Lật tẩy “Nhật Kư Trong Tù”

(Nguyên tác: Huyễn Thoại hay Huyền Thoại)

 

 

 

(Hội Văn Hóa Việt phỏng vấn Gs Lê Hữu Mục về HCM)

Tinh Vệ (Diệu Tần) – 22 Jun 2003

 

 

Ghi chú thêm 10 Feb 2007

 

Nhân chuyến Hoa Kỳ Du, học giả Lê Hữu Mục có dành cho chương tŕnh phát thanh của Hội Văn Hóa Việt một cuộc phỏng vấn tại San Jose, California. Bài phỏng vấn này do Gs Trần Công Thiện, đồng nghiệp của Gs Lê Hữu Mục tại Đại học Sư phạm Sài G̣n, và Ls Đỗ Doăn Quế thực hiện ngày 8.6.2003, phát thanh sáng và chiều chủ nhật, đồng thời đưa lên Internet, website của Đài Quê Hương. Chúng tôi dựa theo những câu trả lời của GS Mục, sắp xếp lại, bàn thêm, viết thành bài này.

 

Học giả Lê Hữu Mục là Gs Đại học Văn khoa và Sư phạm, Tiến sĩ thủ khoa Văn chương Việt Nam dành cho các Gs đại học 1970. Ông c̣n là nhà biên khảo, phê b́nh văn học, nghiên cứu triết học và tôn giáo và là nhạc sĩ nữa. Ngoài khoảng trên 20 tựa sách, những bài diễn văn, bài báo, ông đă viết cuốn “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Kư” (1989-90) gây nhức nhối cho Cộng sản Việt Nam (CSVN). Cuốn sách này ông ra sức tập trung ư chí và khả năng hoàn thành chỉ trong một tháng. Sở dĩ ông phải viết nhanh như vậy để kịp phá vỡ huyền thoại HCM, “Nhân vật Văn hóa Quốc tế mà Tổ chức UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc) dự định tôn vinh. Đây là chuyện cũ, nhưng cho đến bây giờ vẫn là mới cần nhắc lại để dẹp cái phao xẹp “Tư tưởng Hồ Chí Minh” mà nhóm bạo quyền cố bám vào để tàn Dân hại Nước.

 

Với phương pháp dùng textology (văn bản học), hệ thống hóa lại, t́m ra những mâu thuẫn và sai lầm rất vững vàng, tác giả đă minh chứng rằng: HCM là kẻ đạo văn (đạo: ăn cắp, ăn cắp văn người khác). Chúng ta đă biết người CS dùng bất cứ phương tiện nào dù xấu xa, vô nhân, vô đạo, vô luân nhất để đạt đến mục tiêu. Mượn đầu heo nấu cháo, lợi dụng xương máu Dân lành để nhận công của đảng ḿnh chưa đủ, họ c̣n muốn làm Anh hùng Văn hóa Quốc tế nữa. Nhóm bồi bút Viện Văn Học Hà Nội dựa trên sự mạo nhận của HCM, ăn cắp văn của người khác, để thổi phồng tập thơ nhật kư lên một cách lố bịch và trơ trẽn.

 

Mở đầu cuộc phỏng vấn ông Mục cho biết sau ngày 30.4.1975 ông t́m đường đào thoát mấy lần nhưng đều thất bại. Trong những Gs ĐH Sư Phạm bị kẹt lại có ông Khoa trưởng Trần Văn Tấn, Gs Trần Kim Nơ. Những người chủ mới của Trường Sư Phạm miền Nam, ngoài miệng th́ nói những câu: đoàn kết, xóa bỏ hận thù, ḥa giải Bắc Nam, nhưng trên thực tế chỉ là những lời giả dối, xảo trá. Họ hứa hẹn nhiều, nhưng chẳng thực hiện được ǵ. Họ ở trong tư thế chờ đợi chỉ thị của Bộ Chính Trị. Họ xa cách, lạnh lùng với các GS c̣n kẹt lại. Các Gs ngơ ngác, đúng cảnh “hàng thần lơ láo” của Nguyễn Du, tuy bị bắt buộc phải thua cuộc. Vẫn vỏ ngoài, qua những cuộc tiếp xúc, họ giả vờ t́m cách ve văn, mời mọc, nhưng “nói zậy nhưng không phải zậy”. Các GS miền Nam đúng ngồi không yên, không biết phải làm ǵ, không biết đi đâu, hoang mang, chán nản. Điều xúc phạm đầu tiên là cách xưng hô “anh chị” kỳ cục. Trước kia có tôn ti trật tự, là thầy, là Gs, là ông, bà. Giờ đây là anh chị cá mè một lứa. Thậm chí ông Mục c̣n khôi hài nói “trường sở vốn là của ḿnh, nơi ḿnh làm việc dạy học bao nhiêu năm, bây giờ không biết là sẽ đi tiểu ở đâu?”

 

Hà Nội lộ mặt thật qua vụ ông Lê Trí Viễn vào Nam “lên lớp” các thầy miền Nam. Ông cán bộ giáo dục này tấn công nền sư phạm miền Nam nặng nề. Ông ta chê là miền Nam không có một giáo tŕnh quy củ, đàng ḥang, không có cuốn sách nào là sách giáo khoa chính thức, không có một tác phẩm nào tiêu biểu cho sư phạm của một nền đại học. (Ông Lê Trí Viễn đă dùng nền giáo dục một chiều, chật chội của chế độ, để so sánh với chủ trương nền dục khai phóng ở miền Nam). Ông ta dùng những lời đả kích mạnh mẽ, v́ ông ta ở thế thượng phong, thế của kẻ thắng. Gs Mục là Trưởng Ban Việt-Hán đại diện cho nhóm sư phạm bại trận (trong nhóm có Gs Trương Văn Ch́nh là Gs ngôn ngữ học nổi tiếng).

 

Mở đầu ông Mục cũng nói vài lời khiêm tốn, nhưng càng về sau, càng bực bội, nên hơi mất b́nh tĩnh, tấn công trở lại nhóm Gs miền Bắc. Ông cho biết ông đă đọc hết tài liệu giảng dạy dành cho giáo sinh miền Bắc và đánh giá rằng những tài liệu đó cũng không có giá trị cao, chỉ đáng quay ronéo phát cho giáo sinh làm tài liệu nội bộ thôi. Ông cũng phản pháo lại, cho biết là ngoài ấy cũng không có tác phẩm giáo khoa nào xứng đáng.

 

Một chuyện khác diễn ra để chúng ta thấy cái máy móc, một chiều của Hà Nội. Ông Hoàng Xuân Nhị được coi là một Gs gạo cội, từng đi du học bên Pháp và Liên Xô, vào Sài G̣n thuyết tŕnh về thơ của HCM. Ông ta nói dài ḍng về cuốn Ngục Trung Nhật Kư trước cử tọa cũng coi như các học viên, là các Gs đại học, trong đó có các Gs Phạm Xuân Quảng, Lư Công Cần... Sau bài thuyết tŕnh, họ buộc các Gs phải thảo luận về nội dung cuốn sách. Mọi người ngỡ ngàng, v́ chưa ai đọc cuốn nhật kư xa lạ này cả, làm sao có đủ dữ kiện để thảo luận, thu hoạch? Các Gs bán cái, đùn đẩy cho ông Mục “v́ ông rành chữ Hán” lên tiếng. Ông Mục tuy chỉ là lần đầu tiên nghe nói về Ngục Trung Nhật Kư, nhưng với phản ứng mau lẹ và với kinh nghiệm giảng dạy văn chương lâu năm, ông bắt ngay được những khuyết điểm của cuốn sách. Ông cho biết cuốn thơ đó có bốn khuyết điểm (V́ không đủ th́ giờ phát thanh, ông Mục chỉ nêu lên hai khuyết điểm).

 

• Thứ nhất thể thơ trong đó phần lớn là thơ bảy chữ bốn câu, thất ngôn tứ tuyệt. Thơ bảy chữ là thơ trang trọng, nghiêm túc, c̣n thơ lục bát là thơ dân tộc, b́nh dân, nhưng dịch thất ngôn sang lục bát dễ bị loăng, câu thừa, câu thiếu, tại sao lại dịch như thế. Diễn giả họ Hoàng ngẫm nghĩ rồi trả lời: “Để thỉnh thị ư kiến ở “trên” sẽ trả lời sau”. Thấy cái lúng túng, e ngại, tránh né của diễn giả là các Gs miền Nam hiểu ngay được số kiếp văn nô miền Bắc đồng thời hiểu được tương lai của ḿnh.

 

• Câu hỏi và là thắc mắc thứ hai: Trong bài thơ Thụy Bất Trước (Không Ngủ Được) có câu: “Mộng hồn hoàn nhiễm ngũ tiêm tinh” phải dịch là Sao năm cánh nhọn mộng hồn quanh, tại sao lại dịch là: Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh? Kể ra ông Mục đă uống thuốc liều, đă dám mó vào dái ngựa, dám đụng đến lá đảng kỳ của họ. Tất nhiên là Ḥang Xuân Nhị phải vội vàng tránh né ngay, nói như vẹt là “sẽ trả lời sau khi thỉnh thị ư kiến ở trên”. Đám văn nô, văn thi sĩ cung đ́nh biết là dịch gượng, sai và ẩu, nhưng cố nhét sao vàng vào đó để ca tụng là Bác tuy bị tù nhưng lúc nào cũng nghĩ đến Non sông Đất nước. Đó là do câu thành ngữ Trung Quốc “ngũ tinh liên châu” hàm ư diễn tả chuyện lành báo trước, chuyện sum họp vui vẻ giữa vợ chồng.

 

Đáp câu hỏi, giới văn học giáo dục miền Nam có thường gặp giới giáo dục, văn học miền Bắc không, GS Mục cho biết phần nhiều là “họ đến gặp tôi, tôi ít khi t́m gặp họ”. Trong số đó có nói chuyện với ông Hồ Lê, Nguyễn Đổng Chi, Trần Văn Giàu. Riêng ông Nguyễn Công B́nh nhiều lần mời cộng tác, nhưng tôi t́m mọi cách để từ chối.

 

Cuộc tiếp xúc với Gs Nguyễn Đổng Chi, bạn với tôi hồi c̣n ở Hà Nội trước 1945 là đáng ghi nhớ nhất. Gs Nguyễn Đổng Chi là một học giả nổi tiếng, tác giả cuốn “Cổ Văn Học sử”, đă từng là Viện trưởng Viện Khoa học Xă hội. Ông Chi mời ông Mục đến nói chuyện ở Trung tâm Ngôn ngữ, trong một pḥng dành riêng cho Gs. Sau nửa giờ nói chuyện, ôn chuyện cũ, bàn chuyện ngày nay, ông Mục hơi ngạc nhiên thấy ông Chi khóc, nước mắt tràn xuống hai g̣ má. Ông Chi vừa khóc vừa bảo bạn:

 

- Nếu không, anh cũng sẽ phải đóng kịch với họ như tôi thôi. Trong bao nhiêu năm nay, tôi đă phải đóng kịch với họ măi rồi!

 

C̣n ǵ đau khổ cho bằng một trí thức, một kẻ sĩ không dám sống thật với ḿnh, với người, luôn luôn phải giả dối để sinh tồn. Ông Chi đă chí t́nh khuyên ông Mục, v́ tay ông đă bị nhúng chàm, ông đă lỡ, phải theo lao luôn. Ông Mục cũng gặp nhà thơ Xuân Diệu, ông Mục hỏi ông Xuân Diệu:

- Sao anh không c̣n sáng tác như xưa nữa?

- Tôi vẫn sáng tác như ngày xưa.

- Chúng tôi không được đọc bài thơ nào của anh hay như ngày xưa nữa!

- Tôi có viết cho tôi nữa đâu. Tôi viết cho quần chúng đấy chứ. Họ có tŕnh độ thấp, ít học, do đó tôi không thể viết ra những ǵ gọi là tinh hoa của tôi được.

- Vây anh có tin những ǵ anh viết cho họ không? Xuân Diệu vẫn lừng khừng nói:

- Việc ǵ phải tin. Cần ǵ phải tin!!!

 

Qua cách trả lời của Xuân Diệu, chúng ta thấy ông ta vẫn c̣n tự kiêu, vẫn nuối tiếc thủơ xa xưa, đồng thời cũng vẫn sợ mất lập trường, tiêu thẻ đảng. Một nhà thơ công thần của chế độ phát biểu là không tin những tín điều ḿnh truyền bá ra cho quần chúng, sẽ được đảng đối xử ra sao? Ông Mục cũng tiếp Trần Văn Giàu khi tay lư thuyết gia cổ thụ này ṃ đến dụ dổ. Sau cơn địa chấn 30-4, ông Mục cũng như các Gs đại học khác bị cướp mất nhà dành riêng cho các Gs đường Duy Tân, ông phải thuê một căn pḥng ọp ẹp ở khu lao động. Không hiểu lấy đâu ra tin tức, ông Giàu ḷ ṃ kiếm được nhà. Ông vừa đến trước cửa nhà th́ bị vấp ngă xuống, ông Mục chạy ra nâng ông ta dậy. Năm đó ông Mục ng̣ai 60, c̣n ông Giàu cỡ ngoài 70, tóc bạc phơ, vừa vào đến nhà, ông Giàu nói ngay:

- Ông nên ở lại Việt Nam làm việc cho Đất nước với chúng tôi.

- Tại sao cụ lại để ư đến tôi thế? Tôi cũng chỉ là một người dạy học b́nh thường như mọi người khác thôi.

- Tôi đă đọc sách của ông. Ông viết rất đạt. Ông khác người ta chứ, ông có đủ ba điều kiện để làm một nhà nghiên cứu, giảng dạy. Một là phải thông hiểu Hán và Nôm mới đi vào văn hóa Việt Nam được, ưu điểm hai là biết hai sinh ngữ Pháp, Anh để hiểu phương pháp luận và nghiên cứu rộng răi hơn. Ba là phải có tài viết văn. Nhiều người nói và dạy học th́ được, nhưng không viết được.
- Tôi sang Canada v́ được gia đ́nh bảo lănh qua. Rất tiếc tôi không ở lại làm việc chung với cụ và các ông được. Tôi thấy có Gs Nguyễn Văn Trung và Gs Linh mục Thanh Lăng dạy học rất giỏi. Ông Trần Văn Giàu lắc đầu:

- Ông Trung chưa phải là nhà nghiên cứu văn học, ông ấy chỉ là một kư giả khá thôi. C̣n ông Thanh Lăng th́ chỉ nên giảng đạo trong nhà thờ hơn là giảng ở trường đại học.

 

Sau đó ít lâu họ có mời Gs Thanh Lăng tiếp tục giảng dạy. Ông Mục nói: “Nghĩ cũng tức cười, một người th́ giục đi đi, một người th́ kèo nài nên ở lại”. Sau đó ông có dịp đọc những tài liệu do ông Thanh Lăng viết, giảng, nói chuyện sau này và nói: “Tôi thấy tội nghiệp, ái ngại cho ông ta quá. Ông Thanh Lăng đă phải nói, phải viết những ǵ về Tôn giáo, văn học và ngôn ngữ học mà chế độ muốn ông viết”. Nghe nói sau này khi tỉnh ngộ, ông tỏ ư chống đối và bị họ đánh thuốc độc chết (?).

 

® Để trả lời Gs Trần Công Thiện hỏi là do động cơ nào thúc đẩy mà Gs Lê Hữu Mục đă viết cuốn “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Kư”, tác giả cho biết:

“Chính là do bài thuyết tŕnh của ông Hoàng Xuân Nhị, sơ khởi đă khiến tôi chú ư đến cuốn thơ nhật kư đó. Không phải là do văn chương trác tuyệt và tư tưởng cao siêu ǵ mà là tôi đặt nhiều nghi vấn. Những cán bộ thơ văn, phê b́nh, khảo cứu ǵ đó của Viện Văn Học đă dùng cái chổi phù thủy thổi phồng lên, lừa dối chính họ, lừa dối dân chúng và nịnh bợ lănh tụ kiếm chút cơm thừa canh cặn. Đúng như nhà thơ, nhà văn Vi Khuê ở Washington DC đă nhận xét: “Chẳng có giá trị ǵ để chúng ta phải chú ư tới nó”.

 

“Sau nữa là khi tôi bị tù về tội vượt biên, trong trại tù lập một tủ sách, có cuốn nhật kư đó, tôi mượn về đọc v́ có in chữ Hán trong đó. Những bạn tù người Hoa (Trung Quốc) đọc xong và họ ngạc nhiên lắm. Họ nói giọng văn thơ này là của người Tàu, không phải lối viết, lối nói của người Việt, chúng tôi thấy quen thuộc lắm. Họ nói đúng ư tôi làm tôi càng chú tâm phải đọc kỹ. Rơ ràng trong sách có tên ông già Lư người Tàu, ai cũng để ư đến ông già này. Phải chăng chính ông già không rơ lư lịch này mới là tác giả đích thực của tập thơ?

 

“Kịp đến khi tôi sang đến Canada, gặp lúc Văn Bút Việt Nam đang thời kỳ tái lập ở Hải ngoạị Anh em Văn Bút lúc đó hoạt động hăng lắm, có nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, có nhà văn Trà Lũ, tức Gs Trần Trung Lương đồng nghiệp với tôi. Anh em giục giă tôi viết để nói lên sự thật. Viết lên không phải để chê về mặt văn chương và tư tưởng, phải lên tiếng v́ sự mập mờ đánh lận con đen, chuyện nhận vơ, chuyện Hồ Chí Minh đạo văn. Anh em ở hải ngoại bảo nhau phải t́m mọi cách để xóa bỏ cái huyền thoại Hồ Chí Minh, chuyện Hồ Chí Minh sẽ được tôn vinh là nhà văn hóa lớn quốc tế do UNESCO công nhận. Dạo đó có phong trào “No HO” nổi lên đ̣i hủy bỏ vụ tuyên dương vô lư này. Tôi cố gắng viết, chỉ nội trong một tháng là xong. Tôi gửi loạt bài này đăng trên tạp chí Làng Văn của nhà báo, nhà thơ Cung Vũ Nguyễn Hữu Nghĩa và nhà báo Nguyên Hương.

 

“Tôi viết chưa xong th́ ông Gs tiến sĩ Nguyễn Văn Trần bên Paris biết được, ông bay qua Montréal gặp tôi ngay. Tuy viết chưa xong ông cũng lấy một phần rồi cùng với bác sĩ Nguyễn Ngọc Qùy, nhà hoạt động tôn giáo xă hội Vơ Văn Ái dịch sang Pháp văn. Các ông ấy họat động tích cực lắm. V́ trụ sở UNESCO ở Âu Châu nên tranh đấu rất thuận tiện. Thấy có tài liệu chứng minh phủ nhận sự nghiệp văn hóa ma, UNESCO sáng suốt và mau chóng hủy bỏ vụ tôn vinh. V́ HCM không biết làm thơ, cũng chẳng phải là nhà văn học, văn hóa ǵ cả. Ông ta chỉ là kẻ ăn cắp thơ.

 

“Cũng chuyện ma giáo, lừa bịp tương tự thời c̣n ở Pháp. Theo Ls Phan Văn Trường th́ Hồ Chí Minh mánh khóe, khôn vặt lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Trong khi đó những nhà cách mạng miền Nam giỏi Pháp văn khi viết báo chống thực dân Pháp, ngay trên đất Pháp, đều kư bút hiệu là Nguyễn Ái Quấc, đánh vần theo miền Nam. Đó là một bút hiệu chung của nhiều tác giả các bài báo. Họ Hồ lấy tên như vậy, nếu nội dung bài báo có giá trị th́ người ta tưởng lầm với bút hiệu Nguyễn Ái Quấc. C̣n bài dở th́ ông ta sẽ căi là tôi kư tên là Quốc chứ có lấy bút hiệu Quấc của các ông đâu!

 

“Khi cuốn sách của tôi ra mắt độc giả, chắc chắn là giới văn nô cộng sản bên kia đại dương cũng đọc. Họ bồn chồn, nhức nhối phải t́m cách đối phó lại sự thật qua những lụận lư vững chắc, hợp lẽ phải. Họ tập trung chất xám lại ra một cuốn sách dày gấp bốn sách của tôi để t́m cách chứng minh là Bác của họ cũng biết làm thơ. Nhưng trước sau ǵ cũng giấu đầu hở đuôi.

 

“Họ đánh lừa độc giả trong nước là cuốn sách của tôi ra sau tập sách của họ. Họ nói sách tôi ra năm 1990, c̣n sách họ ra năm 1989. Sự thật là các bài viết của tôi đă đăng từng kỳ trên tạp chí “Làng Văn” từ năm 1989, đến năm 1990 mới in thành sách. C̣n sách của họ phát hành năm 1990, nhưng đề lui năm lại là 1989!

 

“Lại nữa, đề sách đă là lời thú nhận: “Suy nghĩ lại về Ngục Trung Nhật Kư”. Tại sao lại phải suy nghĩ lại, có vấn đề mới phải suy nghĩ lại. Họ xác nhận là trong thời chiến họ phải dùng những lời dao to búa lớn để tuyên truyền, họ thú nhận là đă “cường điệu”, mà cường điệu là exagerate, là lớn lối, bịa đặt thêm. Họ bảo phải làm thế để tạo một quan niệm sáng tác gương mẫu, là phải theo hướng sáng tác như thơ của bác, b́nh dân và trong thơ phải có thép (chiến đấu tính).

 

“Trước sau ǵ chỉ là một vụ bịp, một tấn kịch đóng rất vụng. HCM úp mở nhận là thơ của ḿnh. Đám nô bộc văn nghệ cung đ́nh dùng ống đu đủ thổi phồng lên rất lố bịch. Một chứng cớ không thể chối căi là ngoài b́a sách ghi năm tác giả bị tù là 29-8-1932 đến 10-9-1933. Trong khi HCM đă bị Quốc Dân Đảng bắt và cầm tù ở bên Tầu sau gần 10 năm, vào năm 1942 - 1943 thôi. Trong Tổng Tập Văn học của Hà Nội tại tập 38 trang 507 có in lại h́nh b́a, nhưng lại xóa bỏ ngày tháng tù của nguyên bản. Rơ ràng có sự che giấu, khuất tất. (1)

 

“Ngay Gs Đặng Thái Mai, bố vợ Vơ Nguyên Giáp cũng thắc mắc về soạn niên cuốn nhật kư. Ông là nhà giáo nổi tiếng, một học giả, lúc đó đang nhận nhiệm vụ hiệu đính lại cuốn thơ. Ông đặt câu hỏi thẳng với Hồ Chí Minh là ai dám đề năm tháng kỳ quặc là năm 1932 - 1933, đây lại là tác phẩm của lănh tụ cao nhất nước? HCM không trả lời. Sau này bí thế quá, ViệnVăn Học trả lời vắn tắt rằng: Đề năm 1932 - 33 là sai, phải là năm 1942 - 43 mới đúng. Rằng HCM ghi như thế để đánh lừa quân cai ngục của Tàu. Cách trả lời rất vắn tắt, gượng ép, không có lời giải thích minh bạch, thỏa đáng. (1)

 

“Nói chung tập “Suy nghĩ lại về Ngục Trung Nhật Kư” có đến sáu phần mười đồng ư với tôi, phần c̣n lại họ chưa đồng ư. Cuốn sách không dám phản bác lại từng điểm, chỉ có ư xác nhận là bác có biết làm thơ chữ Hán, lờ chuyện đạo văn đi. Ở Việt Nam không ai dám nói tới cuốn sách vạch mặt của tôi nữa. Tuy nhiên các thày cô giáo rất khó trả lời trong giờ ngữ văn, nếu có học sinh hỏi: Sao nghe nói thơ đó không phải là thơ của bác? (1)

 

“Cũng nhờ vậy, sau vụ tôn vinh hụt, Hà Nội đă chùn lại, không dám tâng bốc quá đáng thơ thẩn của HCM nữa” (Ban Biên tập: Vụ tôn vinh hụt nầy đến năm 2005 th́ hoàn toàn bị lật tẩy với các chứng cứ hoàn toàn xác thực. Hiện nay Hà Nội rất lúng túng chuyện trơ trẽn nầy, nhưng vẫn ngoan cố tiếp tục lừa gạt sinh viên, nhất là học sinh nhỏ tuổi. Xem “Lật Tẩy mạo danh UNESCO lừa gạt 84 triệu Dân VN & Quốc tế” ở Tư liệu Phụ lục 5, 2005)

 

Họ ở thế bị động, phải đấu dịu với Gs Lê Hữu Mục. Ông nói: “Tôi thuộc ḷng câu kết tập sách dày cộm của họ: Người ta nói: Bỏ gươm xuống th́ thành Phật. Thánh Phaolô khi cầm gươm là kẻ thù của Thiên Chúa giáo. Bỏ gươm xuống là bạn của Thiên Chúa giáo. Tác phẩm của ông Lê Hữu Mục, thực chất là hành động giơ dao lên. Chúng tôi không biết ông sẽ làm ǵ với con dao đó. Chúng tôi đề nghị ông nên hạ dao xuống th́ hơn”. Gs Mục cũng không hiểu họ muốn nói điều ǵ. Giáo sư kết thúc bằng một câu đủ gói ghém câu chuyện khi được hỏi là: Ông nghĩ ǵ về cái gọi là Tư tưởng HCM, họ thường rêu rao?

 

- “Tôi không thể nào cho rằng HCM có một tư tưởng. Một tư tưởng lớn đáng bàn đến phải có một hệ thống triết lư, hơn nữa phải có một chương tŕnh hành động sát lư thuyết, sát triết thuyết đó. HCM không có cả hai điều kiện ấy, không thể gọi là tư tưởng được. Chính HCM không nhận ḿnh là một nhà tư tưởng, một nhà thơ. Ông ta thú thực với một nhà báo Pháp là ông ta chỉ là một kư giả thôi. Họ gán cho tôi là tác giả các bài thơ, tôi có làm được nhiều thơ thế đâu!”

 

Thực đúng như nhiều người đă khẳng định: HCM không có tư tưởng, chỉ có khẩu hiệu thôi. Mấy khẩu hiệu đó ai cũng có thể nói được, chế ra được: Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết; Không có ǵ quư hơn độc lập tự do; Ta nhất định thắng, địch nhất định thua th́ đứa con nít lên 5 tuổi cũng nói được. HCM c̣n “đỡ nhẹ” câu “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” của Tầu ngày xưa. Như thế hiển nhiên là không thể khoác cho HCM chiếc áo huyền thoại được, chỉ đáng gọi là Huyễn Thoại HCM thôi.

 

 

Tinh Vệ (Diệu Tần)

 

(1) Chú thích: Lật tẩy “Nhật Kư Trong Tù”


Sử liệu của CSVN đều ghi là sau khi HCM về đến Hà Nội (1954), một ngày kia có một người Tày (Nùng?) từ Việt Bắc về Hà Nội gặp HCM, dâng cho HCM một gói nhỏ và thưa rằng: “Tŕnh Bác, khi Bác lưu lại nhà cháu, Bác đă nhét trên mái hiên nhà cháu gói này. Mới đây khi sửa lại mái hiên, nh́n thấy nó cháu biết là của Bác, nên đưa về dâng lại Bác.” HCM mừng rỡ la lên: “Ôi! Mừng quá! Mừng quá! Đây là cuốn thơ Nhật Kư Trong Tù của Bác, tưởng đă lạc mất lâu rồi nay lại t́m thấy. Cám ơn chú.” Sau đó HCM đưa cho thuộc hạ dịch ra tiếng Việt, xuất bản hàng triệu cuốn và bắt toàn dân học.

 

Tất cả các cuốn Tiểu sử của HCM do CSVN xuất bản đều ghi tương tự rằng:”HCM bị Chính quyền Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch (TGT) bắt giam 14 tháng khoảng từ 28.8.1942 đến cuối tháng 10.1943, tại 18 nhà lao thuộc 13 huyện, thị trấn, thuộc vùng Quế Lâm, Liễu Châu, Trung Quốc, với những điều kiện giam nhốt cực kỳ khắc nghiệt thối tha, sức khỏe rất yếu, lại phải mang vác đồ đạc để chuyển trại giam liên miên đến 17 lần, tổng cộng phải đi bộ đến hàng ngàn cây số”. Thế mà HCM quá “siêu giỏi” làm được đến 134 bài thơ tuyệt tác bằng chữ Hán, mỗi tháng hơn 10 bài, rồi giả ghi ngoài b́a là từ 29.8.1931 – 10.9.1933 để qua mặt bọn TGT! Một điều rất quái dị là tất cả quan quân TGT hoặc “quá văn minh lịch sự và quá khờ khạo chưa hề có trên thế giới”, hoặc HCM có phép thần thông “thôi miên mà (che hoặc làm hoa mắt) mắt” bọn quan quân cai ngục TGT cho chúng như mù hết, nên cả một tập thơ khá dày chửi rủa chế độ nhà tù TGT đến như thế, dễ thấy đến như thế mà bọn họ cũng đành bất lực để yên cho “bác” mang vào ra nhà tù như vào ra thư viện đến những 18 lần xuất nhập 18 trại giam! Thật y như Tề Thiên Đại Thánh! Người mạn phép tác giả viết thêm chú thích nầy đă kinh qua các nhà tù 04 lần (08 trại giam) 01 lần thời Đệ nhị Cộng ḥa, 03 lần dưới chế độ Cộng sản sau 1975, thấy rơ: cho dù các CA CSVN hiện nay đă “văn minh độ lượng” đến thế, th́ một cái kim, một tờ giấy các tù nhân cũng không sao mang lén vào pḥng giam lọt (trừ ra khi được cố ư lờ đi), th́ làm sao vào thời TGT rất “gian ác tàn bạo” mà “bác vĩ đại của Dân tộc VN” lại có thể đủ giấy bút mực kim chỉ để làm đến 134 bài thơ, đóng gọn thành một tập khá đẹp, chưa kể hoặc không cần nháp, ngoài b́a c̣n vẽ h́nh minh họa hẵn hoi! Nguyên một chi tiết “khó tin c̣n hơn chạy bộ lên trời” như thế mà bao nhiêu năm, bao thế hệ “trí thức” miền Bắc (và cả một số học giả ngoại quốc nữa) vẫn cứ “bị bịt mắt” lại mà nghiền ngẫm và ca tụng những “vần thơ trác tuyệt” của “nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại” đại bịp HCM!

 

§ Gần đây Ông Lê Văn Ấn đă viết: “Trong tập thơ Ngục Trung Nhật Kư mà Hồ Chí Minh hí hửng giao cho thuộc hạ dịch ra thơ nôm, cho in cả 2 triệu cuốn, phổ biến cho Nhân dân “học tập thơ Bác” có lộ ra bài “Thế Lộ Nan III”:

 

Trung thành, ngă bản vô tâm cứu

Khước bị hiềm nghi tố Hán gian

Xử thế nguyên lai phi dị dị

Nhi kim xử thế cánh nan nan!

 

Giáo sư Lê Hữu Mục dịch:

Trung thành, ta vốn ḷng không thẹn

Lại bị hiềm nghi làm Hán gian

Vốn biết là đời không dễ xử

Đến nay càng khó xử muôn vàn!

 

Bài thơ này là chứng cớ Hồ Chí Minh ăn cắp thơ của một người Hán, v́ Hồ Chí Minh là người Việt – nên chỉ làm được Việt gian, làm sao có thể làm được Hán gian!”

 

§ Mới đây (10-2-2007), một Nhân sĩ ở Huế cho rằng: Ngay bài “Dạ Bán” (Nửa đêm) sách báo CSVN nào cũng ca tụng. Nguyên văn chữ Hán:

 

Thụy thời đô chúng thuần lương Hán

Tỉnh hậu tài phân thiện ác nhân

Thiện ác nguyên lai vô định tính

Đa do giáo dục đích nguyên nhân

Hà Nội cố gượng dịch: Ngủ th́ ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên (Trích Nhật Kư Trong Tù).

 

Đáng lẽ phải dịch: Ngủ th́ người Hán nào cũng lương thiện

 

Không thể gượng ép cho rằng: Ngủ th́ “hảo hán” nào cũng lương thiện được!


Rơ ràng bài thơ này do một người Hán ca tụng giống ṇi của họ. Than ôi ăn cắp như vậy mà bao năm ngàn ngàn lớp lớp trí thức miền Bắc cứ như mù, như câm!!!

Thật quá tội nghiệp cho biết bao học sinh và sinh viên VN “thời đại HCM” này đă bị buộc phải nhai nhét bao vần thơ đạo chích ấy!!! Nếu HCM không ăn cắp tập thơ nầy của người khác, th́ cũng là ngụy tạo, chắc chắn rơ ràng không thể khác được; cũng chỉ là tuồng một duộc như “Đại tác phẩm dỏm” tự tạo nên h́nh ảnh “Cha già Dân tộc rất mực thánh thiện”, tự ca tụng ḿnh trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” do Trần Zân Tiên là “soạn giả” nhưng đích thị chính HCM đại bợm mới là “soạn thật”, đă là “sách gối đầu giường” của bao thế hệ “đoàn thanh niên CS–HCM” và “trí thức” của cả một chế độ CSVN “cực kỳ tối tăm và quá buồn cười” đến độ nhiều học giả gọi là “đống phân tư tưởng HCM...” như Giác Thư của Trần Nhu gửi các Tướng lănh & Binh sĩ QĐNDVN ngày 01-01-2006...

 

Nguồn:
www.vietnamexodus.info/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=1339

 

 

Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật kư”

 

Giáo Sư Lê Hữu Mục

 

 

LAI LỊCH BẤT MINH CỦA NGỤC TRUNG NHẬT KƯ

 

Đây là tất cả lịch sử của cuốn Ngục Trung Nhật Kư: Sau 1945 có một người từ miền núi về Thủ Đô run run giao cho nhà cầm quyền một cuốn sổ tay b́a xanh đă bạc màu, bảo đó có lẽ là tập thơ của một chiến sĩ cách mạng nào đó. Cuốn sổ được trao lại cho Viện Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam cất giữ tại Pḥng Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc Phản Đế và Mặt Trận Việt Minh.

 

Không ai biết danh tính người nông dân miền núi đó, cũng không ai nói là ḷng tốt của anh, hay ít nhất chuyến đi xa của anh từ miền núi về đến đồng bằng, rồi từ đồng bằng về đến Thủ Đô có được đền bù hay không, người ta cũng không biết đến tên tuổi của người đứng ra nhận quyển sổ, ngày nhận quyển sổ đó, không ai thèm ghi?

 

Như thế là thế nào? Như thế có nghĩa là cuốn số đó nhất định không mang tên Hồ chí Minh, nhất định không, bởi v́ con người lúc nào cũng chủ trương “không có, không thấy, không biết” ấy dại ǵ mà để tên ḿnh vào một cuốn sổ cho kẻ thù của ḿnh biết. Chữ viết nhất định cũng không phải của Hồ chí Minh, v́ nếu nghi ngờ là của Hồ chí Minh th́ những ông Phạm văn Đồng, Vơ nguyên Giáp, Vũ Anh đă nhận ra cũng như năm 1943, họ đă nhận ra chữ họ Hồ trong bài. Tân xuất ngục, học đăng sơn (Mới ra tù, tập leo núi). Những đề tài ghi trong cuốn sổ chắc cũng không có ǵ đặc biệt bởi v́ từ 1945 đến 1959, không một chuyên viên nào trong Viện Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam (Viện Louis Finot cũ) đă lưu ‎ư đến nó. Trần dân Tiên, mà măi đến nay ta mới biết chính là Hồ chí Minh, ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, đă viết Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, kể khá tỉ mỉ về thời gian Hồ chí Minh bị giam trong các nhà tù ở Quảng Tây, cũng cho biết ở trong tù Hồ có làm thơ, nhưng Trần dân Tiên không nói đến tập thơ. Tố Hữu trong báo cáo đọc trước đại hội lần thứ hai của đảng, tháng 2.1951, hết lời ca ngợi văn Hồ Chủ Tịch trong những quyển sách giáo dục tư tưởng, trong những lời hiệu triệu, những bức thư...nhưng hoàn toàn không nói đến truyện, cũng không nói đến thơ. Không ai biết “bác” có tập thơ. Măi đến năm 1958, sau khi đă dẹp xong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, và để đề pḥng những vụ nổi dậy khác có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, Trung Ương Đảng Cộng Sản trong đó có ủy viên chính thức Tố Hữu, anh hùng trong vụ dẹp Nhân Văn-Giai Phẩm vừa qua, mới nhận thấy nhu cầu cấp bách là phải tăng cường tập trung quyền lănh đạo văn nghệ vào tay lănh tụ.

 

Cho đến năm 1958, Hồ Chí Minh chỉ mới viết được khoảng trên dưới 30 bài văn vần, phần nhiều là những bài vè kháng chiến mà giá trị thi ca khó được những nhà thơ nhà văn như Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường chấp nhận.

 

Làm sao cho tổng số các bài thơ được nhiều hơn gấp đôi gấp ba? Làm sao cho các bài thơ thực sự có chất thơ xứng đáng là tập thơ của một người cộng sản vĩ đại, hơn nửa thế kỷ đă không ngừng phấn đấu cho lư tưởng cộng sản chủ nghĩa, cho tổ quốc, cho loài người? Thế là họ nghĩ ngay đến cuốn sổ tay vô danh b́a màu xanh, họ kéo nó ra khỏi giấc ngủ yên lành của nó trong Viện Bảo Tàng Cách Mạng, họ chuẩn bị mọi cách để có thể giao cho nó thi hành một nhiệm vụ lịch sử độc đáo: Nhiệm vụ khẳng định và đề cao thi tài của lănh tụ Hồ chí Minh “muôn vàn kính yêu”.

 

Ta thử nh́n cuốn sổ tay gần hơn, tờ b́a màu xanh đă bạc màu, vào năm 1945 mà nó đă bạc màu th́ cuốn sổ này, nếu là của Hồ chí Minh, th́ nó phải ở trong tay ông đă lâu, ít nhất là phải mười, mười lăm năm về trước. Trong đầu cuốn sổ ghi bốn chữ Hán Ngục Trung Nhật Kư dưới bốn chữ này là hai hàng số 29.8.1932/10.9.1933, không biết là tác giả hay ai ghi, ở dưới hai hàng số là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt vần trắc, kèm theo một h́nh vẽ hai nắm tay bị xích đang giơ lên cao.

 


 

Phần bên trong có tất cả 47 trang ghi hơn 100 bài thơ. Những trang cuối ghi một số mục nhỏ có tính chất thời sự. Tên tác giả hoàn toàn không có.

 

Viện Văn Học được giao trách nhiệm tổ chức việc dịch tập thơ từ chữ Hán ra tiếng Việt. Nhiều nhà thơ (Tố Hữu, Nam Trân...), nhiều nhà văn (như Đặng Thái Mai, Hoài Thanh) đă tham gia phiên dịch hoặc hiệu đính bản dịch xuôi và dịch thơ. Người đóng góp nhiều nhất là nhà thơ Nam Trân, tác giả Huế. đẹp và thơ (1939), lúc ông là ủy viên ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Việt Nam, về công tác tại Viện Văn Học phụ trách tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán Ngục Trung Nhật Kư ra tiếng Việt. Công tác dịch bắt đầu từ năm 1959, đầu năm 1960 th́ xong, tác phẩm mang tên Việt Nam là Nhật Kư Trong Tù, tác giả là Hồ chí Minh, phần chữ Hán do Phạm phú Tiết viết, nền vẽ của Họa Sĩ Nguyễn đỗ Cung, b́a do Họa Sĩ Phạm Hoàng tŕnh bày, in xong đúng vào dịp mừng Hồ chí Minh 70 tuổi Hoài Thanh cho biết: “Tập Ngục Trung Nhật Kư ngay từ lần đầu đă in trên 50 vạn bản mà vẫn không đủ đáp ứng yêu cầu của người đọc...Chúng ta không những muốn đọc mà c̣n muốn nghe ngâm, nghe nói. Từ ngày Ngục Trung Nhật Kư ra đời, đă có hàng ngàn cuộc nói chuyện ở các đơn vi bộ đội, các cơ quan, các hội nghi, các trường học, các xí nghiệp, các hợp tác xă ở khắp nơi. Hàng triệu người đă say sưa nghe thơ Bác. Có người nghe đi nghe lại đến mấy lần. Có nhiều người đă khóc v́ thương Bác muốn cứu ḿnh mà phải chịu nhiều khổ nạn...Đó là ở trong nước. Ở ngoài nước, tập thơ vừa ra mắt bạn đọc là liền được dịch, được giới thiệu, được nhiệt liệt hoan nghênh ở tất cả các nước xă hội chủ nghĩa anh em như Liên Xô, Cu Ba, Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Lỗ-ma-ni.v.v...hoặc cả ở các nước tư bản như Anh, Pháp, Ư, kể cả Mỹ. Tập thơ đă có tác dụng làm xáo trộn nhiều tâm hồn, người ta yên lặng nghe hết những âm vang của tập thơ và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài măi”.

 

Từ ngày 19.5.1960 trở đi, tác giả tập thơ Ngục Trung Nhật Kư đă được khẳng định dứt khoát là Hồ Chí Minh, và đây là một thành công vĩ đại của Ban Tuyên Giáo. Ta hăy nghe Viện Văn Học giới thiệu tuyệt tác này của họ: “Đó là cuốn sổ tay của Hồ Chủ Tịch gồm những bài thơ mà Người đă viết trong cảnh lao tù từ mùa Thu 1942 đến mùa Thu 1943”. Viện Văn Học nhấn mạnh về hoàn cảnh sáng tác tập thơ: “Tháng 8.1942, vị lănh tụ của chúng ta trên đường công tác, đi từ Cao Bằng sang Trung Quốc, đă bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt vừa lúc qua khỏi biên giới Việt- Trung và bị giải lui tới hơn một năm trời qua mấy chục nhà lao Tỉnh Quảng Tây.

 

Qua sự dàn dựng rất công phu và có tính sáng tạo rất cao của Viện Văn Học, các bài thơ được diễn ra theo một tŕnh tự thời gian vô cùng chặt chẽ. Đầu tiên là ngày Hồ bị bắt ở phổ Túc Vinh, được xác định là ngày 29.8.42 (bài số 3), những ngày bị giải về nhà lao Tỉnh Tây gần biên giới Việt Nam (các bài số 4-25) ngày 10.10.42 bị gửi trả về nhà lao Thiên Bảo (bài số 26), từ đó bị giải đến nhà lao Long Tuyền (bài số 29), Điền Đông (bài số 30), Quả Đức (số 37), Long An (số 40), đến nhà lao Đồng Chính là ngày 2.11.42, rồi đi Nam Ninh, ở đó vào những ngày 11,12, 14 tháng 11 năm 42 (các bài số 67, 68, 69, 70), đến 18.11.42 bị giải đi Vũ Ninh (bài số 76), Bào Hơng (bài 77), ngày 22.11.42 đến nhà lao Tân Dương (bài 81), đến Lai Tân bằng xe lửa (bài 86), sau đó đến Liễu Châu vào ngày 9.12.42 sau khi đă bị bắt hơn 100 ngày (bài số 89). Bài số 93 c̣n cho biết rơ vào ngày 29.12.42, tác giả đă bị bắt bốn tháng, bị giam ở nhà lao Quế Lâm 40 ngày, tức là măi cho đến 24.3.43 mới lại trở về nhà giam Liễu Châu lần thứ hai, ở đó ăn Tết Thanh Minh ngày 6.4.43 (bài l01) đến đầu mùa Thu, tức ngày 8.8.43 (bài số 107, l08) cho đến ngày kỷ niệm một năm bị bắt, tức là ngày 29.8.43 (bài số 1l0). Sau đó là những ngày cuối cùng trong tù, kể từ ngày 30.8.43 đến ngày 10.9.43 (các bài số 111, 112, 11 3).

 

Tŕnh tự thời gian này làm mốc cho 112 bài thơ rơ rệt có nội dung liên hệ tới lao tù: Những cảnh sinh hoạt hằng ngày của tù nhân, t́nh huống và tâm tư của họ. Những cảnh những việc gặp trên các nẻo đờng chuyển lao. Suy nghĩ và cảm xúc của nhà thơ trong những ngày bị giam cầm v.v...nội dung tập thơ đă được Nguyễn hoành Khung chính thức phân tích trong Tự Điển Văn Học. Ta có thể tóm lược những ư chính như sau:

 

Trước hết, tập thơ thể hiện một tấm ḷng nhân ái sâu xa: Tác giả ít nói đền những đau khổ ghê gớm của ḿnh, chỉ nói đến những niềm vui, nỗi khổ của những người chung quanh, quan tâm chu đáo đến đời sống cụ thể của mọi người, của những tù nhân thuộc lớp dưới đáy cặn bă của xă hội Tưởng Giới Thạch, phân biệt họ với bọn tù nhà giàu ngày ngày no rượu thịt.

 

- Trên đường chuyển lao, nhà thơ chia sẻ vui buồn với người nông dân đang lao động trên đồng ruộng, người phu đường dăi nắng dầm mưa vất vả, cô gái nghèo xay ngô xóm núi... Chính trên cơ sở ḷng nhân ái sâu rộng mang tính chất chiến đấu mạnh mẽ đó, nhà thơ đă viết nhiều bài thơ châm biếm sắc sảo, đả kích thâm thúy chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch, h́nh ảnh thu nhỏ của xă hội Trung Quốc thối nát khi đó.

 

- Trong suốt chuỗi ngày bị tù, nỗi niềm thương nhớ đất nước và khao khát tự do để trở về chiền đấu luôn luôn ám ảnh, day dứt nhà thơ yêu nước...Lời thơ càng ngày càng căm uất, nghẹn ngào, biểu lộ niềm khát khao chiến đấu đến cháy ruột của người chiến sĩ mà lẽ sống đấu tranh đă trở thành máu thịt.

 

- Một điềm nổi bật nữa trong Ngục Trung Nhật Kư là tinh thần chiến thắng, chủ nghĩa lạc quan cách mạng, làm nên ánh sáng tràn ngập mỗi trang thơ. Đó là tiếng cười hồn nhiên khỏe mạnh cất lên giữa cảnh ngộ vô vàn khổ cực…Đó là h́nh ảnh lồng lộng, ung dung tự tại của nhà thơ...của một người chiến thắng, thật sự làm chủ bản thân, là người tự do, một ông tiên.

 

- Cuối cùng, Ngục Trung Nhật Kư c̣n mang ư nghĩa một tuyên ngôn thi ca: “Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Ngục Trung Nhật Kư đă thể hiện sáng người chất thép cách mạng đó...Đó là chất thép rất ngọt, thép mà thơ, thể hiện bản lĩnh tuyệt vời của người chiến sĩ cộng sản vĩ đại mang tâm hồn một nhà thơ lớn...

 

Nguyễn hoành Khung kết luận: “Việc xuất bản Ngục Trung Nhật Kư trở thành một sự kiện quan trọng trong đời sống văn học của dân tộc. Từ đó, tác phẩm đă gắn bó thân thiết với quần chúng nhân dân, có sức cổ vũ mạnh mẽ mọi người vươn lên trong sự nghiệp cách mạng.

 

Sự kiện quan trọng ấy được đề cập trong tác phẩm của tất cả mọi người cầm bút, từ những vị lănh đạo đảng và nhà nước như Lê Duẩn, Tr- ường Chinh, Phạm văn Đồng, đến các nhà lư luận văn học, phê b́nh văn học như Trần huy Liệu, Hoài Thanh, Vũ Khiêu, Hoàng xuân Nhi, Nguyễn văn Hạnh, Trương Chính, đến các nhà thơ nhà văn tên tuổi như Xuân Diệu, Chế lan Viên, Lưu trọng Lư, Hoàng trung Thông, Nguyễn đ́nh Thi, Nguyễn đăng Mạnh, tất cả nhiệt liệt hoan hô Ngục Trung Nhật Kư như là bản cáo trạng đanh thép, phẫn nộ, sôi sục vạch mặt chỉ tên những kẻ thù của loài người, Ngục Trung Nhật Kư c̣n mang nặng những suy nghĩ, ưu tư của một tâm hồn lớn, một tâm hồn cao thượng và nhân ái, Ngục Trung Nhật Kư là tác phẩm văn học lớn có tác dụng giáo dục sâu sắc phẩm chất và đạo đức làm người cho các thế hệ ngày nay và sau này.

 

Đặng Thai Mai và Những Câu Hỏi “LẨM CẨM”

 

Trông không khí tán tụng tưng bừng náo nhiệt ấy, chỉ có nhà văn Đặng thai Mai là giữ được thái độ tương đối ngay thẳng nhưng vẫn không tránh được đây đó vài từ ngữ thậm xưng. Ông đă phát hiện được “trong trường hợp cấu tạo nên Ngục Trung Nhật Kư một vài nét ly kỳ”, một vài t́nh tiết lạ lùng không ăn khớp với nhau và không hợp với luận lư của ông.

 

Câu chuyện bắt đầu có lẽ vào những năm 1958-1959. Nhà văn Đặng thai Mai vừa được bầu làm Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam. Tố Hữu vừa đập tan bọn Nhân Văn-Giai Phẩm và vừa trực tiếp tổng kết một cuộc đấu tranh quan trọng trong văn nghệ bằng bản cáo toàn diện Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân Văn-Giai Phẩm trên mặt trận văn nghệ. Cũng trong thời gian này, Đặng thai Mai dành hết th́ giờ vào việc hoàn tất cuốn Văn thơ Phan Bội Châu, thần tượng một thời của ông. Nhà văn cũng vừa cho in xong cuốn Trên đường học tập và nghiên cứu tập I th́ được Trung Ương Đảng Ủy Nhiệm hiệu đính bản Việt dịch Ngục Trung Nhật Kư do nhà thơ Nam Trân thực hiện.

 

Trước kia, vào năm 1955, khi đọc cuốn Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch do Trần dân Tiên viết, Đặng thai Mai rất chú ư đến những đoạn nói về Hồ Chủ Tịch bị bắt giam, một lần ở Hồng Kông năm 1932-1933 và lần ở Quảng Tây năm 1942-1943. Đọc đoạn văn của Trần dân Tiên nói về những ngày tù của Hồ chí Minh ở Quảng Tây, nào là cụ Hồ bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang ṿng xích, đi măi..đi măi nhưng vẫn không biết đi đâu… Dầm mưa dăi nắng, trèo núi qua truông...Gian khổ như vậy nhưng cụ vẫn vui vẻ, thỉnh thoảng cụ Hồ làm thơ v.v...và so sánh những đề tài thơ được nói đến trong đoạn văn này với nội dung của Ngục Trung Nhật Kư, Đặng thai Mai hoàn toàn tin tưởng, đúng như Ban Tuyên Giáo đă quyết định, Hồ chí Minh thực sự là tác giả của tập thơ Ngục Trung Nhật Kư. Nhưng trong thời gian hiệu đính bản dịch kéo dài hàng mấy tháng, Đặng thai Mai có dịp đọc tập thơ một cách toàn bộ và kỹ lưỡng hơn, nhiều câu hỏi dồn dập từ bóng tối của tiềm thức hiện ra và có tác dụng làm cho đầu óc ông bị xáo trộn. Sự xáo trộn càng ngày càng dữ dội nhất là khi ông suy nghĩ về những con số thời gian đề ở ngoài b́a cuốn sổ tay: 29.8.1932, 10.9.1933.

 

Tại sao những thời gian nói đến trong tập thơ đều có liên quan xa gần đến những ngày bị giam cứu ở Quảng Tây năm 42-43 mà ngoài b́a lại để là năm 32-33? Đó là chính tác giả đă đề ra hay do một người khác? Người khác ấy là ai? Tại sao dám đề những con số kỳ quặc ấy vào tác phẩm của vị chủ tịch tối cao của quốc gia? Ông đem câu chuyện hỏi Vơ nguyên Giáp đúng lúc ông Tướng này đang chuẩn bị cho người ta ghi lại bài kư của ông nói về Hồ Chủ Tịch, người cha của quân đội cách mạng Việt Nam. Vơ nguyên Giáp kể: “Chúng tôi lên đường công tác Bác cũng ra ngoài nước. Một hôm, ở Ngân Sơn, nhận được thư hỏa tốc của anh Phạm văn Đồng, mở ra, thấy tin...Bác...đă mất ở trong ngục...Tôi c̣n nhớ, sau mấy hôm bối rối ấy, tôi lại tiếp tục xuống châu Ngân Sơn...ít lâu sau, chúng tôi bỗng nhận được một tờ báo ở Trung Quốc gởi về. B́a tờ báo ấy có mấy hàng chữ, đúng nét chữ Bác, viết: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác. Ớ bên này b́nh yên...” Thế mà đă làm chúng tôi phải mấy tháng trời ngao ngán, đau thương, lo lắng...Sau một thời gian, chúng tôi tiến về Châu Chợ Ră...sang Đông Viên, đến Nghĩa Tá, rồi thẳng về chân làng Cóc phối hợp với các chiến sĩ của anh Chu văn Tấn...Sau đó, tôi trở về đến Cao Bằng th́ vừa Tết. Tết đây là mồng một tháng giêng năm Quí Mùi, tức là ngày 5.2.1943.

 

Giả thiết Hồ chí Minh bị bắt ở Phố Túc Vinh, Trấn Thiên Bảo vào ngày 29.8.1942 như các nhà nghiên cứu cộng sản đă qui định, th́ trước ngày 5.2.1943 một hai tháng, tức cuối năm 1942, họ Hồ đă được Tướng Trương Phát Khuê tha về. Như vậy, theo Vơ nguyên Giáp, Hồ chỉ bị bắt giam ba hay bốn tháng chứ không hơn. Nếu như vậy, Đặng thai Mai suy nghĩ, Bác Hồ không thể là tác giả của Ngục Trung Nhật Kư được, v́ thời gian trong tập thơ này kéo dài măi đến tháng 8, tháng 9.1943 mới chấm dứt.

 

Sự t́nh cờ lại đưa Đặng thai Mai đến nói chuyện với Nguyễn lương Bằng, nhưng Nguyễn hoàn toàn không biết ǵ đến việc họ Hồ bị bắt giam ở Quảng Tây. Cụ chỉ nói về vụ Hồng Kông: “Một buổi tối, ở Tân Trào, chúng tôi đốt đuốc vào thăm Bác...Tôi nhắc lại chuyện hồi ở tù đọc báo thấy tin Bác bị bắt, rồi tin Bác mất v́ ho lao.v.v...Bác nói: Đúng đấy. Hồi ấy ḿnh cũng đọc cái tin ấy...Tôi hỏi sao nó không làm án và Bác lại thoát được, Bác kể: Nhờ có Cứu Tế Đỏ hết ḷng giúp đỡ lại có một Thầy Kiện Anh căi cho ḿnh...Hồi ấy, vào khoảng năm 1933, bọn Tưởng đang khủng bố dữ, năm 1935, Bác dự Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ bảy, đầu năm 1941, Bác về Pắc-pó…Buổi tối hôm ấy, Bác và tôi nhắc lại những ngày ở Quảng Châu. Ngoảnh đi ngoảnh lại chốc đă hai mươi năm. Bác nhớ rất kỹ...Bác nhớ rất kỹ mà Bác lại không nhớ lại những ngày nằm tù ở Quảng Tây năm 42-43, thế th́ những ngày tù ấy chả có ǵ đặc biệt khả dĩ có thể làm Bác vui, cũng chẳng có thơ văn ǵ hay ho có thể làm Bác nhớ, như vậy, câu chuyện Bác viết Ngục Trung Nhật Kư năm 42-43 là câu chuyện không có rồi, đó chỉ là một câu chuyền do Ban Tuyên Giáo dựng đứng mà thôi.

 

Đặng thai Mai nhất định phải hỏi cho ra lẽ tại sao có những con số 32-33. Ông kể lại: “Trong thời gian Viện Văn Học hiệu đính bản dịch tập Ngục Trung Nhật Kư (1959-1960), chúng tôi đă đề cập lên Bác câu hỏi về điểm này, qua Ban Tuyên Giáo. Và đă được trả lời: Hai con số trên đây là sai, đúng ra là 1942-1943”. Khi đề đạt câu hỏi này lên Hồ chí Minh, Đặng thai Mai không đứng trên tư thế cá nhân mà trên cương vị Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, ủy viên Viện Văn Học đặc trách hiệu đính bản dịch Ngục Trung Nhật Kư, nói với tác giả của Ngục Trung Nhật Kư. Như vậy, trên hai tư cách quan trọng này, Hồ chí Minh có nhiệm vụ phải phúc đáp câu hỏi rơ ràng mang tính văn bản học chuyên môn của Đặng thai Mai. Hồ chí Minh đă không trả lời, không giải thích, mặc dầu Hồ thường được giới thiệu như là một lănh tụ rất thân dân, hay giải đáp những thắc mắc dù nhỏ nhặt của nhân dân. Hồ chí Minh lại là tác giả của cuốn sách mà nhà văn Đặng thai Mai đang hiệu đính bản dịch, như vậy, không ai có quyền, có khả năng, có uy thế hơn Hồ chí Minh để cắt nghĩa cho Đặng thai Mai hiểu cái lư do hay con người nào đă viết nên mấy con số lạ lùng kia, và những con số ấy có thực sự muốn ghi soạn niên của tác phẩm hay không?

 

Đối với nhà văn bản học, biết soạn niên tác phẩm là điều tối quan trọng, nhiều khi chỉ bằng vào soạn niên của một tác phẩm mà nhà văn bản học có khả năng xác lập phụ quyền và cân nhắc giá trị của tác phẩm ấy. Hồ chí Minh giữ yên lặng về điềm này là thực sự có điều khuất tất. V́ thế để ve vuốt Đặng thai Mai, họ Hồ vội vàng phong cho Đặng làm Viện Trưởng Viện Văn Học, chức vụ bao trùm mọi sinh hoạt văn học trong phạm vi cả nước.

 

T. LAN VÀ CUỐN “VỪA ĐI ĐUỜNG VỪA KỀ CHUYỆN”

 

Theo lời giới thiệu của nhà cầm quyền Hà Nội, T.Lan là bút hiệu của Hồ chí Minh, tác phẩm được viết vào năm 1950 trên đường ra mặt trận trong chiến dịch Biên Giới. Sách được nhà xuất bân Sự Thật xuất bản năm 1963, ghi lại một số mẩu chuyện và đời hoạt động của họ Hồ ở nước ngoài từ khoảng 1923 đến 1945. Theo Hà minh Đức, “qua câu chuyện kể về đời hoạt động của ḿnh, người chiến sĩ cách mạng đă luôn phải đấu trí, đấu sức nhiều lần với kẻ thù...Tác giả nói nhiều đến sức mạnh của nhân dân và bộ mặt độc ác của các loại kẻ thù...Bên cạnh những chuyện kể của thời kỳ qua, là đôi nét miêu tả về sinh hoạt nhân dân vùng rừng núi biên giới...Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện khắc lại rất sâu, rất đậm h́nh ảnh của Hồ Chủ Tịch, song song ở hai chặng đường lịch sử người chiến sĩ cách mạng kiên tŕ hoạt động vượt qua muôn ngàn khó khăn trong thời kỳ bí mật và vị lănh tụ của dân tộc đang lănh đạo toàn dân kháng chiến...Tập kư có ư nghĩa động viên, giáo dục mọi người đi về phía trước và tin tưởng vào thắng lợi”. Trở lên là khái quát về nội dung Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện do Hà minh Đức viết trong cuốn Tác phẩm văn của Chủ Tịch Hồ chí Minh, nhà xuất bản Khoa học xă hội, 1985, trang 142-150. Ta không thấy Hà minh Đức nói ǵ về những ngày tù của Hồ chí Minh mà tác phẩm có mô tả cặn kẽ, cũng không thấy nhà lư luận văn học chuyên về văn ch- ương Hồ chí Minh đề cập tới những điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về thời gian hai lần tù của họ Hồ trong hai tác phẩm cùng viết về một đề tài, và của cùng một tác giả là cuốn Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, trong đó Hồ chí Minh lấy bút hiệu là Trần dân Tiên, và cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện, kư tên là T. Lan.

 

Trong Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Hồ chí Minh chỉ nói qua về việc ông bị giam ở Hồng Kông năm 31-33 nhưng lại để rất nhiều th́ giờ nói về việc Luật Sư Lô-dơ-bai căi hộ và che chở cho ông, về việc bị bắt giam ở Quảng Tây năm 1942-1943, ông lại nói rất chi tiết về cảnh sống ở trong tù (ngày mang gông, đêm cùm chân), về những ngày chuyển lao gian nan (bị giải đi, tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang ṿng xích) nhưng ông vẫn cảm thấy sung sướng v́ được ngắm phong cảnh đồi núi, đồng quê bị giam. Ông ở chung với những người mắc bệnh giang mai, những người nghiện thuốc phiện, phải ngủ ở cầu xí, bị ghẻ lở, có người tù chết ngay bên cạnh, bị nạn muỗi, rệp, rận, lại ăn thiếu nên gầy như que củi. Đi suốt 80 ngày, bị giam trải qua 30 nhà tù, Hồ chí Minh mới đến Quế Lâm, rồi được hưởng chế độ chính trị trong nhà giam Liễu Châu. So những chi tiết này với Ngục Trung Nhật Kư, ta thấy giữa hai tác phẩm có một sự qui chiếu đều đặn gần như tiền định, và từ đó, nếu ta đă chấp nhận Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch th́ ta cũng phải công nhận tác giả Ngục Trung Nhật Kư là Hồ chí Minh.

 

Nhưng trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, T. Lan mà ta biết là Hồ chí Minh lại viết khác. Trong tác phẩm này, Hồ chí Minh đă nói đầy đủ về nhà tù Victoria ở Hồng Kông và chỉ nói sơ qua về nhà tù ở Quảng Tây. Ông nói rơ lần ông bị bắt ở Hồng Kông, đó là ngày 6.6. 1931, bị bắt tại nhà số 186 Phố Tam Lung (Cửu Long). Sau vài hôm, ông được Lô-dơ-bai sốt sắng căi hộ. Từ tháng 6 đến tháng 9, ṭa án họp 9 phiên, đến ngày 24.1.1933,ông được tha bổng. Rồi ông tả ngôi nhà ông bị giam, “nhà khám lớn Victoria to rộng, với những tường cao 3 thước tây bề ngang 1 thước, bề dọc không đầy 2 thước, bề rộng chỉ vừa một người nằm xiêu xiêu. Cao chót vót trên đầu tường chỉ có một cái cửa sổ nhỏ h́nh nữa mặt trăng lờ mờ, bị song sắt và lưới sắt bưng bít. Ban ngày, từ cửa sổ ấy ánh sáng lọt vào xà lim một cách rụt rè, bỡ ngỡ. Cửa xà lim bằng ván gỗ dày độ một gang tay và bọc sắt...ngẩng đầu lên chỉ trông thấy trời rộng bằng một chiếc khăn tay...Cùng giam với Bác đều là những người bị bắt về chính trị...” T. Lan cũng nói chuyện anh Lư mà ở trong Những mẫu chuyện..., Trần dân Tiên đă mô tả như là một tướng cướp đầy ḷng nghĩa hiệp. Anh Lư bị án 7 năm tù, c̣n 5 tháng nữa th́ hết hạn, nhưng v́ ḷng nghĩa hiệp, anh giết chết một tên cai người Anh rất hung ác, từ đó bọn gác ngục không dám lại gần Lư, c̣n anh em tù th́ đều gọi Lư là anh hùng. Ngoài ra, c̣n có những anh tù con nhà giàu như Trinh Quốc Dậu, chỉ ăn được cơm người nhà mang vào chứ không chiu ăn cơm tù v.v...

 

Những chi tiết chân thực được miêu tả trong Vừa đi đường...trùng hợp với nhiều ư thơ trong Ngục Trung Nhật Kư. Đó là về lần bị tù năm 1932-1933 Ở Hồng Kông. Về lần bị tù thứ hai ở Quảng Tây, đă được Trần dân Tiên kể lại rất dài ḍng và đă nêu ra nhiều chi tiết rất phù hợp với nhiều đề tài trong Ngục Trung Nhật Kư, T. Lan lại chỉ nói tới một cách rất ngắn gọn: “Tháng 8 năm ấy, Bác có việc sang Trung Quốc, th́ bị bọn Quốc Dân Đảng bắt. Sau khi bị chúng trói giải đi suốt 18 ngày, từ trại giam này đến trại giam khác, chúng đưa Bác về giam ở Liễu Châu...Đây không phải là một trại giam chính cống mà chỉ là một cấm bế thất một pḥng giam nhỏ hẹp ngay bên cạnh Đội Cảnh Vệ của Tướng Trương Phát Khuê. Chỉ một ḿnh bác bị nhốt ở đó”. Đây là T. Lan, tức chính bản thân Hồ chí Minh kể lại.

 

Cuốn Vừa đi đường...được xuất bản năm 1963, như thế nó ra đời sau cuốn Những mẫu chuyện đúng 8 năm. Nó được viết bởi cùng một tác giả, như vậy cuốn đến sau phải có những thông báo xác thực hơn cuốn trước, và nếu có những thông báo tương phản th́ những thông báo trong cuốn sau phải được coi là những lời cải chính đối với cuốn ra trước. Cũng v́ nghĩ như vậy, như tất cả các nhà văn bản học khác, mà Đặng thai Mai đă coi cuốn Vừa đi đường... như là lời Hồ chí Minh chính thức giải đáp cho ông: Hai con số trên đây là đúng, ghi 1942- 1943 là sai.

 

Trong vừa đi đường...Hồ chí Minh cho người đọc biết hai điều rất quan trọng: Sau khi bị bắt, Hồ chỉ bị giải đi tất cả trong 18 ngày là đến ngay nhà lao Liễu Châu. Như vậy, những chuyện nói “Bác Hồ yêu quí” bị giải đi 80 ngày, dầm mưa dăi nắng, nằm gai nếm mật là những chuyện bịa đặt. Cũng không có chuyện Hồ chí Minh đă trải qua gần 30 nhà tù xă và huyện như đă tả trong Những mẫu chuyện...v́ những chi tiết ghi trong cuốn sách vội vă này đă được cuốn Vừa đi đường...cải chính. Những sự kiện này về sau vẫn được truyền tụng trong giới ít đọc sách, tỉ dụ trong giới của ông Vũ Anh, và vẫn được nhiều nhà trí thức lười biếng tin theo. Cuốn Vừa đi đường...c̣n cung cấp cho ta một tin tức quan trọng khác, đó là xác định Hồ chí Minh chỉ bị giam một ḿnh trong pḥng, tức là ngoài ông ra, không có một người nào nữa trong xà lim của ông. Như vậy không có chuyện khuyên người bạn tù gắng ăn cơm cho no bụng (bài số 9), chuyện bạn tù ḥa nhạc với nhau (bài 12), chuyện bạn tù thổi sáo (bài 14), chuyện hai người học đánh cờ (bài 17, 18, 19), chuyện vợ người bạn tù đền thăm chồng (bài 32), chuyện cái mền bồi bằng giấy của người bạn tù (bài 43), chuyện ở chung với những người tù bị bắt v́ đánh bạc (bài 24) và cái chết của anh ta (bài 57) và của một người khác nữa (bài 58).v.v...

 

Vẫn theo Hồ chí Minh, thời gian chuyển lao từ Thiên Bảo đến Liễu Châu là 18 ngày, nếu giữa hai nhà tù nói trên có tất cả 18 nhà lao cấp huyện th́ đổ đồng, Hồ chí Minh chỉ bị giam một ngày hay một đêm th́ đúng hơn trong mỗi nhà lao. Và như thế, họ Hồ không thể đủ thời giờ để làm thơ ở nhà lao Tĩnh Tây 22 bài thơ, ở nhà lao Thiên Bảo 3 bài, ở Điền Đông 7 bài, Quả Đức 3 bài, Đồng Chính 7 bài, nhà lao Nam Ninh 27 bài.v.v...Và ngược lại tại nhà lao Liễu Châu là nơi bị giam lâu nhất, Hồ lại chỉ làm được 16 bài. Nhận xét này đă làm cho Đặng Thai Mai gần như phải lớn tiếng la lên v́ bất b́nh. ông viết: “...thời gian Bác bị đưa từ Liễu Châu đi Quế Lâm...kéo dài có tới khoảng 10 tháng, nhưng cuốn nhật kư chỉ ghi 19, 20 bài thơ so với thời gian 4 tháng trước, có tới gần 100 bài rơ ràng là quá ít...Từ đầu tháng 2 năm 1943, chỉ mấy ngày trước Tết Nguyên Đán năm Quí Mùi, hơn 30 vạn quân Đức Quốc Xă đầu hàng ở Xtalingrat. Thế mà sự việc rung trời chuyển đất này không thấy được phản ánh trong tập thơ...Chúng ta có thể lấy làm lạ v́ sao hồi này Bác viết ít thơ như vậy, và ít nói đến thời sự như vậy? V́ sao? V́ Bác sức yếu nên không muốn viết?...Tất cả mấy giả thiết trên đây, theo ư tôi, đều có ít nhiều cơ sở”.

 

Để đi t́m cơ sở vững chắc cho những giả thiết này, Đặng thai Mai trở về xem lại “bảng mục lục ở cuối Ngục Trung Nhật Kư. Rồi ông ngồi giở tập thơ từ trang này qua trang kia. Ông bắt gặp một vài con số (lại con số) hoặc một vài chi tiết chính xác hơn, về thời điểm lồng vào trong ḷng bài thơ hoặc ghi vào bên cạnh đầu đề”. Theo ông, những chú thích về ngày tháng ghi bên cạnh đầu đề trở nên rất khó hiểu đối với người đọc như ông. “Thí dụ bài Đồng Chính, bên đầu đề c̣n ghi rất rơ viết ngày 2.11, bài Cảnh Báo, ghi ngày 12.11, bài Giải Văng Vũ Ninh, ngày 18.11 và bài Đáo Liễu Châu ghi ngày 9.12.1942...Một người đọc có óc ṭ ṃ có thể sẽ nêu lên câu hỏi sau đây: V́ sao trong bài Đồng Chính, Giải Văng Vũ Ninh và bài Đáo Liễu Châu, ngày tháng lại được ghi rơ như vậy? Sao bao nhiêu bài khác lại không được sự chú ư đặc biệt ấy? Hay là ba ngày ấy...c̣n có một nội dung ǵ khác, về giá trị t́nh cảm, về t́nh h́nh chính trị? Câu hỏi vừa đặt ra có vẻ “lẩm cẩm” v́ có phần chắc là sẽ không bao giờ t́m được một câu trả lời chắc chắn, nhưng...thiết tưởng câu hỏi “lẩm cẩm” ấy vẫn có lư do của nó”.

 

Qua những câu hỏi dồn dập trên, Đặng thai Mai đă bắt đầu mở hé cho ta thấy những hoài nghi đen tối đang đua nhau nổi dậy trong đầu óc của ông. Hay là những bài thơ ấy có nội dung khác nhau, khác nhau về t́nh cảm, xung đột nhau về chính trị? Tại sao những bài có ghi ngày tháng th́ lại đổi chiếu được với những địa danh nhất định, và những địa danh này đều thuộc vào Tỉnh Quảng Tây, c̣n những bài không ghi ngày tháng lại không qui chiếu vào được một địa danh nào và thường chỉ nêu ra một nội dung tổng quát, có khi không liên hệ đến nhà tù? Những thắc mắc này đă dẫn Đặng thai Mai đến sự phân biệt trong Ngục Trung Nhật Kư ít nhất hai nội dung t́nh cảm khác nhau, hai ư thức chính trị trái ngược nhau như bóng tối và ánh sáng, hai phong cách có thể phân tích một cách dễ dàng, phong cách khái quát của thơ Đường, và phong cách đới tục (chữ của Nguyễn Trăi) của người b́nh dân Việt Nam.

 

Phong cách khái quát của thơ Đường sử dụng một hệ từ vựng kín, nghĩa là chỉ dùng một số chữ rất hạn chế có nghĩa khái quát, chỉ nắm lấy những cái có tính chất chung cho một loạt sự vật, một loạt hiện tượng, tức là không chú trọng đến cái cá biệt, không chú trọng đến việc tô đậm màu sắc, và cuối cùng, chủ trương tính triết học, coi trọng hoạt động của tư duy hơn của tri giác cảm quan.

 

Tác giả Ngục Trung Nhật Kư đă thành công trong loại phong cách này khi ông ghi nhận những ánh sao lấp lánh trên rặng núi vào Thu (bài 38), hoặc luồng hơi ấm của mặt trời ban mai tỏa xuống cơi người giá lạnh (bài 73), bóng thấp thoáng của mấy chú chim chiều về tổ (bài 28) hay của một áng mây trôi nhẹ giữa tầng không (bài 28), ánh hồng của một bếp la làng quê vào giờ chập choạng (bài 28), cánh đồng ruộng giữa những ngày mạ xanh hay vào mùa lúa chín (bài 35), một luồng gió lạnh mang theo chút thoáng thơm của cỏ nội, hoa rừng (bài 113), canh gà khắc khoải (bài 56), tiếng dế nhặt khoan (bài l07), hai chuông Kư chùa xa chen lẫn cùng tiếng sáo của một chú chăn trâu (bài 60)...Trong những bài này, tác giả tự xưng là chinh nhân (bài 38,39) hoặc tả một sơn thôn thiếu nữ đang xay bắp (bài 28), hoặc tự coi ḿnh như một khách lăng du, “Hồi ta đi đến lúa c̣n xanh, Vụ gặt mùa nay nữa đă thành, Khắp chốn nhà nông cười hớn hở, Ruộng đồng bát ngát tiếng ca thanh” (bài số 35), đến đó rồi đi đó một cách tự do, không có ǵ bó buộc. Bài Tảo Giải (số 38,39) có lẽ là bài thơ hay nhất trong Ngục Trung Nhật Kư, tôi xin chép ra đây bản tôi dịch ra tiếng Việt để cùng nhau thưởng thức phong cách thơ Đường của tác giả:

 

Đêm vẫn đêm...Gà gáy tiếng đầu.

Cḥm sao đưa nguyệt đến rừng thu.

Khách đi xa giữa đường xa vắng,

Ngẩng mặt, từng cơn lạnh gió lùa.

Phương đông, màu trắng đă thành hồng.

Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không.

Hơi ấm bao la trùm vũ trụ

Người đi, thi hứng boóng thêm nồng.

 

Bài Hoàng Hôn (số 60):

 

Gió như kiếm sắc mài ṃn đá

Rét tựa mũi giùi chọc thủng cây

Chuông đổ chùa xa xui khách bước.

Mục đồng thổi sáo dẫn trâu về.

 

Hoặc bài Ức Hữu (số 63):

 

Xưa bác đưa tôi đến bên sông,

Hỏi ngày trở lại, trỏ đ̣ng-đ̣ng

Giờ đây ruộng mới đà cày ải.

Đất khách, thân tôi mắc cũi lồng.

 

Chép thêm một bài nữa là bài Mộ (số 28) mà ai cũng thích:

 

Chim mệt về rừng t́m chỗ đậu...

Mây trôi lờ lững giữa trời không...

Xóm rừng, cô gái đang xay bắp.

Xay bắp vừa xong, bếp đă hồng.

 

Những bài này được viết bằng những nét phác họa, với những từ ngữ giản đơn, màu sắc gần như không có, thế mà người đọc có cảm tưởng như ḿnh đang ở không gian này bước vào một không gian khác, đang ở thời gian này bước sang thời gian kia, và cho bài thơ là hay. Ngược lại, và song song với những bài thơ ấy, là những bài Hạn Chế (bài l03), nói về việc đau bụng mà không được đi cầu; bài Bào Hương Cáu Nhục (bài 77), nói về việc ăn thịt chó ở Bào Hương, rồi bài nói về một cái răng rụng (bài 46), về việc trượt chân ngă (bài 52), thậm chí bài Sơ Đáo Thiên Đáo Ngục (bài 31), c̣n nói đến cả việc ngồi trên hố xí nữa. Đă đành đề tài nào cũng là đề tài cho thi ca, nhưng cách lựa chọn đề tài ở đây đă chứng tỏ ít nhất có hai nhân cách, hai con người, đối chọi nhau thực sự. Đặng thai Mai chưa nói đó là những ai, nhưng ông đă thấy thấp thoáng đằng sau khung cửa Ngục Trung Nhật Kư một số người mà có lẽ ông quen mặt. Để nhận rơ sự tương phản giữa hai phong cách thơ nói trên, ta thử đọc bài Hạn Chế (số l03), bản dịch của Viện Văn Học:

 

Đau khổ chi bằng mất tự do!

Đến buồn đi ra cũng không cho.

Cửa tù khi mở, không đau bụng,

Đau bụng th́ không mở cửa tù!

 

Bài Sơ Đáo Thiên Bảo Ngục (số 31), bản dịch của Lê Hữu Mục:

 

Năm mươi ba dặm, một ngày dài

Áo mũ dầm mưa. giày rạc rài

Chỗ ngủ yên, thâu đêm chẳng có.

Ngồi trên hố xí đợi ngày mai.

 

Khoan giải thích về ư nghĩa nội dung và giá trị đấu tranh của bài thơ, bởi v́ những cảnh thất bại điêu tàn (câu 2), những thái độ tiêu cực thoát ra từ chữ đợi (hán văn: đăi) không gợi ra được cái ư chí tiến hành cuộc đấu tranh cho tự do của bản thân, như Đặng thai Mai có lần đă gắng gượng bào chữa. Cả bài thơ và những bài thơ tương tự đều đới tục, hay nói như Nhữ Thành “cái nôm na của cuộc sống sẽ làm cho bài thơ nôm na theo”, trong đó người đọc thơ không thấy cái quan hệ tạo nên sắc thái nghệ thuật ở đâu cả, mà chỉ thấy rặt các yếu tố tản mạn, được nêu ra một cách lỏng lẽo bằng những biện pháp nôm na như liệt kê hay lư luận, so sánh, miêu tả. Về phương diện này, Phương Lựu đă nói đúng khi ông khẳng định rằng “Bác đă sáng tạo ra thể thơ tứ tuyệt tự sự hầu như không thấy có trong thơ Đường”. Nhữ Thành đă tỏ ra rất uyên bác về thi học đời Đường và đă bênh vực những bài thơ đới tục của Hồ chí Minh một cách rất hùng biện, nhưng ông càng đề cao giá trị của những bài tứ tuyệt tự sự ấy bao nhiêu, ông càng làm cho nó cách biệt với phong cách khái quát đối lập với nó, càng làm nổi bật h́nh ảnh của người đứng chung với Hồ chí Minh trong tập thơ, h́nh ảnh mà Đặng thai Mai và bạn bè của ông về sau này đă thấy nhưng chưa gọi tên được, mà Ban Tuyên Giáo cùng Trung Ương Đảng, sau khi cho h́nh ảnh ấy nhập một với Hồ chí Minh, vần t́m cách bôi bác cho mờ nhạt và sai lạc hẳn đi để không ai có thể thấy được.

 

VĂN VIẾT VÀ VĂN LÁCH CỦA ĐẶNG THAI MAI

 

Thực ra viết lách là một từ kép láy nghĩa, bởi v́ nếu viết là dùng chữ để ghi ra những điều suy nghĩ, th́ lách do chữ hán lặc nghĩa là viết, và viết lách có nghĩa là viết một cách thận trọng, nghiêm túc như khắc vào tre, như chạm vào đá. Chuyển sang tiếng Việt, từ lách mất nghĩa, và bị nôm hóa, biến nghĩa gốc, trở thành một động từ có nghĩa là đưa ḿnh qua chỗ chật hẹp nơi đông người một cách khéo léo, đi đôi với từ viết, lách có nghĩa là lựa chiều để khéo léo, nhẹ nhàng đưa lọt một ư nghĩ của ḿnh vào câu văn mà không ai biết, hoặc t́m cách khôn ngoan đưa sâu tư tưởng của ḿnh vào một đoạn văn, một cuốn sách mà ḿnh viết với mục đích riêng tư, thường là đối lập một cách tinh vi với quan điểm, với chính sách của nhà nước. Đặng thai Mai nổi tiếng trong giới văn học miền Bắc là v́ ông “đă hấp dẫn người đọc bằng một nghệ thuật diễn đạt tinh tế và uyển chuyển, một ng̣i bút chiến đấu sắc sảo và giàu tính thuyết phục”, và được như vậy là nhờ ở chỗ ông đă biết viết và biết lách đúng lúc, đúng chỗ.

 

Khi đọc lại tập thơ Ngục Trung Nhật Kư vào những năm 1970-1976, ông tỏ ra không đồng ư với nhiều nhà phê b́nh khi họ cường điệu vấn đề chủ nghĩa lạc quan cách mạng và tinh thần bất khuất của người chiến sĩ trong Ngục Trung Nhật Kư. Đặng thai Mai viết: “Trong tập nhật kư có một số bài thơ mà chúng ta có thể xếp vào loại thơ triết lư. Tuy vậy, nếu đọc kỹ lại (đây là nhà văn bắt đầu lách) th́ chúng ta vẫn có thể phân vân về việc xếp loại như thế. Bài bát cú T́nh Thiên (bài số 113) chẳng hạn, mở đầu với một câu muốn như là để phát triển thuyết tuần hoàn luận. Câu 1 và câu 2 nhắc lại một triết lư khá thông thường là sự vật nằm trong định luật xoay vần và trời mưa măi rồi th́ cũng tới ngày nắng. Và rồi câu kết bài thơ lại nói tới lẽ tự nhiên “khổ tận” nhất định sẽ tới ngày “cam lai”. Tuy vậy (tác giả giả vờ như rút lại câu văn lách) trung tâm hứng thú của bài thơ chắc không phải là mấy câu triết lư dễ dàng ấy. Trước hết là đối với phương Đông chúng ta, thuyết tuần hoàn luận đă trở nên khá thông thường với các Nhà Nho Học cũng như các Nhà Đạo Học, Phật Học. Bác hiểu hơn ai hết rằng (lách thực sự) có một lối tŕnh bày cái thuyết vần xoay của các Nhà Triết Học ngày xưa thật sự là siêu h́nh, và một mặt nữa, nếu như “sau mưa có nắng” th́ “sau nắng phải có mưa” th́ sao? Cho nên nghĩ cho kỹ, triết lư này không phải là triết lư dài hạn. Sự thực th́ ở đây (hết lách và bắt đầu viết), chủ đề chính cố nhiên không phải là triết lư tuần hoàn luận mà chính là cái chủ nghĩa lạc quan của con người khi cảm thấy sung sướng trước cảnh tượng của ngày tự do sắp tới”.

 

Đọc cả một đoạn văn dài, các quí vị trong Trung Ương Đảng cũng như trong Bộ Chính Trị ở Hà Nội chắc phải vỗ tay hoan hô tinh thần sùng bái lănh tụ của Đặng thai Mai, nhưng ở Sài G̣n, các Nhà Văn Học lại thấy ngược lại là nhà văn họ Đặng đă nặng lời mạt sát những người đă lầm lẫn thuyết tuần hoàn duy tâm với chủ nghĩa lạc quan cách mạng, nghĩa là, nói cách khác, đă chỉ ra cái “đuôi” duy tâm của tác giả những bài thơ này. Như vậy, nhà cách mạng duy vật Hồ chí Minh c̣n có thể là tác giả những bài thơ ấy nữa hay không? Nhờ tài lách của ông, Đặng thai Mai đă đưa vào bài Đọc lại tập thơ Ngục Trung Nhật Kư những lời phê b́nh thực sự độc địa có khả năng phủ nhận phụ quyền của Hồ chí Minh đối với một số bài trong tập thơ.

 

Trong một đoạn văn khác, cũng nhờ tài lách khôn ngoan này, Đặng thai Mai đă giáng lên đầu Hồ chí Minh một quả tạ ngh́n cân. Tiếp tục tŕnh bày những hoài nghi của ông về phụ quyền Ngục Trung Nhật Kư, nhà văn đi thẳng vào vấn đề sáng tác bằng cách tra hỏi khả năng sáng tác của Hồ. ông viết: “Không thể không lấy làm lạ là Bác đă viết thơ bằng chữ Hán, và đă viết những bài thơ hay. Ở đây (nhà văn bắt đầu luồn), quả có phần của cái mà chúng ta thường gọi là thiên tài. Theo dơi tiểu sử của Bác (nhà văn bắt đầu lách), chúng ta có thể thấy rằng từ thời kỳ thanh thiếu nhi, cố nhiên Bác đă được bồi dưỡng trong trường học chữ Hán của các Nhà Nho cuối thế kỷ trước, nhưng một mặt nữa, cũng rất rơ là thời kỳ Bác được bồi dưỡng trong Nho Học, trong văn chương cử tử (thơ, phú, văn, luận) chắc chắn chỉ độ 5, 7 năm là cùng. Sau thời gian đó là thời kỳ đi học chữ Pháp, đi dạy tư, rồi từ giă quê hương đi t́m đường cách mạng cứu nước. Dấu chân của Bác in lên khá nhiều đất nước xa lạ trên cả hai bán cầu Đông và Tây. Thời kỳ thanh niên của Bác ở đất khách quê người không phải là những năm “du học”, mà là những năm lao động vất vả. Lao động để mà sống. Sống để làm cách mạng. Sống rất bận rộn, luôn luôn nguy hiểm. Th́ giờ dành cho việc học tập văn thơ chữ Hán, chắc chắn rất ít, nếu không nói là tuyệt đối không có... (hết lách, bắt đầu ca). Tuy vậy, không có một trí thông minh đặc biệt th́ với lứa tuổi ấy, người học sinh quyết không thể nắm vững được mọi qui cách văn học cổ điển, để sau này sử dụng ng̣i bút ḿnh một cách chủ động, mềm mại mà chắc chắn, như Bác. Cố nhiên (bắt đầu luồn), cái vốn cũ của nhà trường đó cũng nhờ có sự bồi dưỡng luyện tập th́ mới thành tài. Thiên tài trong văn nghệ là những tia sáng rất đẹp, rất lộng lẫy, nhưng thiên tài cũng có thể lướt qua như một ngôi sao băng, nếu nó không trở thành nhân tài. Nhân tài là của con người. Nhân tài có công tŕnh bồi dưỡng. Nhưng hiểu như vậy (lách mạnh) th́ chúng ta lại càng phải lấy làm lạ là Bác đă t́m đâu ra th́ giờ, điều kiện để tự bồi dưỡng cho ḿnh về nghệ thuật làm thơ, làm thơ bằng tiếng nước ngoài...

 

Nhà văn Đặng thai Mai, người đă viết về Lỗ Tấn, thân thế, văn nghệ ( 1944), Tạp văn trong văn học Trung Quốc hiện đại (1945), đă dịch các tập kịch Lôi Vũ, Nhật Xuất của Tào Ngu, lịch sử văn học Trung Quốc hiện đại (1958), đă không nói đùa khi ông xác nhận tŕnh độ thấp kém của Hồ chí Minh về Hán văn, điều mà kẻ viết bài này sẽ xác nhận ở phần sau với những bằng chứng cụ thể. Điều quan trọng là trong không khí cực kỳ sôi động về nhiệm vụ suy tôn lănh tụ mà các nhà văn phải thi hành, Đặng thai Mai đă nói ra được một cách công khai cảm nghĩ chân thành của ông về khả năng sáng tác Ngục Trung Nhật Kư của Hồ chí Minh. Ông đă thẳng thắn xác nhận, với một lư luận hết sức thuyết phục, là Hồ chí Minh không đủ kiến thức Hán văn để viết nên một tập thơ như Ngục Trung Nhật Kư. Tập thơ ấy là của một người khác.

 

CHỖ TINH VI CỦA GIÁO SƯ LÊ TRÍ VIỄN

 

Năm 1980, vừa ở nhà tù Bầu Lâm ra, tôi t́nh cờ gặp Giáo Sư Lê trí Viễn và được Giáo Sư làm quà cho cuốn Học tập phong cách ngôn ngữ chủ tịch Hồ chí Minh vừa in xong, trong đó có bài Thử đi vào chỗ tinh vi của nguyên tác và bản dịch Ngục Trung Nhật Kư của Giáo Sư: Một bài báo viết thật tinh vi, tinh tường, tinh xảo giải thích giá trị của nguyên tác Ngục Trung Nhật Kư đồng thời tŕnh bày những chỗ đạt và không đạt của bản dịch. Lời văn phê b́nh rất nhẹ nhàng, đôi khi dí dỏm, nhiều chỗ mượt mà trau chuốt như thơ khiển cho những ư kiến đưa ra dễ được chấp nhận. Vào năm 1982, tôi đọc Tổng tập văn học Việt Nam, tập 36, giới thiệu những tác phẩm của Nguyễn ái Quốc-Hồ chí Minh, trong đó có cuốn Ngục Trung Nhật Kư do nhà Hán học Nguyễn sĩ Lâm và Giáo Sư Lê trí Viễn phụ trách phần phiên âm, dịch xuôi, chú thích, ông Nguyễn văn Bách phụ trách phần viết chữ Nho.

 

Cứ nh́n từ bên ngoài th́ ta chỉ thấy đây là một công tŕnh biên tập theo phương pháp giáo khoa, với những lời giải thích đầy đủ rơ ràng, phần dịch xuôi chú ư tới từng từ ngữ, từng ư nghĩa của từ ngữ ẩy trong câu văn, các thành ngữ Trung Hoa được nhận diện và được cắt nghĩa đúng với vi trí của nó trong văn mạch. Nói tắt, đó là một công tác của một nhóm người có thiện chí muốn góp phần chuyên môn của ḿnh vào việc tiến hành nghiên cứu Ngục Trung Nhật Kư. Nhưng đó mới chỉ là cái nh́n bề ngoài. Nh́n sâu hơn vào toàn bộ tác phẩm, ta mới thấu hiểu chỗ thực sự tinh vi của Giáo Sư Lê trí Viễn, nh́n sâu hơn có nghĩa là ta phải nh́n lại bản Ngục Trung Nhật Kư của nhà xuất bản Văn Hóa thuộc Viện Văn Học, phát hiện ra những chỗ sai khác giữa bản này và bản của nhà xuất bản Khoa Học Xă Hội (l), tham khảo những tư liệu và nhận định của các soạn giả đă phát biểu về những điểm này, nhất là những quan điểm văn bản của Giáo Sư Đặng Thai Mai v.v...Với cách nh́n sâu sát như vậy, ta mới nhận ra rằng việc làm của Giáo Sư Lê trí Viễn tiếp tục sự nghiệp chưa hoàn thành của Giáo Sư Đặng thai Mai và nhờ phương pháp nghiên cứu văn bản học nghiêm túc của Giáo Sư Lê trí Viễn, ta có thể có điều kiện cụ thể xích lại gần hơn quan niệm của Giáo Sư Mai về phụ quyền của Ngục Trung Nhật Kư.

 

Trước hết, qua bản sao lục của ông Nguyễn văn Bách, tất cả mọi chữ chép sai trong bản của Viện Văn Học do ông Phạm phú Tiết viết đều đă được sửa chữa, tỉ dụ:

 

 

Đây chỉ là những chữ viết sai theo thói quen của một người học chữ Hán theo phương pháp cổ truyền, nó có thể không quan trọng trong một bản văn khác. Ở đây, đó lại là những khuyết điểm lớn v́ nó liên quan đến một tác phẩm lớn và một tác giả lớn. Là một bậc thầy được công nhận về văn bản học, Giáo Sư Lê trí Viễn không thể tha thứ những sai sót ấu trĩ ấy. Ta càng khâm phục phương pháp làm việc nghiêm túc của họ Lê bao nhiêu, ta càng thấy sự cẩu thả đáng trách của Hồ chí Minh bấy nhiêu v́ Hồ là tác giả tập thơ, là người duy nhất và cuối cùng xem lại bản thảo và cho phép in. Sự cẩu thả này cho thấy, đúng như nhận xét của Giáo Sư Đặng thai Mai, Hồ chí Minh không có khả năng là cha đẻ của Ngục Trung Nhật Kư.

 

Bản phiên âm Ngục Trung Nhật Kư cũng đă không tránh được nhiều sai sót trầm trọng. Sau đây là một sổ chữ điển h́nh về phiên âm sai.

 

 

Ngoài ra, bản phiên âm đă rất lúng túng khi gặp những chữ dùng theo Bạch Thoại, hoặc câu có kiến trúc ngữ pháp Bạch Thoại. Ta biết rằng tiếng Trung Quốc phát ra đúng giọng nói của người Bắc Kinh th́ có 6 thanh, trong đó có 4 thanh căn bản là âm thanh, dương thanh, thượng thanh và khứ thanh. Âm thanh là thứ thanh không có dấu. Dương thanh là thứ thanh có dấu đọc lên thành ra một thanh ở giữa thanh có dấu sắc và thanh có dấu hỏi của Việt Nam. Thượng thanh là thứ thanh có ghi dấu V, thanh này phát ra đầu tiên thấp rồi lên cao dần như thanh có dấu hỏi của Việt Nam. Khứ thanh là thanh có ghi dấu, tức thứ thanh phát ra hơi chậm từ cao xuống thấp gần giống thanh ở giữa thanh có dấu huyền và thanh có dấu nặng của Việt Nam. Hệ thống thanh điệu của tiếng Hán-Việt đă được hoàn thành từ đời Đường, do đó, khi đọc thơ Hán-Việt, ta không bị vấp về vấn đề thanh điệu, tiếng Quan Thoại mới trở thành chính thức bên Trung Hoa từ Ngũ tứ vận động (1919), nó c̣n quá mới đối với người Việt Nam, và nhất định là chúng ta chưa ổn định được hệ thống thanh điệu để áp dụng vào việc sáng tác thi ca. Cũng v́ thế mà cùng một bài thơ Hán- Việt, nếu đọc theo hệ thống thanh điệu cổ truyền th́ bài thơ có thể viết đúng niêm luật, nhưng nếu đọc theo âm Bắc Kinh th́ lại thất luật, thất niêm, lư do là v́ hệ thống thanh điệu của tiếng Hán-Việt chỉ phù hợp với những bài thơ chữ Hán đọc theo âm Việt cổ truyền. Các nhà phiên âm của Viện Văn Học đă không chú ư đến hiện tượng ngữ học đó, cho nên đă v́ tôn trọng âm luật mà phiên âm sai nhiều chữ, và v́ phiên âm sai nên gây ra t́nh trạng thất luật hoặc biến nghĩa của câu thơ. Giáo Sư Lê trí Viễn đă nhẹ nhàng, như một Giáo Sư chỉ lỗi chính tả cho môn sinh, nêu ra nhiều chỗ phiên âm sai trái, điền h́nh là trong bài 86 nhan đề là: Đáp hỏa xa văng Lai Tân (Đáp xe lửa đi Lai Tân).

 

Đây là bản phiên âm của Viện Văn Học:

 

Kỷ thập nhật lai lao táu bộ

Kim thiên đắc đáp hoả xa hành

Tuy nhiên chỉ đắc toạ thán thượng,

Tất cánh tỉ đồ bộ phiêu lượng.

 

Rơ ràng là vần hành và vần lượng hoàn toàn sai lạc, người phiên âm đă phạm một lỗi rất nặng chỉ v́ ông muốn tôn trọng nội dung của văn bản. Tiếng Hán-Việt không có từ phiêu lượng, đây là một từ Trung Hoa, có nghĩa là đẹp đẽ, sang trọng, bảnh bao (theo Nguyễn sĩ Lâm và Lê trí Viễn). Các tác giả này đă phiên âm lại bài thơ bằng cách sửa lại chữ hành thành hàng, chữ lượng (có dấu nặng) thành lương (không có dấu) và chú thích: “Bài thơ này, hai từ hành và lượng, nếu đọc theo chính âm của nó, th́ không có vần, ở đây, tác giả đặt theo lối hiệp vận và âm Trung Quốc nên hành phải đọc là hàng và lượng là ương th́ mới có vần”. Lời chú thích rất sơ sài, nhưng lại rất sâu sắc. Nó chứng thực rằng, nếu tác giả Ngục Trung Nhật Kư đă đặt câu theo lối hiệp vận và âm Trung Quốc, và phải đọc theo cách phát âm Trung Quốc mới có nghĩa, th́ tác giả nhất định phải là người Trung Quốc chứ không phải là người Việt Nam. Tôi sẽ bàn thêm về vấn đề này ở những trang sau, ở đây, tôi thấy cần phải lưu ư đến lời chú thích của Giáo Sư Lê trí Viễn, nó cho ta biết vi Giáo Sư này đang đi theo con đường nghiên cứu và học tập của Giáo Sư Đặng thai Mai, nghĩa là đang t́m ṭi phát hiện ra tác giả đích thực của Ngục Trung Nhật Kư. Về vấn đề này, Giáo Sư Lê đă bước một bước lớn so với Giáo Sư Đặng: Ông chỉ rơ tác giả là một người Trung Hoa chứ không phải Hồ chí Minh, mặc dầu mỗi lần nói đến tập Ngục Trung Nhật Kư, ông vẫn trân trọng cho đó là tập thơ chữ Hán của Bác.

 

Về những chữ dịch sai trong bản Ngục Trung Nhật Kư của Viện Văn Học, Giáo Sư Lê trí Viễn đă đưa ra nhiều trường hợp rất đáng chú ư, tỉ dụ bài số 14 nói về người bạn tù thổi sáo, Giáo Sư viết: “Người bạn tù thổi sáo là một bài dịch chưa tốt...Đi vào chỗ tinh vi của thơ ca th́ rơ là có nhiều chỗ dịch chưa đúng, cả thần lẫn chữ nghĩa. Ngục trung hốt thính mà dịch là bỗng nghe trong ngục, mới xem qua ai không cho là đúng: Ngục trung là trong ngục, hốt thính là bỗng nghe, c̣n ǵ nữa? Ấy thế mà lại sai, cái sai rất nguy hiểm v́ có vẻ đúng. Hăy xem: Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu có phải là người ở ngoài ngục nghe không? Mà đă thế th́ bài thơ hỏng mất rồi. Ở đây là người trong ngục nghe người trong ngục. Người thổi sáo nhớ nhà, người nghe thổi sáo cũng nhớ nước, hai người có chung một tâm sự “tư hương”. Câu thơ chữ Hán rành rành như thế: Ngục trung hốt thính tư hương khúc. Cũng có một người thứ ba có lẽ cũng nghe khúc nhạc là “khuê nhân”, người vợ ở nhà...Bắt đầu bài thơ th́ chưa có. Nhưng khi khúc sáo nhớ quê hương đượm thấm t́nh người (về chỗ này, câu dịch bỏ mất một cái tŕnh tự chuyền biến trong tâm tư thể hiện bằng tŕnh tự chuyền biến trong khúc nhạc) th́ không những người thổi, người nghe ở trong ngục đều xúc cảm sâu xa, mà ở xa muôn dặm, người ở quê nhà cũng động ḷng, bối rối trong ruột, cho nên đă lên một tầng lầu để nh́n về phương trời, nhưng chưa thấy ǵ, lại phải lên một tầng nữa. Bài thơ kết thúc trong một niềm thương nhớ mênh mông, dằng dặc. Đă dịch được cái mênh mang dằng dặc ấy, nhưng đă bỏ mất cái ư “khuê nhân cách thượng”. Đáng phàn nàn nhất là chữ “vi vu”. Câu chữ Hán không có. Đối với cái không khí trong veo của bài thơ, âm thanh đó không hợp. Tư Hương Khúc là khúc nhạc nhớ quê, rơ ràng lắm. Sao lại có một âm thanh vi vu thêm vào? Quan trọng hơn cả: Vi vu là một từ miêu tả, miêu tả tiếng sáo. Điều này gần như trái hắn với tinh thần bài thơ...

 

Trong bài Lộ Thượng (Trên Đường Đi, bài số 41) có chữ say nghĩ ra cũng rắc rối như thế. Bài dịch hơi bay bướm, không giữ được cái chân phác của bài chữ Hán, nhưng cũng kể là hay: Mặc dù bị trói chân tay, chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng. Vui say ai cấm ta đừng, Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu. Nhưng đọc đến chữ ‘say” vẫn hơi ngờ ngợ. Trong Tự do lăm thưởng vô nhân cấm không có ư ǵ say cả mà chỉ nhấn mạnh đến ư tự do, ở đây là tự do thưởng thức, tự do vui thú...chứ chưa thể “vui say”. Vấn đề không phải mặt chữ, mà một mức độ, một phong thái...Đến khi nó lắng ch́m, tinh vi một tí, hoặc giả người ta dịch sơ ư một chút là có thể sai lạc, mất cái sâu Sơn thôn thiều nữ ma báo túc (Mộ, số 28) dịch thành cô em xóm núi xay ngô tối. Trong chữ Hán không có chữ tối, chỉ có xay ngô. Kể ra bài này tả cảnh chiều tối bên một xóm núi, sau khi tả cảnh chim bay về núi ngủ, cảnh mây trôi chầm chậm trên không, quay về xóm tả việc cô gái nhỏ xay ngô chuẩn bị bữa tối mà thêm chữ “tối” vào, có ǵ là sai? Đúng là xay ngô tối, nhưng đặt chữ “tối” vào đây th́ sớm quá, và lộ quá. Nguyên văn không nói đến tối mà tự nhiên nói đến: Thời gian trôi dần dần theo cánh chim và làn mây, theo những ṿng xoay của cối ngô, quay quay măi, “ma bao túc” Bao túc ma hoàn...và đến khi cối xay dừng lại th́ “lô dĩ hồng”, ḷ đă rực hồng, tức trời tối, trời tối th́ ḷ rực lên. Nhịp câu thứ tư là 4-3, nhip ba ngắn, chấm dứt cho cả một sự vận động chuyển biến, đúng với cái tối lúc đến nhanh, thu dần cuộc sống bên ḷ than, rồi tỏa cái ấm ra theo âm thanh nồng ấm của chữ hồng. Tất cả cái đó, chữ tối trong câu 3, và nhịp điệu 2-5 của câu 4 làm hỏng cả. Có khi chỉ v́ sai ngữ khí mà lạc cả tinh thần.

 

Bài Bị bắt ở phố Túc Vinh là một sự bất b́nh, hơn nữa, một sự phẫn nộ. Thái độ th́ b́nh tĩnh, nhưng cứng rắn. Việc mới xảy ra đột ngột, phản ứng c̣n mới mẻ, chưa có ǵ sâu lắng. Câu thứ 2: “Cố ư tŕ diên ngă khứ tŕnh” cũng chưa phải là một câu nh́n vào ḿnh, mà là đối với địch, cho nên dịch “cố làm cho chậm bước ḿnh” là không phù hợp, nhất là chữ “ḿnh” quá mềm yếu, có ư tự an ủi, xuống nước quá nhiều. Câu thứ tư “Ba nhân danh dự bạch hi sinh “ là một lời phản kháng, mà câu dịch “không dưng danh dự phải hi sinh” lại là một câu than thở.

 

Trong phần chú thích Ngục Trung Nhật Kư, Giáo Sư Lê trí Viễn c̣n chỉ rơ những cách phải hiểu rơ những thành ngữ Trung Hoa như thảm đạm kinh dinh (bài số 18), tuyết trung tống thán (bài số 84), chiến chiến căng căng (bài số 54), xan phong dục vũ (bài số 78).v.v...để tránh những cách dịch phỏng chừng sai lạc. Công việc cần cù và thận trọng này đáng lẽ là thuộc vào trách nhiệm của tác giả khi đọc lại bản dịch trước khi ra lệnh cho in. Sự yên lặng thản nhiên của tác giả cho ta có cảm tưởng là ông chẳng biết ǵ hết, kể cả cái tập thơ mà ông đứng tên tác giả. Thái độ dửng dưng trước những sai sót trầm trọng của tiều ban dịch Ngục Trung Nhật Kư có xứng đáng với một tác giả đích thực không, đó là điều mà Giáo Sư Lê trí Viễn muốn biết khi ông để tất cả th́ giờ của ḿnh vào việc đi t́m những chỗ tinh vi trong bản dịch Ngục Trung Nhật Kư.

 

Nhóm của Giáo Sư Lê Trí Viễn c̣n phát hiện ra một chuyện động trời trong bản Ngục Trung Nhật Kư của Viện Văn Học: Các nhà có trách nhiệm về việc dịch tập thơ này đă sửa lại mục lục của tập thơ, tự tiện thêm vào những bài thơ không có trong bản gốc, cuối cùng c̣n tự tiện sửa chữa lại nhiều câu thơ trong đó nữa. Đây là phần mục lục của bản Viện Văn Học đối chiếu với mục lục của bản Lê trí Viễn.

 

TÊN CÁC BÀI THƠ DỊCH

BẢN VIỆN VĂN HỌC

BẢN LÊ TRÍ VIỄN

Từ Long An Đến Đồng Chính

40

45

Trên Đường Đi

41

46

Đồng Chính

42

40

Chăn Bằng Giấy Của Người Bạn Tù

43

41

Đêm Lạnh

44

42

Dây Trói

45

43

Rụng Một Cái Răng

46

44

Đêm Thu

110

110

Cảm Tưởng Khi Đọc Thiên Gia Thi

111

112

Tức Cảnh

112

111

Trời Hửng

113

Không có

 

Tôi không đánh giá bản nào đúng bản nào sai, lư do là v́ tôi không có bản gốc trong tay, và đó cũng không phải là nhiệm vụ của tôi. Tôi chỉ nhận xét về thái độ của các nhà biên soạn đối với bản văn đang nghiên cứu, và quả thực phải công nhận rằng các nhà biên soạn trong Viện Văn Học đă làm việc trái qui tắc. Để phục vụ cho kế hoạch hoạt động của Ban Tuyên Giáo, mà mục đích là đề cao đạo đức cách mạng của lănh tụ Hồ chí Minh qua những chặng đường chuyển lao đầy gian khổ chẳng kém ǵ Chúa Ki-tô trong 14 chặng thương khó các nhà biên soạn của Viện Văn Học đă xếp đi xếp lại cho địa điểm của các nhà tù ăn khớp với đề tài, nội dung và thời gian của các bài thơ trong Ngục Trung Nhật Kư. Và họ hoàn toàn chỉ đứng trên một cứ điểm, sự bố trí tự do theo họ, miễn là làm sao cho có đủ 18 nhà lao, con số do bài thơ số 99 đă cho (Giam ở trong mời tám cái lao), dàn trải trong hơn 100 bài thơ, con số hơn 100 này ghi trong bài thơ số 104 (Dằng dặc đêm dài chặng ngủ cho, Ta làm trăm mấy bản thơ tù). Phương pháp bố trí của họ rất đơn giản, họ dùng hai bài thơ số 99 và 104 làm trục không gian và thời gian, rồi cứ theo cái trục đó họ dàn trải các bài thơ, bài thơ nào có ghi ngày tháng được xếp theo thứ tự thời gian, bài thơ nào không có th́ sắp xếp vào chỗ nào đó cũng được. Về không gian lại rất dễ biết được sự sai trái của các nhà biên soạn trong Viện Văn Học, làm việc theo chỉ thị của cấp lănh đạo trung ương!

 

Những hành động bê bối này đă không qua mắt nhà văn Đặng thai Mai, bởi vậy, khi nhận lănh trách nhiệm hiệu đính bản dịch Ngục Trung Nhật Kư, ông đă tỏ muốn nói chuyện trực tiếp với tác giả để hiểu rơ lai lịch tác phẩm. Sự yên lặng vô lư của Hồ chí Minh đă đưa đến những hậu quả mà ta đă biết. Ngay việc sắp xếp cho đủ con số 113 bài thơ cũng tỏ ra khiên cưỡng. Tính đến bài thơ 104 trong đó tác giả tuyên bố đă làm được hơn một trăm bài thơ tù, đếm đi đếm lại và căn cứ vào nội dung của các bài thơ c̣n lại, họ không làm thế nào cho đủ con số một trăm, thế là họ quyết định bài thơ nào có hai đoạn là kể thành hai bài thơ, bài nào có ba đoạn là kể thành ba bài thơ, nhờ cách đó, họ đă có đủ con số một cách dễ dàng. Cách làm việc của họ đă bị nhóm của Giáo Sư Lê trí Viễn sửa lại trong bản Ngục Trung Nhật Kư đăng trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 36, từ trang 603 đến 785.

 

Có một việc lạ lùng nữa là có bài thơ không có trong Ngục Trung Nhật Kư mà các nhà biên soạn của Viện Văn Học cũng dịch và xếp vào tập thơ, lộ liễu nhất là bài Tân xuất ngục học đăng sơn (bài số 114). Tuy có câu chú thích nhỏ nói là bài thơ này không có trong Ngục Trung Nhật Kư, nhưng ai cũng thừa biết ư đồ của họ là phải đăng thêm vào một bài thơ cho tập thơ có một chút bề dày để cho việc tŕnh bày được trang trọng, khổ một cái là bài thơ này lại là bài duy nhất được Hồ chí Minh nhận là của ông, đă cho đăng lại trong tập Vừa đi đường vừa kể chuyện với bản dịch do chính tay Hồ soạn, cho nên người đọc lại có cảm nghĩ là họ cố bám víu vào một cái ǵ dù rất mong manh, một bài thơ rất nhỏ, để cho tập thơ có chút hơi hướng ấm áp của một người c̣n sống, bởi v́ họ biết, và chỉ một ḿnh họ biết thôi, là tác giả thực của tập thơ đă nằm dưới ḷng đất lạnh từ lâu! Bài Tức cảnh số 112 cũng là một bài thơ dở mà họ tự tiện thêm vào cho tập thơ có bề dày. Nhóm Giáo Sư Lê trí Viễn đă tỏ ra rất hợp lư khi họ xếp bài thơ trên vào phần phụ lục và gạch bỏ bài thơ dưới.

 

Nhưng đây mới thực sự là chuyện động trời: Các nhà biên soạn bên Viện Văn Học đă sửa văn của Bác Hồ yêu quí của họ và đây cũng là tiết lộ của nhóm Giáo Sư Lê trí Viễn. Trong bài Tự miễn (số 34), họ đă tự tiện đổi từ khẩn trương của nguyên văn ra kiên cường. Câu thơ trong nguyên tác là:

 

Tai ương bả ngă lai đoàn luyện

Sử ngă tinh thần cánh khẩn trương.

 

Nghĩa là: Tai ương đem ta ra mà rèn luyện khiến cho tinh thần của ta lại càng khẩn trương. Bản Lê trí Viễn chú thích: “Khẩn trương, ư nói tinh thần không những không nao núng mà càng cảnh giác cao độ với những tai ương gặp phải. Hai chữ này, bản in của Viện Văn Học đề là kiên cường (vững mạnh), nay chúng tôi lấy lại theo nguyên bản”. Bản Viện Văn Học v́ sợ từ khẩn trương không nói lên được sức mạnh tinh thần của lănh tụ, và như thế là không đề cao được phẩm chất cách mạng không ǵ lay chuyền nổi của người cộng sản vĩ đại, không nói lên được khí phách hào hùng, ư chí sắt đá của Bác, cho nên họ đă gạch chữ đó đi, thêm vào một từ cụ thể hơn, cứng cát hơn là từ kiên cường, và câu thơ được đổi mới có thề dịch là: “Tai họa rèn luyện ta, khiến cho tinh thần ta thêm vững mạnh” Văn chương cách mạng là như thế đó, nếu nghe xuôi tai, hợp với chính sách của Đảng th́ ta để nguyên xi, nếu nghe nghịch tai, không hợp với đường lối xă hội chủ nghĩa th́ ta gạch bỏ. Không ai biết, mà có biết cũng chẳng làm được ǵ, mà có làm ǵ th́ ta cũng dẹp, ta sẽ lấy một lư do khác để bỏ tù những kẻ phản động đă dám chống đối ta!

 

Thực ra, lỗi không ở ai cả, mà chỉ do từ khẩn trương tạo ra. Khẩn trương nghĩa là ǵ? Có lẽ các ông trong Viện Văn Học đă hiểu khẩn trương là căng thẳng, và tinh thần của Bác mà căng thẳng th́ chẳng hóa ra Bác điên sao, cho nên họ phải bắt buộc đổi nó ra là kiên cường. Theo tôi, khẩn trương ở đây chỉ có nghĩa thông thường là nói đến một t́nh trạng cần được giải quyết ngay, và tiến hành giải quyết một cách tích cực. V́ tai họa dồn dập cho nên Bác khẩn trương, tức là Bác càng hoạt động tích cực hơn nữa! Lỗi cũng do câu thơ trên tạo ra nữa, và khóm từ bả ngă lai là thủ phạm chính. Bả ngă lai là cứ đem ta ra (mà tôi, mà rèn), cứ nhè ta (mà nung nấu), nhưng các ông trong Viện Văn Học không hiểu rơ cho nên đă dịch xuôi là: Tai họa rèn luyện ta, tức là đă lướt qua khóm từ bả ngă lai không dịch. V́ đọc thơ không hiểu nên liều lĩnh đổi câu thơ đi, mà là câu thơ của Bác! Tôi thấy các ông ở Viện Văn Học phải biết rơ tập thơ không phải của Hồ chí Minh mới dám to gan lớn mật như vậy. Trong bài số 39 (Tảo giải II) câu thơ thứ hai: U ám tàn dư tảo nhất không (Những tàn dư của bóng tối đă sớm sạch không), chữ tảo ở đây là buổi sớm, đă bị sửa lại bằng chữ tảo nghĩa là quét, cho nên bản Văn Học đă dịch là: Bóng đêm rơi rớt đă bị quét sạch. Họ sửa lại câu thơ này v́ họ cho rằng chữ tảo của nguyên tác chỉ thời gian không linh hoạt bằng động từ tảo, biểu diễn một động tác mạnh và phù hợp với khí phách hào hùng của Bác hơn.

 

Văn của ḿnh bị sửa lại tơi bời như vậy mà tác giả là Hồ chí Minh cứ điềm nhiên cho đem in th́ thật tôi không hiểu ông là loại tác giả ǵ? Nếu là một tác giả thực th́ một chấm một phết cũng không được sửa đổi chứ đừng nói là một từ!

 

THỬ XEM LẠI CÁI TÊN CỦA TÁC PHẨM

 

Tiếng Việt phân biệt rơ ràng những điểm khác nhau giữa từ nhà giamnhà ngục. Khi nói tù, là ta nói chung về trường hợp những người bị bắt, chữ tù có chữ nhân là người bị đóng khung trong bốn bức tường của chữ vi cho biệt tù là nơi giam giữ người có tội. Nhà giam là nơi tạm giữ những người vừa bị bắt đề lấy cung, lập biên bản tŕnh ṭa, nếu họ không có tội, họ sẽ được ṭa tuyên bố trắng án, và được tha về, không bị giam giữ nữa. Thời gian tạm giữ này gọi là thời gian giam cứu. Người bị bắt chỉ là tù nhân thực sự khi bị ṭa tuyên bố là có án, trong trường hợp này, người có tội bị giam trong nhà lao, c̣n gọi là nhà tù hay nhà ngục là những nhà được xây cất kiên cố, với tất cả mọi cơ quan thích nghi để cho tù nhân không thể vượt ra ngoài. Ngược lại, nhà giam chỉ là những chỗ tạm thời đặt ra để giam giữ những người bị bắt trong một thời gian ngắn, có thể là một căn pḥng, một buồng tắm, một chuồng xí, bất cứ một xó xỉnh nào cũng có thể là một nhà giam.

 

Theo định nghĩa này, Hồ chí Minh chưa bao giờ thực sự là một người tù như các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng hay như Trường Chinh, Lê đức Thọ, Đặng thai Mai. Hồ chỉ bị giam tạm thời trong khám lớn Victoria, được Luật Sư căi cho trắng án, rồi được tha về. Lần thứ hai bị bắt ở Quảng Tây, Hồ chỉ bị giam trong một cái cấm bế thất, một nhà giam nhỏ, rồi chuyển đi từ nhà giam này sang nhà giam nọ, cuối cùng được tha và được Trương Phát Khuê cấp cho một tờ hộ chiếu. Khi nói tới thời gian này, Hồ chí Minh chỉ dùng từ nhà giam chứ không bao giờ nói đến nhà ngục. Hồ chưa bao giờ là một tù nhân như các chiến sĩ cách mạng chống Pháp bị cầm tù ở Côn Đảo. Từ ngục trung (trong ngục) như vậy không có trong tự điển của Hồ.

 

Nhật kư là thể văn ghi chép theo thứ tự thời gian những sự kiện xảy ra và những cảm nghĩ hằng ngày của người ghi. Nếu nhật kư đ̣i hỏi một quá tŕnh thời gian liên tục chặt chẽ th́ Ngục Trung Nhật Kư không phải là một tập thơ ghi những sự kiện và cảm nghĩ hằng ngày, thời gian ở đây rất gián đoạn và rơ ràng là đă được sắp xếp lại một cách rất giả tạo bởi những bàn tay chuyên nghề “sơn vẽ đồ giả Trung Quốc”.

 

Nói tóm lại, từ ngục trung không có trong tiểu sử của Hồ chí Minh, từ nhật kư lại càng xa lạ đối với con người thích hoạt động (tỉ dụ săn rệp, bắt rận, thổi nấu) hơn là ngồi một chỗ làm thơ. Cũng v́ thế mà Hồ chí Minh không bao giờ đă viết Ngục Trung Nhật Kư. Mỗi lần được hỏi đến tác phẩm này là Hồ lấp lửng nói tránh đi, không phải v́ khiêm tốn, cũng không phải v́ coi nhẹ mọi thứ thuộc về cá nhân ḿnh, mà v́ Hồ không phải là cha đẻ của nó.

 

THỬ ĐI VÀO NỘI DUNG TẬP THƠ

 

Muốn biết rơ Hồ chí Minh có phải là tác giả Ngục Trung Nhật Kư không, ta phải đi vào nội dung tác phẩm xem con người làm chủ thể trong tác phẩm là ai. Tác phẩm có thể cho ta biết tên tuổi, quốc tịch, những sở thích của người đó, cùng những điều tác giả muốn nói với người đọc. Người với người có thể lừa dối nhau, bịp bợm lẫn nhau, nhưng tác phẩm bao giờ cũng là một người bạn trung thành, một tri âm, sẵn sàng tiết lộ những điều ta muốn biết.

Đầu tiên, ta thử hỏi về tên tuổi của người viết. Người viết thường tự xưng là ta, tôi một cách chung chung, nhưng có hơn một lần anh xưng là lăo phu.

 

Lăo phu nguyên bất ái ngâm thi

(bài 2, Khai Quyển)

 

Lăo phu ḥa lê tả tù thi

(bài 110, Thu Dạ)

 

Lăo nghĩa là già nói chung, nghĩa là từ 50 tuổi trở lên, 60 tuổi th́ gọi là kỳ như nói kỳ mục, 70 đến 80 là điệt, 80 đến 90 là mạo, nhưng ta chỉ được tự xưng là lăo phu khi ta đi quá tuổi kỳ để đến tuổi điệt. Như vậy, người viết Ngục Trung Nhật Kư là một ông già. V́ ông già nên răng ông rụng (bài số 46), v́ ông già nên ông rất hận cái thằng lính nào đó đă đánh cắp mất cái sĩ đích của ông, tức là cái gậy chống mà v́ tuổi già sức yếu ông mới mang được vào trong tù. Nếu ông trẻ hơn, vào khoảng 40-50 th́ sức mấy bọn công an cho ông mang gậy vào nhà tù! Cũng nhờ tuổi già mà ông tương đối được tự do đi lại trong nhà tù, và đă quan sát được nhiều chuyện thích thú. Cũng nhờ ông già mà bọn lính cho ông tự do làm thơ, miễn là đừng mạt sát nhà tù của chúng. Cũng v́ thế mà trong Ngục Trung Nhật Kư, không có bài thơ nào công kích chế độ lao tù của Tưởng Giới Thạch, ngược lại có nhiều bài khen ngợi là khác, như bài 9 (Tảo II) nói về việc được ăn no ở trong tù, bài 10 (Ngọ) nói về giấc ngủ trưa êm đềm trong nhà lao, bài 37 (Quả đức ngục) khen nhà lao là một tiểu gia đ́nh, bài 73 (Tảo t́nh) tả ánh sáng ban mai chiếu sáng rực nhà tù, bài 84 và 85 tuyên dương ông Quách, ông Mạc là những cai tù tốt bụng.v.v...Nếu đôi khi ông than phiền đời sống bị hạn chế (bài l03), phải ngồi trên hố xí đợi ngày mai (bài 31, bài 72), phải trả tiền vào nhà giam (bài 96), trả tiền đ̣n (bài 82) th́ đó cũng chỉ là những chuyện thường t́nh xảy ra trong mọi nhà tù trên thế giới chứ không riêng ǵ ở Trung Hoa.

 

Con người tự xưng là lăo phu ấy không thể là Hồ chí Minh v́ tính đến năm 32-33 Hồ mới khoảng ngoài 40, nếu có tính đến 42-43 chăng nữa, Hồ cũng mới chỉ ngoài 50, chưa có quyền xưng với người khác là lăo phu, xưng như thế sẽ tỏ ra hỗn xược, hoàn toàn không biết ǵ về những phong tục cổ truyền của Á Đông, nhất là về xưng hô. Vả lại, họ Hồ vốn rất ghét những người chưa già mà đă xưng ḿnh già. Đây là bài thơ kỷ niệm sinh nhật 1950:

 

Sáu mươi tuổi hăy c̣n xuân chán

So với ông Bành vốn thiểu niên

Ăn khỏe ngủ ngon, làm việc khỏe

Trần mà như thế kém ǵ tiên.

 

 

Đây là bài thơ làm ngày 19.5. 1953, nguyên tác chữ Hán, bản dịch của Xuân Diệu:

Người chưa năm chục đă than già

Ta thật khang cường tuổi sáu ba,

Giản dị bữa ăn, tâm trí sáng

Ung dung xét việc tháng ngày qua.

Ngày 20.5.1968, Hồ viết:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,

Vẫn vững hai vai việc nước nhà.

 

Con người như vậy mà lại xưng là lăo phu năm ngoài 40 th́ thật là vô lư!

 

Bây giờ ta thử hỏi Ngục Trung Nhật Kư về quốc tịch của tác giả. Tác phẩm cho biết có hai quốc tịch trong Ngục Trung Nhật Kư, một quốc tịch Việt Nam và một quốc tịch Trung Hoa.

 

Về quốc tịch Việt Nam của tác giả, bài số 94 nói rơ nhất:

 

Ngoại cản, trời Hoa nóng lạnh mới

Nội thương, đất Việt núi sông xưa.

 

Hai câu thơ này dựa theo hai câu thơ nổi tiếng của Hoàng Phan Thái tức đầu xứ Thái trong bài Trương Lương tố đa bệnh làm vào thời Tự Đức. Ta có thể coi cả bài thơ số 94 là của một người Việt Nam, cũng có thể là của Hồ chí Minh tuy không có bằng cứ chắc chắn. Hai bài có ghi thêm chữ quốc ngữ là bài 81 nói về một em bé trong nhà lao Tân Dương, và bài 67 nói về ngày lễ 11.11 trong đó có chữ Na-zi viết bằng chữ Việt. Đây có thể kể như là sự đóng góp của Hồ chí Minh. Người ta cũng gắng cường điệu ư nghĩa của những từ tư hương (bài 14), tha hương (bài 63), cố quốc (bài 110) để tranh thủ phụ quyền của những bài thơ ấy cho Hồ chí Minh, nhưng những từ ấy không hạn hẹp nội dung để chỉ hoàn cảnh của những người sống ở nước ngoài, mà c̣n dành cho cả những người ở trong nước mà không sinh sống nơi chôn nhau cất rốn. Cũng v́ có dụng ư đề cao vai tṛ lănh đạo của Hồ chí Minh mà người ta đă đục chữ khẩn trương trong bài đề thay thế bằng chữ kiện cường. Việc xuyên tạc trắng trợn này đă bị nhóm Lê trí Viện phanh phui. Cuối cùng, không c̣n cách nào khác có hiệu quả nữa để phục vụ ư đồ của Ban Tuyên Giáo, các nhà biên tập Ngục Trung Nhật Kư đă t́m mọi cách đề lái câu thơ vào quĩ đạo mà họ đă định trước, điển h́nh là trong bài 62 nhan đề là Thụy bất trước (Không ngủ được), họ đă tô thêm màu vàng và ngôi sao năm cánh để giải thích rằng ngay trong giấc ngủ, Bác cũng chỉ nh́n thấy tổ quốc được tượng trưng bằng ngôi sao vàng. Nguyên văn chỉ nói: “Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tam tinh”, nghĩa là hồn mộng cứ lẩn quẩn loanh quanh ở chỗ ngôi sao năm cánh, trong giấc mơ, ḷng chỉ hướng về ngũ tinh liên châu tức là hướng về đoàn tụ gia đ́nh, nghĩ đến vợ con mà lâu ngày ḿnh đă xa. V́ Hồ không có gia đ́nh, họ đă tài t́nh lái câu này sang màu cờ của Việt Minh, nhưng cái màu vàng ấy (sao vàng năm cánh) chỉ có tác dụng làm cho câu thơ vô nghĩa, hoặc ta nói sao vàng, hoặc ta nói ngôi sao năm cánh, chứ nhóm chữ sao vàng năm cánh không tạo nên được một h́nh ảnh liên tục.

 

Nếu quốc tịch Việt của con người trong tập thơ chỉ được nêu lên một cách mơ hồ với một dáng lên gân rơ rệt là quá sức th́ ngược lại, quốc tịch Trung Hoa của con người trong tập thơ nổi bật lên một cách dễ dàng.

 

Đầu tiên, người ấy kịch hệt phản đối những người kết tội anh là Hán gian, nghi ngờ anh là một người Trung Hoa mà đi làm tay sai cho giặc. Anh dứt khoát khẳng định anh là một người trung thành với quốc gia, trước sau anh một ḷng một dạ, giữ trọn niềm tin, giữ trọn những t́nh cảm, những lời cam kết đối với đất nước. Ḷng anh trước sau như một cho nên anh không cảm thấy có điều ǵ phải thẹn, phải xấu hổ. Anh chỉ tức giận một điều là ḷng trung thành của anh lúc nào cũng sáng như trăng sao thế mà anh lại bị hiềm nghi là một người Trung Hoa phản bội. Anh nói (bài số 7):

 

Trung thành, ta vốn ḷng không thẹn,

Lại bị hiềm nghi làm Hán gian!

Vốn biết là đời không dễ xử,

Đến nay càng khó xử muôn vàn!

 

Câu Hán văn của nguyên tác: “Trung thành, ngă bản vô tâm cứu” đă được Viện Văn Học giải nghĩa là: Ta là người trung trực, trong ḷng không bao giờ áy náy. Nhóm Lê trí Viễn đă dịch lại câu này là: Ta vốn trung thực, không điều thẹn ḷng. Có lẽ v́ không hiểu rơ nội dung của từ trung thành cho nên từ này chỉ được giải thích bằng một từ gần tương đương, và v́ sự hiểu biết mơ hồ đó mà không ai trông thấy từ Hán gian ở cuối câu 2 nữa. Muốn làm Hán gian th́ đầu tiên phải là người Hán đă chứ, làm sao một người Việt Nam có thể làm Hán gian, dù anh hoạt động trong nước Trung Hoa? Câu dịch ra thơ của bản Viện Văn Học lại càng vô nghĩa hơn nữa:

 

Ta người ngay thẳng, ḷng trong trắng

Lại bị nghi là kẻ Hán gian!

 

Dịch như vậy là hiển nhiên có hậu ư muốn xóa nḥa cái gốc Trung Hoa của anh đi, để dễ chuẩn bị cho người đọc hiểu rằng tuy nói là Hán gian, nhưng chính là Hồ chí Minh đấy, có biết đâu chính họ Hồ đă hiểu trung thành là trung thành với cái ǵ khi viết về Lư Thường Kiệt:

 

Tuổi già phải chí công danh

Mà ḷng yêu nước trung thành không phai.

(lịch sử nước ta, đoạn nói về Lư Thường Kiệt)

 

Trung thành của Lư Thường Kiệt là trung thành với đất nước Việt Nam, chứ không phải chỉ là trung thực hay trung trực một cách chung chung. Anh bị tố là Hán gian kia cũng vậy, anh trung thành là trung thành với đất nước Trung Hoa của anh, chứ không thể hiểu được bằng một cách nào khác.

 

Ngày Song Thập là ngày Tết của toàn thể dân Trung Hoa. Cũng như mọi người trong cộng đồng quốc gia, anh reo ḥ:

 

Nhà nhà hoa kết với đèn chưng,

Quốc khánh vui reo cả nước mừng.

(bài 26)

 

Quốc Khánh ở đây là lễ 10.10, ngày lễ chính thức lớn nhất của Trung Hoa, mọi người Trung Hoa kết hoa treo đèn để ăn mừng. Nếu anh là người nước ngoài, anh không có quyền nói rằng đó là quốc khánh của anh, cả nước của anh reo ḥ ăn mừng. Ngược lại, nếu anh chỉ nói trống không là quốc khánh, là cả nước, th́ người ta biết anh là người Trung Hoa.

 

Chữ đoàn viên trong bài Trung thu I (bài số 22) và khóm từ ngọc sàng cẩm trướng trong bài Nạn hữu đích chỉ bị (bài 43) cũng cho ta hiểu rằng khi người này gợi ra sự sum họp ở nhà (Sum họp ở nhà ăn uống Tết, Chớ quên trong ngục kê âu sầu), hay kêu gọi t́nh thương của những người no ấm nơi trướng gấm giường ngà (Trướng gấm giường ngà ai có biết, Trong tù bao kẻ ngủ không yên), chính là lúc anh nói chuyện với đồng bào người Hoa của anh, chứ nếu anh là người Việt Nam sống lạc lơng ở đất Quảng Tây anh có gia đ́nh nào đâu mà kêu gọi ḷng thương xót của họ!

 

Ta có thể kết luận rằng trong Ngục Trung Nhật Kư, bên cạnh một con người Việt Nam có một con người Trung Hoa. Con người này tự cho ḿnh là anh hùng (Nam nhi đến thế cũng hào hùng, bài 48), có khi tự thấy ḿnh oai phong cho một quan vơ nước ngoài (Giống hệt gù quan vơ nước ngoài. bài 45), hoặc lẫm liệt như những vị quan to trong triều ngày xưa (Hàng khanh tướng cũ, giống nghi dung, bài 49), bởi vậy anh ta thường ví ḿnh với rồng (Lao lung tháo trúc thấy ngay rồng, bài 71), trưa ngủ, anh cũng thấy ḿnh cỡi rồng lên thượng giới (bài 10) Anh có những nét của một tay “giang hồ phỏng túng, nên anh thích sống ngoài khuôn khổ g̣ bó xă hội”, ưa trèo lên những ngọn núi cao đề từ đấy nh́n xuống nước non muôn trùng ở dưới chân (bài 27), thích ngao du vào những buổi sáng sớm đề cho gió lạnh của núi rừng lùa vào mặt (bài 38), đề hưởng những luồng hơi ấm của b́nh minh chan ḥa vũ trụ (bài 39). Địa bàn hoạt động của anh là rừng xanh núi đỏ, là đồng chua nước mặn, nơi có cô bé xay ngô (bài 28), có lúa xanh đầy đồng (bài 35), có tiếng chuông chùa đổ xuống chiều hôm và có tiếng sáo của em bé quê lững thững dắt trâu về (bài 60).

 

ÔNG GIÀ NGƯỜI HOA HỌ LƯ

 

Con người có quốc tịch Trung Hoa này là ai, ông từ đâu lạc vào Ngục Trung Nhật Kư? Làm thế nào mà thơ của ông đă lọt vào tay Hồ chí Minh? Về điềm này, ta phải hỏi chính Hồ chí Minh, chỉ có ḿnh họ Hồ biết già Lư, chỉ có ḿnh Hồ bị giam với già Lư trong khám lớn Victoria ở Hồng Kông năm 1932-1933, và cũng chỉ một ḿnh ông đă viết về già Lư trong thời gian già Lư bị cầm tù. Ta thử nghe Hồ chí Minh, lúc ấy là Nguyễn ái Quốc, nói về già Lư trong Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, với bút hiệu Trần dân Tiên: “Hai người bị bắt làm ông chú ư hơn cả: Một em bé... và một tướng cướp già bị bắt v́ bị bạn tố giác. Người này độ 60 tuổi, ḥa nhă, mưu trí và gan góc, giỏi chữ Trung Quốc, làm được thơ. Y tự cho ḿnh là một anh hùng và cho ông Nguyễn cũng là một anh hùng Già Lư thường tâm sự với Hồ chí Minh: “Tôi là một con sư tử rơi xuống hố...Anh cũng là con rồng mắc cạn...Sư tử một ngày kia sẽ trở về làm chúa sơn lâm, c̣n rồng một ngày kia sẽ bay lên trời và làm chúa tể gió mây...Già Lư làm chúa một dẫy núi. Có gia đ́nh và một đội quân nhỏ, chặn khách qua đường và bắt nộp tiền măi lộ...Lư khá ác với người giàu, nhưng rất tử tế với người nghèo V́ vậy Lư được nhân dân trong vùng vừa yêu vừa sợ”. Đó là chân dung già Lư trong Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, do Hồ chí Minh phác họa. Ông c̣n nói đến già Lư trong cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện: “Anh Lư bị án 7 năm tù (không rơ v́ sao), c̣n 5 tháng nữa th́ hết hạn. Lư được đưa vào làm (khổ sai) ở xưởng may áo của nhà tù. Ở xưởng này có một tên cai người Anh rất hung ác. Lư nói: “Ta quyết giết chết thằng ác ôn này để anh em đỡ khổ với nó”. Một hôm tên cai ấy đang đánh đá túi bụi một người bạn tù th́ Lư cầm một chiếc kéo to thọc nó ḷi ruột. Lư lại bị đưa ra ṭa án và chịu thêm 7 năm tù nữa. Từ đó bọn gác ngục không dám lại gần Lư. C̣n anh em tù đều gọi Lư là anh hùng”.

 

Khi Nguyễn ái Quốc bị bắt giam tại khám lớn Victoria, già Lư đă có án và bị tù ở đó hơn 6 năm, lúc ấy già Lư 60 tuổi nên mới tự xưng là lăo phu, đi lại được phép chống gậy, c̣n họ Nguyễn hồi đó chỉ mới ngoài 40, chưa được tự xưng là lăo phu, đi lại chưa cần chống gậy, chứng cớ là sau khi bị giam lần thứ hai ở Quảng Tây và được tha về “mắt Bác nh́n kém, chân bước không được, Bác quyết tâm tập đi, mỗi ngày 10 bước, dù đau mà phải ḅ, phải lết, cũng phải được 10 bước mới thôi. Cuối cùng Bác chẳng những đi vững mà c̣n trèo được núi” (T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, trang 84). Vào lúc này, họ Nguyễn chưa nói được tiếng Quan Thoại, bởi v́ vẫn theo T. Lan, măi đến lần vào tù thứ hai ông mới bắt đầu học Quan Thoại. Trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, T. Lan viết: “Chỉ một ḿnh Bác bị nhốt ở đó. Lâu lâu mới có một vài sĩ quan Quốc Dân Đảng b́ phạt vào ở đó năm, bảy ngày, Bác lợi dụng những dịp đó đề học tiếng Quan” (Sách đă dẫn, trang 83). Đó là chuyện 10 năm về sau, 10 năm về trước, tức là vào thời gian gặp già Lư, Hồ chưa nói được tiếng Quan, nhưng ông biết chữ Hán, có thể bút đàm được với già Lư, nhờ đó mà hai người có nhiều dịp chuyện văn với nhau, làm thơ chung với nhau v́ già Lư cũng làm được thơ, đúng như Hồ chí Minh kể lại sau này. Cuốn sổ tay màu xanh bạc màu là cuốn sổ tay của hai người dùng chung, trong đó già Lư đă viết nhiều bài thơ kể lại đời sống hào hùng của cụ khi c̣n trẻ hoạt động ở những vùng rừng núi. Già Lư làm chúa một dăy núi (Trần dân Tiên, Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, trang 87). Mỗi lần nói về phong cảnh đồi núi, nơi chứng kiến những năm già Lư c̣n trẻ tâm hồn tăm tối của ông như bừng sáng:

 

ĐI ĐƯỜNG (bài số 27)

Đi đường mới biết đường đi khó,

Ngoài núi cao c̣n núi chập chùng.

Trèo hết non cao lên thấu đỉnh,

Dư đồ muôn dặm bốn bề trông.

 

Trong bài thơ, không khí tự do tràn ngập, già Lư chưa bị bạn tố giác nên vẫn sống ở những vùng núi cao, trèo lên tới đỉnh để thu cảnh đẹp vào tầm mắt. Thật không có ǵ quí bằng tự do. Gán bài thơ này cho Hồ chí Minh, nhóm Viện Văn Học đă không hiểu nổi giá trị của bài thơ, và đă bắt Hồ chí Minh làm một chuyện mà lúc ấy họ Hồ không thề làm được: Tay bị trói giật cánh khuỷu, chân bị xích, có 6 lính gác hung hăng áp giải bắt đi đâu th́ đi đó, làm sao Hồ có thể tự do trèo lên đền tận đỉnh núi và c̣n có đủ th́ giờ để ngắm phong cảnh?

 

Già Lư c̣n say sưa kể lại những lần ông ra đi trong bóng đêm để chặn khách qua đường bắt nộp tiền măi lộ, nhưng thực ra ông chặn khách th́ ít mà hưởng được những cảm giác mạnh th́ nhiều. Thích cuộc đời hào hùng, ghét những cảnh tầm thường giả dối của xă hội, biết bao lần già Lư ra đi từ lúc nửa đêm để hưởng cái thú gió lùa vào mặt.

 

GIẢI ĐI SƠM I (bài số 38)

 

Đêm vốn đêm...Gà gáy tiếng đầu,

Cḥm sao đa nguyệt đến rừng thu.

Khách đi xa giữa đường xa vắng.

Ngẩng mặt, từng cơn lạnh gió lùa...

 

GIAI ĐI SỚM II (bài số 39)

 

Phương đông, màu trắng đă thành hồng.

Bóng tối đêm tàn sớm sạch không.

Hơi ôm bao la trùm vũ trụ,

Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.

 

Một bài thơ như vậy mà người tạ bày đặt cho nó mang một cái tên quái gở là Tảo giải (Giải đi sớm) để bắt độc giả phải hiểu rằng con người ra đi đêm hôm đó là Hồ chí Minh! Sao người ta không nghĩ lại một chút, và đọc kỹ bài thơ hơn, để nhận ra hai chữ chinh nhân và chính đồ: Khách đi xa và đường xa vắng là những chữ nói về một con người tự do. Nếu người đó là tù nhân, v́ lư do ǵ mà lính gác bắt anh ta phải đi ngày đi đêm như thế, nhất là lính gác ở đây là lính Quốc Dân Đảng, “ăn bám” và “lười biếng”? Người ta c̣n gắng sức hiểu rằng “màu trắng đă thành hồng” là báo trước sự thành công của cách mạng, của bộ đội đỏ.v.v... làm như b́nh minh ở chỗ khác th́ phải bắt đầu bằng màu xám vậy! Ấy là chưa nói phó từ tảo của nguyên tác (nghĩa là sớm) đă bị ngang ngược đổi thành động từ tảo có nghĩa là quét. Đặt đầu đề theo ḿnh chứ không theo tác giả, sửa lại chính văn của nguyên tác để tăng cường màu sắc cách mạng cho câu thơ, đó là cách làm việc của Viện Văn Học!

 

Già Lư có nhiều kỷ niệm với vùng đất khô cằn này (bài số 40):

 

Vùng này đất rộng, ruộng khô cằn.

Bởi vậy, nhân dân kiệm lại cần.

Nghe nói xuân này trời đại hạn,

Mười phần thu được vài ba phần.

 

Vùng này là vùng núi, đia bàn hoạt động của già Lư, thế mà Viện Văn Học đă bắt bài thơ phải mang cái tên là Long An Đồng Chính (bài số 40) để bài thơ phù hợp với một địa điểm trong hành tŕnh gán cho Hồ chí Minh (từ Quả Đức không theo đường cũ nữa, mà rẽ xuống phía Nam, đến Long An trên sông Hữu Giang). Nhóm Lê trí Viễn đă sửa lại cách hiểu sai trái này và tuy không thay đổi nhan đề của bài thơ, các nhà biên soạn trong nhóm đă sắp lại vị trí của bài thơ này đúng với mục lục ghi trong nguyên tác. Việc làm nhẹ nhàng này nh́n chung như không có ǵ quyết liệt, nhưng đối với những nhà văn bản học là một hành động sáng suốt, có tính khoa học cao, có tác dụng làm cho các nhà biên soạn đi sau có những căn cứ tốt đề tiến hành nghiên cứu.

 

Tuy nói rằng vùng núi là một vùng đất khô cằn, nhưng già Lư đôi khi cũng cho biết v́ cần và kiệm nên nông dân đă sống nhiều ngày sung sướng:

 

CẢNH ĐỒNG QUÊ (bài số 35)

 

Hồi ta đi đến lúa c̣n xanh.

Vụ gặt mùa này nữa đă thành,

Khắp chốn nhà nông cười hớn hở,

Ruộng đồng bát ngát tiếng ca thanh.

 

Lúa c̣n xanh, tức là lúa mới đâm lá, chưa trổ bông, vào khoảng tháng tám. Đền mùa này, tức là vào mùa gặt tháng mười, tháng mười một, phải là vào một thời gian ít nhất là 3 tháng, thế mà tính ra, Hồ chí Minh bị bắt vào cuối tháng tám, đến Điền Đông sau ngày song thập (10.10), ước vào khoảng trung hay hạ tuần tháng mười, v́ từ Điền Đông đi Long An rồi Đồng Chính c̣n xa, mà tới Đồng Chính mới là ngày 2.11. Vậy từ khi “tác giả” sang Trung Quốc, tới ngày lúa gặt được, mới khoảng một tháng rưỡi, lúa chưa trổ bông và mùa gặt không thể đến mau như thế được. Đây là nhận xét của nhóm Lê trí Viễn trong lới chú bài Dă cảnh (Cảnh đồng quê. bài số 35). Lời chú gắng giải thích sự phù hợp về thời gian của bài thơ đúng với hành tŕnh của Hồ chí Minh, nhưng với điều kiện là phải hiểu nhóm từ ḥa thượng thanh (lúa c̣n xanh) là “lúa đă trổ bông, nhưng hăy c̣n xanh”. Điều kiện này không thể thỏa măn được v́ nó ở ngoài khung cảnh của bài thơ, do đó, ta phải coi lời chú thích của nhóm Lê trí Viễn như là một lời đính chính đối với cách làm việc bê bối của Viện Văn Học. Vả lại nữa, không cần phải giải thích một cách quá tỉ mỉ như nhóm Lê trí Viễn, chỉ cần căn cứ vào lời thơ ta cũng biết được rằng người viết bài thơ này không phải là người bị tù. Câu đầu “Hồi ta đi đền lúa c̣n xanh”, cách nói kênh kiệu, cứ cho là của một anh tù nào đó đi, câu 2: “Vụ gặt mùa này nửa đă thành”, anh đến rồi anh đi, anh đi rồi anh trở lại, hai thời gian khác nhau nhưng liên hệ chỉ tới một người, như vậy hành động của anh quá tự do, anh đâu có phải là người bị cầm tù? Anh phải là một người trong vùng mới sung sướng cái sung sướng của nông dân, mới nghe được tiếng ḥ của họ lan xa trên đồng ruộng. Gán cho Hồ chí Minh là tác giả của bài thơ này là một hành động thiếu suy nghĩ!

 

Già Lư c̣n giới thiệu cho ông Nguyễn đi vào đời sống thân mật của địa phương. Đây là một hàng cháo bên đường, một “tửu lâu” của những người thích nhậu:

 

HÀNG CHÁO (bài số 36).

 

Mép lộ, dưới lùm cây bóng mát,

Lều tranh một túp, ấy “nhà hàng”

Thực đơn: cháo nguội, muối ăn trắng,

Năng đến ngơi đây, khách quá giang.

 

Tác giả trịnh trọng gọi hàng cháo là nhà hàng (nguyên tác: Tửu lâu v́ tuy chỉ là một hàng cháo nhỏ bên đường, nhưng v́ tác giả là khách quen, lại đến đấy không phải là để ăn cháo, mà là để uống rượu (trong bài số 20, già Lư cho biết ông nghiện rượu), nên ông vui ḷng gọi tâng bốc là tửu lâu, là quán rượu (mà tôi dịch là nhà hàng theo ngôn ngữ miền Nam). Nhóm Lê trí Viễn đă hiểu bài thơ theo ư hướng này, cho nên khi chú thích chữ tạm trong câu 4, các nhà biên soạn đă viết: “Tạm: một lúc, chốc lát, chỉ cái thời gian ngắn mà khách vào hàng nghỉ ăn cháo. Từ tạm đây không phải là tạm bợ, hẵng tạm, như ăn tạm bát cháo cho đỡ đói. Nếu giải nghĩa như thế, sẽ làm giảm cái giá trị “tửu lâu” và “thực phả” (thực đơn) ở trên. Tinh thần chỗ này là: Hàng cháo mang danh là quán rượu và có thực đơn đàng hoàng nên lâu nay được khách hàng mến, thường vào nghỉ ăn trong chốc lát, dù chỉ có bát cháo và đĩa muối cũng cảm thấy ngon lành và no nê. Như thế mới thật hài hước”. Viết thêm hai chữ hài hước, nhóm Lê trí Viễn muốn lách theo cách giải thích của Viện Văn Học, mục đích làm giảm bớt sự kịch liệt mà nhóm vừa biểu lộ trong thái độ phê b́nh quan điềm của Viện này. Nhưng thông báo của nhóm đă được truyền đạt: Tác giả bài thơ vẫn thường đến quán nhậu, vậy không thể là Hồ chí Minh, người tù chỉ được đi qua nhà hàng này một lần (khi bọn lính “bê tha” của Quốc Dân Đảng vào đây nghỉ chân), làm sao biết được là khách quá giang vẫn thường vào đây?

 

Già Lư đă được ông Nguyễn (tức Hồ chí Minh sau này) khen là “rất tử tế với người nghèo”. Ta vừa có dịp nhận xét ḷng tử tế của ông đối với một hàng cháo nhỏ bên đường, với bác phu lục lộ vất vả ngày đêm (bài 78).

 

PHU LỤC LỘ

 

Dăi gió dầm mưa chẳng lúc ngơi,

Đắp đường, phu tận tụy không rời.

Ngựa xe kéo đến người đi đó.

Cảm tạ công anh có mấy người

 

Đọc câu thơ cuối cùng này, ta đồng ư với họ Nguyễn khi ông ca tụng ḷng nghĩa hiệp của già Lư: “Lư khá ác với người giàu, nhưng rất tử tế với người nghèo”. Cùng một ḷng tử tế ấy, ḷng nhân ái mênh mông ấy, cụ khen ngợi công lao của chú gà (bài số 56):

 

NGHE GÀ GÁY

 

Mi là một chú gà b́nh thường,

Báo sáng, ban mai gáy rộn ràng.

Một tiếng gáy, toàn dân tỉnh mộng,

Công lao mi đó, phải đâu xoàng?

 

Ngay cả cột cây số vô tri cũng được ḷng nhân ái bao la của già Lư làm cho linh hoạt, cụ nói với cột cây số như nói với người (bài số 80):

 

CỘT CÂY SỐ

 

Chẳng cao cũng chẳng xa,

Không đế cũng không vương,

Nho nhỏ một phiến đá,

Trơ trọi đứng bên đường.

Người nhờ anh chỉ lối

Không lạc hướng lạc phương.

Anh giúp cho người thấy

Đường ngắn lại dặm trường.

Công anh đâu có nhỏ

Ai ai cũng nhớ thương.

 

Khi nói về t́nh thương của Hồ chí Minh trong Ngục Trung Nhật Kư, Hoài Thanh viết: “Ai đau khổ là Bác thương. Đói, rét: Thương. Buồn, nhớ: Thương”. Hoài Thanh nói rất đúng, nhưng chẳng nhẽ một nhà phê b́nh tiếng tăm như Hoài Thanh lại không thấy rằng, ngoài những t́nh thương chung chung kia, tác giả Ngục Trung Nhật Kư c̣n để cho ḷng thương của ḿnh lan rộng đến cả loài vật đến cả những vật vô tri vô giác nữa, như vậy, t́nh thương ấy có tính giai cấp nữa không, có tập trung vào những người cùng có một địa vị giống như của tác giả trong hệ thống sản xuất không? Nhất định là không, và quan niệm siêu giai cấp này không thể là của Hồ chí Minh, mà là của già Lư. Chính già Lư đă khẳng định quan niệm siêu giai cấp của ḿnh trong bài số 91:

 

NỬA ĐÊM (Dạ bán)

 

Ngủ th́ ai cũng thuần lương lắm.

Tỉnh dậy th́ phân dữ với lành.

Lành dữ vốn là không định trước,

Phần nhiều do giáo dục mà thành.

 

Đọc bài thơ này, Hoàng trung Thông viết: “Đừng tưởng ḷng thương yêu của Bác ở đây là siêu giai cấp”. Rồi ông bênh vực quan điểm giai cấp của Hồ: “Thử hỏi có ai như Bác trong thơ đă thể hiện một ḷng thương yêu giai cấp sâu sắc đến như thế. Đó là ḷng thương yêu cách mạng cao cả nhất, v́ thương yêu không phải để mà thương yêu, mà chính là để hành động, để phá tan nỗi bất b́nh, phá tan xă hội cũ, xây dựng một xă hội mới công bằng hơn, tốt đẹp hơn, một xă hội mà chúng ta đang ra sức xây dựng ngày nay”. Hoàng trung Thông đă phát biểu một ư kiến rất sâu sắc về t́nh thương cách mạng: “đó là ḷng thương yêu cách mạng cao cả nhất, v́ thương yêu không phải đề mà thương yêu”. Như vậy, t́nh thương yêu cách mạng tự nó không có đối tượng hay sao? Nếu người ta không thương yêu theo cùng đích của ḷng thương th́ làm sao đi đến hành động thương yêu? Vấn đề do Hoàng trung Thông đưa ra phát xuất từ một quan điểm thực dụng thô sơ mà thế giới ngày nay đă bác bỏ. Lời bênh vực của ông nhằm cứu văn quan niệm siêu giai cấp của tác giả Ngục Trung Nhật Kư không thể chấp nhận được, đó chỉ là những lời bênh vực gượng gạo mà nếu biết rằng bài thơ đó không phải là của Hồ chí Minh th́ chắc chắn họ Hoàng sẽ chỗi bỏ tức khắc.

 

Chẳng những tư tưởng của già Lư có tính siêu giai cấp, nó c̣n mang tính duy tâm luận rất đậm đà. Ngay trong bài số 1, đề là Ngục Trung Nhật Kư, cụ đă tỏ ra duy tâm triệt để:

 

Thân thể ở trong lao,

inh thần ở ngoài lao.

Muốn nên sự nghiệp lớn,

Tinh thần càng phải cao.

 

Trong bài thơ này, từ tinh thần được dùng hai lần, mỗi lần có ư nghĩa khác nhau. Trong câu 2: “Tinh thần ở ngoài lao” phải được hiểu theo cách giải thích của Đặng thai Mai là: “một thực thể siêu h́nh, có khả năng làm chủ thế giới vật chất. Vật chất là tạm bợ, và nhất thời, là có hạn trong không gian, trong thời gian, vật chất sẽ hủy hoại tiêu tan. C̣n tinh thần, tinh thần là cao cả, thiêng liêng có sức vạn năng và không bao giờ chết. Đó là quan điểm của các nhà thơ, nhà văn yêu nước đă nhen nhóm lên phong trào chống Pháp sôi nổi...dưới sự lănh đạo của Hội Duy Tân và Hội Việt Nam Quang Phục...Về sau, khái niệm vật chất được gắn vào đời sống xa hoa ăn ngon mặc tốt, cửa rộng nhà cao. Về tinh thần lại chỉ là đạo đức thông thường của Đạo Khổng. Các nhà cầm bút chỉ mơ tưởng tới cái xă hội hoàng kim không hề có...Th́ cũng là một ảo tưởng tày đ́nh thôi?...Qua tập Ngục Trung Nhật Kư, chúng ta thấy rằng: Tinh thần không hề có ư nghĩa siêu h́nh, tinh thần không tách rời ra ngoài thể phách con người...”

 

V́ lư do viết và lách, nhà văn Đặng thai Mai tỏ ra khó hiểu và có vẻ như mâu thuẫn trong lư luận của ông, thực ra, ông chỉ viết (tức là chỉ nói thực) khi ông luận về tinh thần như là thái độ, ư nghĩ định hướng cho hoạt động, quyết định hành động của con người, tức là ông chỉ căn cứ vào từ tinh thần theo nghĩa thứ hai trong bài thơ, câu 4: Tinh thần càng phải cao. Từ tinh thần này chỉ biểu diễn một thái độ, một ư nghĩ như trong bài Tự miễn (số 34): Tai ương cứ bắt ta ra luyện, Càng khiến tinh thần lại khẩn tương, hoặc trong bài Tứ cá nguyệt liễu (số 93): Vật chất tuy đau khổ, Không dao động tinh thần. Nhà văn họ Đặng đă khôn khéo chỉ rơ từ “tinh thần ở ngoài lao” hiển nhiên có nghĩa là một thực thể siêu h́nh, có khả năng làm chủ thế giới vật chất, từ tinh thần này chỉ có mặt trong bài số 1 là bài được viết vào Ngục Trung Nhật Kư như là một bài tựa riêng rẽ chứ chưa nhất định đă là của tác giả, và do đó đă bị Đặng thai Mai gạt ra ngoài v́ từ tinh thần ấy chứa đựng một nội dung triệt để duy tâm. Nếu gán bài thơ này cho Hồ chí Minh tức là đă hoàn toàn đi ngược lại triết học Mác-xít Lê-nin-nít mà Hồ đă có công truyền bá ở Việt Nam. Sau khi phân biệt tinh thần là một thực thể siêu h́nh, phi vật chất, bất tử, có thể tự tách ra ngoài thân thể (câu 2) và tinh thần là một thái độ, một ư nghĩ định hướng cho hành động (câu 4), Đặng thai Mai đă mặc nhiên phủ nhận Hồ chí Minh, nhà vô thần duy vật, như là tác giả của bài thơ nặng mùi duy tâm trên mà tôi cho là của già Lư.

 

Già Lư c̣n duy tâm hơn nữa trong ba bài thơ số 9, 34 và 113.

 

BUỔI SỚM II

Sớm dậy, mọi người tranh bắt rận.

Tám giờ, kẻng đánh báo cơm mai.

Khuyên anh cứ chén cho no đă.

Khổ hết vui về, ắt chẳng sai.

 

TỰ KHUYÊN M̀NH CỐ GẮNG

 

Không cảnh đông hàn, sắc vơ vàng

Sẽ không xuân ấm vẻ huy hoàng.

Tai ương cứ bắt ta ra luyện,

Càng khiến tinh thần lại khẩn trương.

 

TRỜI QUANG MÂY TẠNH

 

Sự vật tuần hoàn nguyên đă định

Mưa tan, nắng hửng, tất nhiên thôi.

Một giây, vũ trụ thay màn ướt

Muôn dặm, sơn hà trải gấm phơi.

Nắng ấm, hoa tươi, luồng gió thoảng.

Cây cao. cành mượt, tiếng chim rơi.

Người theo vạn vật càng sôi nổi,

Hết khổ là vui, vốn lẽ trời.

 

Tính duy tâm luận của mấy bài thơ này là hiển nhiên, v́ thuyết tuần hoàn luận thoát thai từ Nho Học, Đạo Học và Phật Học, giải thích số mệnh con người là do trời định sẵn, con người không cưỡng lại được, chỉ ngồi chờ định mệnh an bài. Thuyết tuần hoàn luận trái ngược hẳn với chủ nghĩa xă hội, do đó bị các nhà duy vật Mác-xít kết án. Thuyết tuần hoàn cũng không có liên quan đến chủ nghĩa lạc quan cách mạng, bởi v́ thuyết trên tạo ra những con người tiêu cực, tin tưởng vào các lực lượng thần bí bao nhiêu th́ thuyết dưới tạo ra những con người tích cực, tin tưởng vào các lực lượng khoa học bấy nhiêu. Cũng v́ hiểu như thể mà các nhà biên soạn của Viện Văn Học đă phải dịch chữ tuần hoàn trong bài 113 là xoay vần. Và dịch chữ lư tự nhiên là vốn lẽ đời trong khi nhóm từ lư tự nhiên phải dịch là vốn lẽ trời mới đúng ư tác giả. Phải xoay sở câu thơ cho đúng tư tưởng của “nhà chiến sĩ cộng sản vĩ đại” nên các dịch giả đă phải muối mặt buôn văn bán chữ. 

 

 

Nguồn: http://giaocam.saigonline.com - (bài viết dạng pdf)


Đọc thêm:

 

Phương Nam (Đỗ Nam Hải), Một vài suy nghĩ sau khi đọc lại tập thơ NHẬT KƯ TRONG TÙ, 2008.

Đỗ Thông Minh, Tác giả Ngục Trung Nhật Kư là ai? 2008.

Phan Thanh Tâm, Hai Tập Thơ Tù: Nguyễn Chí Thiện & Hồ Chí Minh 2008.

Tâm Việt, Ngục Trung Nhật Kư của Hồ Chí Minh? 2007.


* Các câu “ăn cắp” nổi tiếng của Hồ Chí Minh, xoathantuong tổng hợp

 

www.geocities.ws/xoathantuong
 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính