Nhưng đ l chuyện khc. Ti trải qua một năm rưỡi tại hai trại tỵ nạn ở Philippines trước khi đến Mỹ định cư ngy 25 thng ging 1985. Ti hứa với lng một ngy no sẽ đến viếng Đc Mẹ Lộ Đức v viết điều g đ về Stendhal. Trong năm năm, ti đ thực hiện hai lời hứa ấy. Luận n tiến sĩ của ti được chấp nhận với lời khen của cc gio sư trường Đại Học Oregon, v được ng del Litto nhận in trong thư mục Stendhal qua nh xuất bản Droz, Genve c chnh ci tựa đề T ngục trong tiểu thuyết Stendhal. Ti khng bao giờ c thể cảm tạ đủ Thượng Đế đ cứu vớt ti như thế bằng cch cho ti một tm hồn rất lng mạn, rất mơ mộng v cho ti niềm si m về văn chương v, mu thuẫn thay, về Stendhal, người ta cn nhớ, khng lun lun dễ thương đối với Ngi.

 

     4. Ti đ qu tuổi tiếc thương hư ảo rồi, nhưng mỗi tiểu thuyết của Stendhal rực rỡ trong ti như nh sng thin đường tm thấy lại. Một mảnh đời tan vỡ. Ti khng thể sống m khng mộng mơ. Cũng giống như những ngy trước, trong địa ngục Cộng sản. Thật l chn nản v cng khi phải lun bm vo thực tế, khi mỗi ngy khng đọc một trong những trang sch Stendhal đầy ắp yu thương, mừng vui, v mi hương phấn. Dầu sao, để bắt chước Pascal trong cuộc c độ nổi tiếng của ng, qu vị sẽ mất g khi đọc một tiểu thuyết của Stendhal? Khng mất g hết. Nhưng nếu thắng, qu vị sẽ được cả một trời mơ, trước mặt, cng với, v chung quanh qu vị. V để kết thc, ti mạn php được trch những dng cuối từ quyển sch của ti về t ngục trong Stendhal m từ nay l một ci niết bn, thực ra, khng tưởng (c t nhn no hưởng được số phận của Julien v Fabrice?), nhưng v cng qu ha cho tất cả chng ta bị nm vo cuộc khiu vũ giả trang được gọi l đời sống, ở thế giới của giờ thứ hai mươi lăm ny trong đ con người, sau những chấn song v km may mắn hơn những nhn vật Stendhal, phải lun đi tm kiếm, như Henri Beyle trong suốt cả đời, một hạnh phc ho huyền, một dng sng Lth khng cn chảy nữa, một giọt lệ khng bao giờ được khc.

 

 

STENDHAL ET MES SAISONS EN ENFER COMMUNISTE

 

nguyn văn bi thuyết trnh của GS Nguyễn Kim Qu

 

    Mesdames et Messieurs,

 

     1. Je ne sais jamais pourquoi jai tant aim Stendhal et ses romans. Et a depuis le lyce o je me plaisais lire et relire les pages odorifrantes du Rouge et le Noir, de La Chartreuse de Parme, malgr laversion de mon pre, catholique fervent, voire extrmiste. A propos, je me souviens de cette question que me posa brle-pourpoint M. Victor del Litto, prsident du Stendhal Club, lors de mon dernier sjour Grenoble, voil quatre ans: Pourquoi aimez-vous Stendhal? Je demeurai perplexe, ne sachant que rpondre. Au cours des interviews pour mon poste de professeur, aux tats-Unis, jentendais se reposer la mme question. A vrai dire, javoue que jignorais tout fait les raisons de ma prdilection pour cet crivain marginal, gnial pourtant trs mal connu, et peut-tre, trs mal aim des lecteurs de son poque. Pour moi, en effet, aimer Stendhal, cest comme aimer une femme, ou un homme. On aime, ou on naime pas, cest tout. Surtout avec lui, il y eut au dbut une sorte de coup de foudre trs doux. La cristallisation, pour reprendre son propre mot dans De lamour, ne vient que lentement et trs longtemps aprs. Et un coup de foudre, aucune victime ne lignore, a ne sexplique pas.

 

     Des annes ont pass. Et me voici, pourtant, devant la page blanche la recherche dune nouvelle explication possible ou plutt impossible. Jaime Stendhal, peut-tre cause de ses romans, et dans ses romans, cause de ses hrones immortelles, si belles, si tendres, qui ont exerc une sduction irrsistible non seulement sur les hros, leurs amants, et les lecteurs comme moi lme sensible, mais encore sur les critiques contemporains les plus svres dont Paul Valry, Jean-Paul Sartre et Julien Gracq, par exemple, entre beaucoup dautres. Jaime, en plus, dans ses uvres ce parfum ferique si enivrant, imprissable comme chez Proust, cette atmosphre si enchanteresse, a-temporelle, faite de fiction et de rel entremls, transfigurs qui me consolent de bien des pres vrits, selon le mot de Stendhal lui-mme, de la vie, et me font rver des cieux plus bleus, des sons plus purs pour mes ternels hymnes lamour et la beaut.

 

 

     2. Pendant la guerre du Vitnam, comme officier des Forces Armes du Sud,  javais toujours dans les poches de mon treillis le chef-duvre lyrique Truyen Kieu de notre grand pote national Nguyen Du, Les Fleurs du Mal de Baudelaire et un roman de Stendhal que je lisais entre deux batailles, dans les tranches, aux casernes ou aux snacks... Nguyen Du, Baudelaire et surtout Stendhal maidaient ainsi mvader hors de la lourde ralit qui, comme dit Nerval, nest pas toujours la sur du rve. Je me laissais souvent charmer par les douceurs dune vie imagine dans toute sa splendeur et remplie de nuages roses, damours vertes, de baisers infinis, dune vie qui na pas de nom ici-bas. La mort nous guettait chaque instant, mais la prose de Stendhal, mieux que le vin et la femme, ou le haschisch dans la posie baudelairienne, me donnait le courage inoui de la dfier, bien en face: je loubliais, cest peu dire, je la ddaignais carrment. Tout comme les hros stendhaliens, Julien, Fabrice, Octave, Lucien, etc...

 

     Lpisode de laprs-guerre va mieux montrer comment les romans, et spcialement ceux de Stendhal, mont tenu sous leur charme la fois tyrannique et bnfique.

                   

     3. Nous sommes en 1975. La paix honteuse, impose par les super-puissances internationales notre pauvre pays le 30 Avril, met fin une guerre non moins honteuse et sonne le glas pour le Sud du Vitnam dsormais livr aux mains des bourreaux du Nord, vainqueurs malgr eux. Ce jour-l, je devins tout dun coup prisonnier de guerre et ennemi du peuple, sans savoir exactement pourquoi. Le nouveau rgime, qui se fit appeler rvolutionnaire, rouge jusquau bout des ongles, sest vite donn une grandiose tche: envoyer en prison tous les officiers et cadres Sudistes. L commencrent tous nos malheurs. Mais ma foi soudain rveille en Dieu et mon inaltrable passion pour Stendhal et ses romans me sauvrent non plus seulement des laideurs de la vie, mais encore des brutalits de la mort qui se rvla maintenant mille fois plus menaante, plus moche quen temps de guerre. Grce Dieu et Stendhal donc, je pus survivre mes huit ans dincarcration, de faim, de souffrances, de privations, dans de multiples camps de labeur, et mon horrible descente en enfer.

 

     Enfer communiste, bien sr. Mais aucun langage ne peut assez dcrire les atrocits dune prison tenue par les Vitnamiens Communistes alias Viet Cong. Ce sont des geliers ns, croyez-moi, faisant preuve dune vigilance et dune exprience hors de pair. Aucun lieu de dtention, fictif ou rel, que je sache, pas mme LArchipel du Goulag de Soljenitsyne ou Souvenirs de la maison des morts de Dostoevski, narrive galer les camps Vitnamiens en ce que jappelle raffinement de cruaut: ici, on tue dune manire scientifique, progressive, affreusement douce, par lobligation une faim permanente. Pour mieux nous matriser, ces salauds exploitaient habilement linstinct le plus bas, le plus dgradant de lhomme: besoin de manger. Au moins, dans leurs prisons, les hros stendhaliens peuvent manger et boire loisir: en plus, Fabrice a le chocolat de Cllia, et Julien, le champagne et les cigares envoys par Mathilde. Quant nous, quant moi, chaque jour, nous tions forcs de nous voir mourir lentement en btes traques, de vivre pratiquement une mort ignoble, humiliante, avilissante, invente exprs par les Viet Cong nos compatriotes. Une mort retardement qui tranait, tranait, avec dans lme de chaque prisonnier la rage impuissante, la honte den tre rduit songer constamment, chaque jour, lestomac creux et au moyen de le remplir.

 

       On avait ordonn aux officiers de se prsenter aux comits rvolutionnaires du peuple, faire les prparatifs dun stage de rducation qui, daprs le communiqu officiel utilisant une phrasologie vague et trompeuse, ne devrait durer que dix ou trente jours, selon les grades. Ctait en Juin 1975. Nul ne sest jamais dout, cependant, que ce serait pour tous un long voyage au bout de la nuit digne de Cline, qui durait huit, ou dix, ou mme quatorze ans, et pour plusieurs un aller simple, un adieu la vie et au monde, littralement. Dabord nous avions t dtenus dans les camps du Sud. Puis, un beau jour, on dcida de transfrer au Nord environ cent mille lments jugs les plus ractionnaires, cest--dire les plus dangereux, dont larchevque de Saigon Nguyen Van Thuan et un bon nombre de gnraux. Sur mer. Dans quelques vieux charbonniers confisqus au gouvernement fantoche. On nous passe les menottes, on nous enferme par milliers dans les cales, on nous rduit ainsi ltat de btail. La traverse dure trois jours. Trois sicles. Lair nous manque. Leau aussi. La nourriture est une chimre: pour toute la journe, chaque dtenu reoit deux biscuits moisis, sorte de ration militaire made in China, grands comme deux botes dallumettes, juste assez pour ne pas crever. Au-dessus, rien quun plafond noir. Autour, des corps inertes empils les uns contre les autres et tout couverts de rsidus de charbon. La canicule exerce son pouvoir nfaste. Ds les premires heures, une exhalaison mphitique et asphyxiante empoisonne les cales bondes. Partout, un silence de mort.

 

     Du port de Haiphong, o nous dbarqumes enfin, aux diffrents camps de concentration, il nous restait effectuer un autre voyage non moins affreux, qui durait peu prs deux ou trois jours, par le train et en camion. Par mesure de scurit, nous dit-on, les portires et les fentres devaient tre compltement fermes, et cela, sous un soleil brlant. Dans ces fourneaux roulants, la suffocation tait telle que plusieurs prisonniers, gs et dj bien affaiblis par lpreuve de la mer, succombrent avant darriver destination.

 

     Les prisons du Nord Vitnam, au nombre dune trentaine, je crois, nous destines, taient toutes sises dans des rgions montagneuses o vivaient les peuplades minoritaires les plus arrires ou les familles des dports et exils politiques depuis loccupation franaise et aprs Dien Bien Phu, prs des frontires chinoise et laotienne et o les moustiques avaient la grosseur des mouches, ou presque. Sur le chemin, des gamins et des vieilles femmes, presss par la haine contre nous longtemps nourrie et sans cesse attise par une grossire propagande, nous lancrent pleine main des cailloux, des ordures et hurlrent des bordes dinjures. Jessayai, comme mes confrres dans le malheur, davaler mes larmes. De honte, damertume, de fureur.

 

    La vie dans les camps nordistes tait plus quinfernale. Aucune possibilit dvasion. Nous tions dsesprment encercls par dinterminables chanes de montagne formant des murailles naturelles solides. Et puis, mme si on russissait les atteindre, comment survivre, l-haut, au froid, la faim, la soif, lpuisement physique? Nous tions cass dans de vieilles baraques basses en toit de chaume, couchions sur une espce de lit collectif fait de rugueuses planchettes de bois, sans nattes, sans oreillers, sans paillassons, pour nous rveiller au matin, le visage et le corps cribls de piqres de punaises et de moustiques. Par ailleurs, le froid tait son comble. Pour tout habillement, on nous donnait chacun un uniforme bleu en tissu grossier utiliser pour deux ans, et une minuscule couverture rpe de mauvaise laine. Pas de sandales, ni chausettes, ni chapeaux. A nous de nous dmerder, nous dit-on, ou tant pis! En hiver et en saison des pluies, ctait impossible de dormir, tant le froid et lhumidit devenaient intolrables, impitoyables, et on nous interdisait de faire du feu dans la baraque.

 

     Tout a, cependant, ntait rien ct de la faim, le pire des tourments. Notre ration alimentaire, en effet, se limitait un bol de racine de manioc pour lun des deux repas quotidiens. Pas de petit djeuner. Pas de riz. Ni lait ni sucre. Ni viande ni lgumes. Le manioc quon nous donnait avait t sch au soleil et, ainsi, servait de nourriture en cas de mauvaise rcolte aux cochons qui, je devine, lauraient mme refus, car il avait une couleur noirtre, un got douteux, sinon aigre, une odeur ftide. Mais la faim avait raison du dgot et du choix. Avec cette horrible boustifaille, les gars, mme les plus costauds, au bout de quelques mois, avaient le teint ple, lair hagard, la figure dcharne. Aprs un an, a devenait des squelettes ambulantes. La cervelle devenue pteuse, on ne pouvait plus rflchir, ni ragir. Oubliant leur dignit, plusieurs ne pensaient plus qu la bouffe, et ctait tout fait normal. Pire, on perdait ainsi toute vellit de rsister, de se rvolter, de se respecter, et tout a se conformait parfaitement au plan prvu par les geliers. La malnutrition et le manque de vitamines et de mdicaments engendraient de nombreuses invitables maladies graves, lavitaminose et le bribri par exemple, qui, avec le paludisme, ne tardaient pas envoyer, tout doucement, chaque jour, dans lautre monde un ou deux pauvres diables.

 

     Les survivants, eux, continuaient de plus belle mcher du manioc sec, avoir faim, tre malades, et surtout travailler dur. Les gardiens ne cessaient de rpter que le travail est source de toute gloire, et quau commencement, le premier homme, savoir notre anctre, avait t un singe, que ce singe force de grimper sur larbre pour cueillir les fruits, descendre dans le champ pour semer les grains, courir dans la fort pour chasser les livres, bref, de travailler dur, avait, peu peu, perdu ses longs poils pour devenir beau, lisse comme nous le sommes aujourdhui. Que les paresseux, les parasites, les gens velus, nous hurlait-on loreille, soient donc limins du paradis communiste!

 

    Pour le labeur quotidien, nous tions diviss en plusieurs compagnies et sections, et sortions travailler aux champs huit heures par jour, six jours par semaine, le dimanche tant rserv lducation politique et aux diverses menues besognes. Nous faisions tout et devions changer de job, de compagnie, de compagnons tous les six mois, grosso modo: planter des choux, des salades, du riz, du mas que nous navions dailleurs pas le droit de manger. Ou aller de grand matin dans la fort ou la montagne couper du bois, du bambou. Construire ou rparer des maisons, des ponts, des routes avec les outils rudimentaires datant de lAntiquit. Ou labourer la terre en tirant la charrue la place des bufs, garder les buffles, lever les porcs, que dirais-je encore ? Bref, faire tout ce qui pour nous capitaines, colonels, et gnraux tait jusque-l tout fait inconnu, tranger, bizarre et partant trs puisant. Ajoutez cela la faim, le froid, laffaiblissement physique et la dpression morale, et vous comprenez que le taux de mortalit dans les camps soit si lev.

 

     Surtout la dpression morale. Elle tue avec la mme cruaut que la faim et la maladie. Dans le malheur, on ne peut pas se passer de la force morale et de la rsistance spirituelle. Sans lintervention rdemptrice de lesprit, la peine de mort est irrvocable et nadmet point de sursis. Or, nombreux taient ceux qui passaient des mois, voire des annes, se lamenter sur leur sort, nourrir le vain regret dun bonheur, dune gloire, ou dun amour perdus pour toujours, ou sagripper dsesprment la ralit rpugnante. Ceux-l, la mort ne les ratait pas.

 

     Mais voil exactement ce que javais fait, au dbut. Javais pleur chaudes larmes comme tout le monde au premier Nol. Et comme tout le monde, javais horriblement faim, bougeais peine, tombais souvent de fatigue. La force du corps et de lesprit priclitait lentement, mais srement. Puis un jour, en regardant, impuissant, un de mes chers amis mourir dans les conditions affreuses et indignes dun animal quon allait gorger, je tressaillis de peur. Je ne veux pas mourir de cette manire, me suis-je rpt avec une colre sourde. Le souvenir de Guillaumet dans Terre des hommes de Saint-Exupry, qui, fourbu, sobstine marcher dans la neige pendant des jours, pour viter de succomber, me revint soudain lesprit, trs propos. Et alors, anim de je ne sais quel souffle divin, je me mis relancer le grand dfi dautrefois linsolente Mort, cette pallida Mors dans un pome dHorace, avec laquelle je mtais collet tant bien que mal, depuis la guerre, et qui ma toujours loup, grce Dieu. Surtout, ai-je cri, il ne faut jamais capituler.

 

 

Tiến sĩ Nguyễn Kim Qu đang trnh by bi tại Chi Hội Antony của  Rotary Club. Người thứ hai từ phải l ng Chủ tịch Chi hội cng bốn vị trong Ban Chấp Hnh. Thnh vin cử tọa ngồi pha dưới (khng c trong ảnh). Bản đồ Việt Nam treo trn tường do thuyết trnh vin mang đến.

 

    Alors, je recommenai rciter mes prires, la nuit, et relire avec lardeur dancien amoureux les romans de Stendhal, mais mentalement, bien sr. Ds lors, je vivais une autre ralit, me voyant dj mort au monde, linstar dOctave dans Armance. Joubliais, jessayais doublier, les geliers et les camps, la faim et la maladie, mes guenilles et mon corps dssch  tout ce qui devait me rappeler sans cesse la hideur de lenfer. Je triomphais de ma misre en ne pensant plus ces belles femmes que javais connues ou mme aimes dans la vie, et qui sont maintenant devenues un rel plus inaccessible, plus lointain que le rve lui-mme.  Par contre, je ne songeais qu ces hrones stendhaliennes Mathilde, Mme de Rnal, Cllia, la Sanseverina, Armance, Mme de Chasteller, entre autres dont limage sublime, ternellement jeune et belle, me dlivrait bien doucement de cette ralit cruelle et banale pour laquelle je ne me croyais jamais tre fait, mme lpoque ant-carcrale. Mes journes coulaient ainsi, tranquilles comme leau sous le pont, et mme, je dirais plus, heureuses, lombre des ces amantes en fleurs, plus ou moins proustiennes, plus ou moins singulires, mais fidles, jesprais, jusqu mon dernier souffle les seules femmes qui fussent jamais venues me consoler dans mes prisons, me rendre la paix et le soleil. Grce elles et leur prsence permanente et rconfortante, ma prison, sans jamais pouvoir tre paradisiaque comme celle de Julien Sorel et de Fabrice del Dongo, perdit quand mme son aspect lugubre pour me permettre de traner, au sens propre, ma vie, ou plutt ma mort, dune manire aussi digne que possible, jusquau 18 Mars 1983, date de ma dlivrance. Huit ans dj!

 

     Un an plus tard. Aprs dinfructueuses tentatives dvasion hors du pays,  dchecs, de dboires et un nouvel emprisonnement cette fois comme un boat-people malchanceux jai pu, dans une nuit sombre, avec ma jeune sur, membarquer dans un petit bateau de pche qui nous a dposs un jour la base navale amricaine de Subic Bay Manille aprs avoir flott la drive pendant huit jours et huit nuits sur le Pacifique, en pleine tempte. Mais l, cest une autre histoire. Jai pass un an et demi dans deux camps de rfugis aux Philippines avant darriver aux tats-Unis le 25 Janvier 1985. Je me suis promis daller un jour Lourdes et dcrire quelque chose sur Stendhal. Pendant cinq ans, jai russi remplir ces deux promesses. Ma thse de doctorat, reue avec les flicitations des professeurs de lUniversit dOregon, que M. del Litto a accept de faire publier par Droz, Genve, dans sa collection stendhalienne, sintitule justement La prison dans luvre romanesque de Stendhal. Je ne puis jamais assez remercier Dieu de mavoir ainsi sauv en maccordant une me trs romantique, trs rveuse, et  minspirant cette passion folle pour la littrature et, paradoxalement, pour Stendhal qui, on sen souvient, nest pas toujours gentil envers Lui.

 

    4. Jai dj dpass lge des vaines nostalgies, mais chaque roman de Stendhal brille toujours en moi comme lclat dun paradis retrouv. Un morceau de ma vie brise. Je ne peux plus vivre sans rver. Comme autrefois au fond de lenfer communiste. Quel irrmdiable ennui de ne saccrocher toujours quau rel, de ne pas lire chaque jour une de ces pages stendhaliennes palpitantes damour, de joie, de parfum ! Aprs tout, pour imiter Pascal dans son fameux pari, quallez-vous perdre en lisant un roman de Stendhal? Rien, dirais-je! Mais si vous gagnez, vous auriez tout un ciel du rve, devant, avec et autour de vous. Et pour finir, je me permets de vous citer les dernires lignes de mon livre sur la prison stendhalienne, qui devient dsormais tout un nirvana, utopique certes (quel prisonnier a connu le sort de Julien et de Fabrice ?), mais infiniment prcieux pour nous tous jets dans ce bal masqu appel la vie, dans ce monde de la vingt-cinquime heure o lhomme, derrire ses barreaux et moins chanceux que les hros stendhaliens, est en qute perptuelle, comme Henri Beyle sa vie durant, dun bonheur impossible, dun Lth qui ne scoule plus, dune larme qui nest point pleure.

  

Antony, France, Juillet 1991

Portland, USA, Aot 2012

 

 

 

Tin Tức - Bnh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chnh