Văn tế

 Anh Hùng Tử, Khí Hùng Bất Tử

 

 

Đất nước ngả nghiêng theo thời thế

Sa trường thân nát máu đào rơi

Thế nguy khốn quân dân kiệt

Khứ lai chinh chiến kỷ quân nhân hồi

Thắng bại lẽ thường nghiệp binh gia

Hơn thua không thể luận anh hùng

Chiến trường da ngựa bọc thây

Được thua dân quân ngậm ngùi thương cảm

Anh hùng tử khí hùng bất tử

Toàn dân quân Tổ Quốc ghi ơn

Sinh vi tướng tử vi thần

Chiến sĩ bất tử chỉ nhạt nhòa đi

 *

Nam quốc mục đồ vận tàn suy

Vượng khí phương Nam đã rối bời

Thế như thế phải chịu thế

Tang thương máu lệ giờ giọt bụi bay

*

Thế suy thế thế thời hận thế

Thế yếu thế thế thời nhục thế

Thế mạc thế thời khốn thế

Thế tận thế thời thế thế nạn thế

 *

Nghe Quốc Quốc chạnh lòng nhớ Nước,

Tiếng Gia Gia nhỏ lệ thương Nhà.

Ngậm ngùi nước mất nhà tan,

Hận này mang xuống tuyền đài chưa nguôi

 

 

Lê Huy Trứ

 

 

 

Anh Hùng Tử – Khí Hùng Bất Tử

 

 

 

 

Vinh Danh Những Chiến Sĩ Anh Hùng Đă Tuẫn Tiết Trong Ngày 30 Tháng 4 năm 1975.

 

Tháng 4 đen ngày quốc hận 30 tháng 4 năm 1975. Việt Nam Cộng Ḥa bị bức tử trong bàn cờ quốc tế. Đă để lại nhiều hệ luỵ rất đau buồn, khiến cho gia đ́nh ly tán. Chúng ta nên tự hỏi đă có bao nhiêu chiến sĩ anh hùng đă tự sát, không chịu đầu hàng trong ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975. Những vị Anh Hùng những chiến sĩ QLVNCH đă tự sát trong ngày cuối cùng của Quân Lực VNCH.

 

Tôi thử đi t́m và nhận ra một danh sách khá dài, những vị anh hùng đă tuẫn tiết không chịu đầu hàng cộng sản. Tôi nghĩ danh sách này cũng chưa đủ, có thể sẽ c̣n nhiều hơn nữa, những vị anh hùng đă tuẫn tiết hy sinh trong ngày mất nước mà chúng ta chưa biết đến, không phải chỉ có những cấp Tướng, cấp Tá, hay Sĩ quan trong quân đội, mà ngay cả những chiến sĩ không cấp bậc, những người lính rất b́nh thường như Địa Phương Quân, Nghĩa Quân cũng đă tuẫn tiết hy sinh, không để bị rơi vào tay cộng quân.

 

Chính những người chiến sĩ can trường này, đă trở thành những vị anh hùng thắp sáng ngọn lửa oai hùng cho QLVNCH.

 

Sau đây là danh sách các vị Anh Hùng đă tự sát trong ngày cuối cùng của miền nam Việt Nam.

 

Hăy vinh danh các vị Anh Hùng của QLVNCH.

 

Anh Hùng Tử – Khí Hùng Bất Tử

 

Danh sách các quân nhân Quân Lực VNCH đă tự sát trong những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa.


Cấp bậc    –     Họ tên    –    Chức vụ   –    Đơn vị    –    Ngày tự sát.


1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn II 30/4/1975.

2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn IV 30/4/1975.

3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn IV 30/4/1975.

4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh 30/4/1975.

5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh 30/4/1975.

6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Khóa 16 Đà Lạt. 31/31975 tự sát tại Quy Nhơn.

7- Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ông đă bị Việt Cộng xử bắn ngày 14 tháng 8 năm 1975 mặc dù ông không tự sát, như những vị anh hùng khác nhưng khí tiết anh hùng hiên ngang gục chết trước pháp trường đă làm cho cộng quân phải khiếp sợ, cái chết của ông là bản anh hùng ca c̣n lưu giữ măi trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

8- Thiếu Tá Hải Quân Lê Anh Tuấn (bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang). 30/4/1975.
9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập, đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ. Tự sát30/4/75 tại BTLKQ.

10- Trung Tá Nguyễn Văn Long CSQG 30/4/1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Sài G̣n.

11- Trung Tá Nguyễn Đ́nh Chi Phụ Tá Chánh sở 3 An Ninh Quân Đội. Tự sát 30/4/1975 tại Cục An Ninh Quân Đội.

12- Trung Tá Phạm Đức Lợi, phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM 30/4/1975.
13- Trung Tá Vũ Đ́nh Duy, Trưởng Đoàn 66 Đơn Vị 101 Bộ TTM. Tự sát ngày 30/4/1975.
14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn, Trưởng Đoàn 67 Đơn Vị 101 Bộ Tổng Tham Mưu. Tự sát ngày 30/4/1975.

15- Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Tự sát ngày 28/4/1975 cùng vợ, 2 con và cháu (bằng súng).

16- Thiếu Tá Đặng Sỹ Vĩnh, trưởng Ban Binh Địa P2 Bộ TTM, sau biệt phái qua Cảnh Sát. Ngày 30/4/1975 tự sát cùng vợ và 7 con.

17- Thiếu Tá Mă Thành Liên (Nghĩa), tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu- khoá 10 Đà Lạt. Ngày 30/4/1975 tự sát cùng vợ.

18- Thiếu Tá Lương Bông, phó ty An Ninh Quân Đội Phong Dinh. Tự sát ngày 30/4/1975.
19- Thiếu Tá Trần Thế Anh, Đơn vị 101 Bộ Tổng Tham Mưu. Tự sát ngày 30/4/75.

20- Đại Úy Vũ Khắc Cẩn, Ban 3, Tiểu Khu Quảng Ngăi. Tự sát 30/4/1975.

21- Đại Úy Tạ Hữu Di, Tiểu đoàn phó 211 Pháo Binh Chương Thiện. Tự sát 30/4/1975.
22- Trung Úy CSQG Nguyễn Văn Cảnh, trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8. Tự sát ngày 30/4/1975.
23- Chuẩn Úy Đỗ Công Chính, TĐ 12 Nhảy Dù. Tự sát ngày 30/4/1975; tại cầu Phan Thanh Giản.

24- Trung Sĩ Trần Minh, gác Bộ Tổng Tham Mưu. Tự Sát 30/4/1975.

25- Thiếu Tá Đỗ Văn Phát, Quận Trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên 1/5/1975.

26- Thiếu Tá Nguyễn Văn Phúc, Tiểu đoàn trưởng ĐPQ, Tiểu Khu Hậu Nghĩa. Tự sát ngày 29/4/1975.

27- Trung Tá Phạm Thế Phiệt tự sát ngày 30/4/1975.

28- Trung Tá Nguyễn Xuân Trân, Khoá 5 Thủ Đức, Ban Ước T́nh T́nh Báo P2. Bộ TTM.Tự sát ngày 1/5/75.

29- Trung Tá Phạm Đức Lợi, Pḥng 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả, nhà văn, thơ, soạn kịch, bút danh: Phạm Việt Châu, cựu giảng viên SNQĐ, Trưởng phái đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội. Tự sát tại nhà riêng ngày 5/5/1975.

30- Đại Úy Nguyễn Văn Hựu, trưởng Ban Văn Khố P2/Bộ TTM. Tự sát sáng 30/4/75 tại P2/Bộ TTM

31- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, Cảnh sát đặc biệt, tự sát ngày 30/4/1975. tại Thanh Đa, Sài G̣n.

32- Thiếu Úy Nhảy Dù Huỳnh Văn Thái, khoá 5/69 Thủ Đức. 30/4/1975 tự sát tập thể cùng 7 chiến sĩ Nhảy Dù tại Ngă 6 Chợ Lớn.

33- Trung Úy Đặng Trần Vinh (con của Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh), P2 BTTM. Tự sát cùng vợ con 30/4/1975.

34- Trung Úy Nghiêm Viết Thảo, An Ninh Quân Đội, khóa 1/70 Thủ Đức. Tự sát 30/4/1975 tại Kiến Ḥa.

35- Thiếu Úy Nguyễn Thanh Quan (Quan Đen), phi công PĐ 110 Quan Sát (khóa 72). Tự sát chiều 30/4/1975.

36- Hồ Chí Tâm B2, TĐ 490 ĐP ( Mănh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau). Tự sát bằng súng M16 trưa 30/4/1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau.

37- Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày 30/4/1975 tại Vũng Tàu.

38- Thượng Sĩ Bùi Quang Bộ, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày 30/4/1975. Cùng gia đ́nh 9 người tại Vũng Tàu.

 

Danh Sách Những Anh Hùng Cảnh Sát Quốc Gia Đă Tuẫn Tiết

 

1- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, cựu Tổng Giám Đốc CSQG, tuẫn tiết tại Bản doanh Sư Đoàn 7 Bộ Binh lúc 6 giờ chiều ngày 30/4/1975.

2- Trung Tá Nguyễn Văn Long, Chánh Sở Tư Pháp BCH/CSQG Khu 1, tuẫn tiết duới chân tượng đài TQLC trước trụ sở Hạ Viện Sài G̣n sau khi Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt sáng 30/04/1975.

3- Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh, Quân Nhân Biệt Phái, Trưởng Pḥng Trung Ương Kỹ Thuật trực thuộc Văn Pḥng Tư Lệnh CSQG, cùng vợ và 7 con uống thuốc độc tự vẫn tại nhà riêng ở Ngă Ba Ông Tạ Sài G̣n sáng 30/4/1975, trong đó có con trai trưởng là Trung Uư Đặng Trần Vinh, Pḥng 7 Bộ Tổng Tham Mưu.

4- Trung Tá Nguyễn Văn Đức, nguyên CHT Biệt Đoàn Cảnh Sát Lưu Thông BCH/CSQG Thủ Đô, tuẫn tiết bằng súng lục tại VP của Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, CHT Biệt Động Quân, khi Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng CS.

5- Trung Tá Đỗ Thanh Liêm, BTL/CSQG, tự sát tại trại giam ở biên giới Việt Miên.

6- Trung Tá Vơ Tuyết Hồ, Khối ĐB, BTL/CSQG tự sát trong lúc di tản qua khu rừng Sát khi nghe tin Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

7- Thiếu Tá Đỗ Minh Hoàng, Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Quận B́nh Phước, Tỉnh Long An, tự sát tại Cầu Quay Mỹ Tho ngày 30/4/75.

8- Trung Uư Ngô Văn Cho, Phó Trưởng Cuộc Vơ Tánh, BCH/CSQG Quận Nh́ Sài G̣n và 6 người trong gia đ́nh đă tự sát bằng súng lục đêm 2/5/1975 tại Cư Xá Quận Nh́, Sài G̣n.

9- Trung Uư Nguyễn Văn Cảnh, Phó Trưởng Cuộc CSQG Phường Xóm Chiếu, BCH/CSQG Quận 4 Sài G̣n, tự sát trong ngày 30/4/1975 tại Văn Pḥng Cuộc.

10- Trung Uư Du, không rơ họ, Trưởng Cuộc CSQG, tự sát cùng gia đ́nh ngày 30/4/1975 tại Sài G̣n.

11- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, Khóa 6 Học Viện CSQG, Cơ Quan D6 (Trung Tâm Thẩm Vấn) Khối Đặc Biệt BTL/CSQG uống thuốc độc tự tử tại nhà riêng ở Cư Xá Thanh Đa Sài G̣n, được gia đ́nh phát giác đưa đi bệnh viện cứu sống, nhưng sau đó Thiêu Uư Nguyễn Phụng đă quyết tâm tự sát lần nữa bằng cách cắt đứt gân máu tay của ḿnh.

12- Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Liêm, không rơ nhiệm sở, tự sát ngày 30/4/75.

13- Thiếu Uư Nguyễn Văn Lung, BTL/CSQG, kê súng bắn vào đầu tự sát ngày 30/4/75 nhưng được cứu sống.

14- Thượng Sĩ Vơ Văn Cẩm, BCH/CSQG Biên Ḥa, tự sát tại Nhơn Trạch, Biên Ḥa ngày 30/4/75.

15- Thượng Sĩ Bùi Văn Mương, G.ĐB Quận Củ Chi, tự sát 30/4/75.

16- Thượng Sĩ Trần Văn Phát, Sĩ Quan Phụ Tá G.ĐB Quận Củ Chi, tự sát 30/4/75.

17- CH Dung, không rơ họ, cấp bậc, nhân viên CSĐB Tân Thông, tự sát 30/4/75.

18- CH Trần Khả, không rơ cấp bậc, Trưởng Cuộc Hoà Thắng, Phú Yên tự sát tại  nhà ngày 31/3/75.

19- Trung Sĩ 1 Nguyễn Xuân Ba, BCH/CSQG Tỉnh B́nh Định, tự sát ngày 2/4/75 tại B́nh Định.

20- Trung Sĩ 1 Lê Thành Chương, BCh/CSQG Tỉnh B́nh Định, tự sát ngày 2/4/75 tại B́nh Định.

21- Trung Sĩ 1 Ngô Xuân Lạc, không rơ nhiệm sở, tự sát ngày 2/4/75 tại B́nh Định.

22- Trung Sĩ Nguyễn Du, không rơ nhiệm sở, tự sát ngày 2/4/75 tại B́nh Định.

23- Thượng Sĩ Trần Thi, G.ĐB Quận Tư Nghĩa Quảng Ngăi, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

24- Thượng Sĩ Nguyễn Hồng Lạc, Cựu Trưởng Cuộc Tư Quang, Quận Tư Nghĩa, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/1975.

25- Trung Sĩ 1 Huỳnh Vĩnh Bá, G.ĐB Quận Sơn Tịnh, tự sát bằng súng cùng với gia đ́nh trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

26- Trung Sĩ 1 Nguyễn Văn Quế, G.ĐB Quận Sơn Tịnh Quảng Ngăi, bị Cộng Sản bắt và dẫn về nhà để lấy tài liệu mật báo viên. Tại tư gia, trong lúc giả vờ đi đem hồ sơ MBV, TS Quế lấy lựu đạn đă được cất dấu tại nhà, mở chốt tự sát và gây thương tích cho hai tên VC áp giải và vợ con.

27- Trung Sĩ 1 Lâm Tài, F. ĐB Quảng Ngăi, chiến đấu và tự sát trong một cái cḥi ở Xă Sơn Long, Quận Sơn Tịnh, Quảng Ngăi khi bị VC phát hiện tấn công, trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

28- Trung Sĩ 1 Lê Minh Xuân, nhân viên G Nghiên Cứu F Đặc Biệt Quảng Ngăi, tự sát tại nhà.

29- Trung Sĩ 1 Huỳnh Trần Bá, G.ĐB Quận Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngăi, ném lựu đạn gây cộng quân tử thương tại B́nh Liên, quận B́nh Sơn sáng ngày 25/3/75 và đă tự sát sau đó.

30- Trung Sĩ 1 Nguyễn Tiền, Cuộc B́nh Hoàng, Quận B́nh Sơn, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

31- Thiếu Uư Đinh Văn Hường, Trưởng Cuộc Ba Xuyên, Quận Ba Tơ, tự sát tại Trại Gia Binh Thiết Giáp Xă Tư Chánh, Quận Tư Nghĩa trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

32- Thượng Sĩ Đoàn Văn Nhược, Phó Trưởng Cuộc Nghĩa Hưng, Quận Nghĩa Hành tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

33- Trung Sĩ 1 Trần Đức Một, Biệt Phái Toà HC Tỉnh Quảng Ngăi, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

34- Thượng Sĩ Bùi Đức Tôn, F.ĐB Quảng Ngăi, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

35- Trung Sĩ 1 Huỳnh Quang Thông, Thẩm vấn viên F. ĐB Qủang Ngăi, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

36- Thượng Sĩ Vũ Phúc Loan, Trại Tạm Giam BCH/CSQG Tỉnh, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

37- Nguyễn Văn Tiểng, Đại Đội 106 CSDC, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

38- Trung Sĩ 1 Trương Vận, G.ĐB Quận B́nh Sơn, tự sát trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/75.

39- Trung Sĩ 1 Phạm Văn Tuyển, Trung Đội Phó, Đại Đội 106 CSDC Quảng Ngăi, tự sát tại B́nh Liên, Quận B́nh Sơn trong đêm Quảng Ngăi di tản 24/3/1975.

40- Trung Sĩ 1 Nguyễn Phú, G.ĐB Quận Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam, tự sát cuối tháng 3/75.

41- Trung Sĩ 1 Nguyẽn Văn Tố, G.ĐB Quận Cai Lậy, Tỉnh Định Tường, tự sát tại Trại Mỹ Phước Tây, Cai Lậy.

42- Thiếu Úy Vơ Công Hạnh, BCH/CSQG Quảng Nam, tự sát tại Trại Phú Túc, Quảng Nam.

43- Trung Uư Mă Phúc Hiệp,Trưởng Cuộc CSQG, trốn trại và tự sát tại nhà trong khi bị VC truy bắt.

44- Thiếu Uư Nguyễn Văn Lắm, Khóa 4, Trưởng G ĐB Quận Đức Thịnh, Tỉnh Sa Đéc, tự sát 30/4/1975.

45- Trung Úy Trần Văn Kha, K2 HVCSQG, tự sát trên đường số 7 Tuy Ḥa trong di tản.

46- CSV Trần Hữu Viên, G. Đặc Biệt Quận Phước Ninh, BCH/CSQG Tỉnh Tây

       Ninh, tự sát tại Khách Đ́nh, Ṭa Thánh Cao Đài Tây Ninh tối 30/4/1975.

47- Thiếu Úy Hoàng Xuân Lân, Trưởng Cuộc B́nh Tân, BCH/CSQG Quận Ḥa Lạc, Tỉnh G̣ Công, tự sát lúc 11 giờ sáng 30/4/1975.

 

Danh sách bao gồm 47 chiến sĩ trong lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia thiết lập. Tôi đă sưu tầm trên trang Website Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.

 

Tôi nghĩ danh sách này có thể c̣n dài hơn, v́ chúng ta không có đủ dữ liệu để cập nhật theo danh sách “Anh Hùng Tử – Khí Hùng Bất Tử”.

 

Những anh hùng vô danh của Quân Lực VNCH được nhắc nhở đến với tinh thần “anh hùng tử, khí hùng nào tử”. Người anh hùng chết nhưng chí khí anh hùng không chết. Các vị tướng lănh đă tuẫn tiết được nhớ đến như “sinh vi tướng, tử vi thần” Sống làm tướng, chết thành thần.

 

Tưởng niệm, vinh danh những anh hùng đă vị quốc vong thân không ǵ bằng chúng ta hăy tiếp bước theo ư chí của những vị anh hùng, để nêu cao ư chí bất khuất trong cuộc chiến mới. Đó là đấu tranh trên mọi b́nh diện “Văn Hoá” để đem đến nền dân chủ, tự do cho đồng bào Việt Nam trong cả nước. Mang lại những quyền tự do căn bản được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) được Đại Hội Đồng LHQ thông qua ngày 10 tháng 12, 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp.

 

Đảng Cộng Sản Việt Nam không xứng đáng lănh đạo đất nước v́ đảng, độc tài đảng trị, tham nhũng, nhất là thái độ hèn với giặc, ác với dân, nhưng tội nặng nhất là truyền thống bán nước của đảng, từ Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh, đến Đỗ Mười, đến Lê Khả Phiêu và sau đó là Lê Đức Anh, đă dâng hiến các đảo ở Trường Sa cho Trung Cộng.

 

Tội lớn nhất của cộng sản là đưa cả dân tộc Việt Nam vào chế độ độc tài, tàn bạo, vô nhân bất nghĩa, đă bị kết án về tội diệt chủng và tội chống loài người, một chủ thuyết đă bị lịch sử ném vào sọt rác của nhân loại.

 

Cuộc chiến tranh Việt Nam, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có một câu hỏi được đặt ra. Cuộc Chiến này ai thắng ai thua?. Nếu chúng ta nhận xét yếu tố thắng thua theo (Binh Pháp Tôn Tử). “Chiếm được thành quách chưa phải là người chiến thắng. Mả chiếm đượ ḷng dân mới là người thật sự chiến thắng”.

 

Trên thực tế mọi người Việt Nam đều nhận ra. Cộng Sản Việt Nam đă xâm chiếm, giải phóng Miền Nam. Nhưng ngược lại, chính tinh thần của người miền Nam đă giải pḥng t́nh thần và nền văn hoá (gông cùm) của miền Bắc.

 

 Cuộc chiến tranh Việt nam tuy kết thúc những đă để lại nhiều hệ luỵ về đời sống và ngay cả trong suy nghĩ của cả hai bên. Đối với những con người chân chính, những người bên thắng cuộc, không phải họ không biết ǵ, họ vẫn nhận ra sự sai lầm, khi chính họ đă bị lừa, bị đảng bịt mắt dẫn đưa vào một cuộc chiến tương tàn của dân tộc Việt Nam.

 

Hay đọc câu nói này từ (bên thắng cuộc)

Nếu ai đó hỏi cha tôi 30/04 là ngày ǵ? Cha tôi sẽ trả lời, đó là ngày mà ông nhận ra ḿnh đă bị lừa dối. Ông và các đồng đội của ông là “Thế hệ bị lừa dối”.”

“C̣n nếu ai đó hỏi ông muốn gọi 30/04 là ngày ǵ? Th́ tôi xin phép được trả lời thay cho cha tôi, hăy gọi 30/04 là ngày phán xét.

 

Cuối cùng, tôi muốn thay mặt cha tôi gửi lời xin lỗi chân thành đến những người lính ở phía bên kia.

 

30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam

 

Chúng ta hăy thắp lên nén nhang buồn, hăy thắp sáng nén nhang ḷng, để gửi đến Những Anh Hùng bất Khuất, những lời cầu nguyện, cho Hương Linh của các vị sớm siêu thoát, yên nghỉ trên cơi Niết Bàn hay Thiên Đàng

 

Nỗi đau ḷng không của riêng ai, nỗi đau ḷng là của chung mọi người, những con người chân chính, với tấm ḷng trắc ẩn về một quá khứ đau thương, mà mỗi năm người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại luôn luôn tưởng niệm.

 

Ngày phán xét 30 tháng Tư Đen.

 

Viết và sưu tầm, để tưởng niệm ngày 30 tháng Tư Đen.

 

 

AET Tê Luấn

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính