NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MỘT ĐƠN VỊ CÔNG BINH

 

Lăo Ngoan Đồng

 

 


Thành Ông Năm, nơi đồn trú của 2 đơn vị Công Binh: Liên Đoàn 30 Công Binh Chiến Đấu (CBCĐ) và Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo (CBKT), là vị trí yết hầu, pḥng tuyến của Thủ Đô Sài G̣n từ hướng Củ Chi, cách quận lỵ Hốc Môn gần 2 cây số. Trong doanh trại của LĐ 5 CBKT gồm 5 tiểu đoàn, 1 đại đội Xe Trút (dump trucks) và 1 đại đội công sự nặng (heavy equipments).


Tôi là sĩ quan trực của tiểu đoàn 51 Công Binh Kiến Tạo trong đêm thứ hai ngày 28 tháng 4 năm 1975. Vào khoảng 22 giờ, nh́n về phía Củ Chi thấy ánh sáng của lửa cháy cao ngất trời, nghe âm thanh từ xa vọng lại của tiếng đạn đại bác nổ dồn, tôi đoán là Củ Chi, nơi Sư Đoàn 25 bộ binh trấn nhiệm, đang bi Việt cộng pháo kích hay tấn công gây nên những đám cháy đó. Mở máy vô tuyến PRC 25, liên lạc trên tần số hành quân với Chi Khu Hốc Môn, nghe nhiều báo cáo của các đồn Nghĩa Quân chung quanh quận lỵ, đang bị Việt cộng tấn công. Tôi gọi điện thoại cho Tiểu Đoàn Trưởng để báo cáo, th́ được Ban Truyền Tin cho biết là Tiểu Đoàn Trưởng, và cả Tiểu đoàn Phó không có trong doanh trại, nên tôi quyết định ra lệnh báo động cho tất cả anh em quân nhân c̣n hiện diện trong đơn vị (khoảng 30 quân nhân), ra tăng cường các vọng gác quanh bờ thành pḥng thủ và cổng chánh (hướng ra quốc lộ Sài G̣n Củ Chi), phải ẩn nấp trong các giao thông hào hoặc hố cá nhân, để tránh bị pháo kích và ở vị thế sẵn sàng khi bị Việt cộng tấn công.


Quả nhiên như dự đoán, vào khoảng 23 giờ 30 th́ đạn pháo kích của Việt cộng bắt đầu rớt xuống doanh trại của Liên Đoàn 5 CBKT, khoảng 10 phút đầu tiên, có chừng 100 quả đạn đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly rớt xuống hàng loạt (pháo bầy) vào doanh trại, sau đó th́ Việt cộng pháo kích từng 2 viên đạn 130 ly, cách khoảng chừng 10 giây đến 20 giây. Cùng thời gian nầy, tôi cũng nghe tiếng đạn pháo kích rớt vào doanh trại của Liên Đoàn 30 CBCĐ kế cạnh, chỉ cách doanh trại của tôi bằng một con đường nhỏ. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 29 th́ ngưng pháo kích, rồi có tiếng xích của thiết giáp, và hằng loạt tiếng nổ của súng không giật (SKZ) 75 ly hoặc 105 ly trong doanh trại của Liên Đoàn 30 CBCĐ. Tôi không c̣n để ư đến đơn vị bạn nữa v́ đơn vị tôi cũng đang trong t́nh trạng nguy hiểm. Tôi bảo anh Thượng Sĩ Thường Vụ cố gắng vào kho đạn lấy súng M72 chống tăng ra phân phát cho các vọng gác. Độ 20 phút sau th́ anh ta cho tôi biết là chúng tôi chỉ có 4 súng M72 của Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ thôi, và đă phân phối cho tuyến pḥng thủ mặt ngoài đường. Tôi thầm nghĩ, với 4 súng M72 được xử dụng bởi những quân nhân chưa được huấn luyện kỹ lưỡng, trong đơn vị yểm trợ kỹ thuật của chúng tôi, th́ hiệu quả sẽ như thế nào? Tuy nhiên có c̣n hơn không.


Đến khoảng 5 giờ 30 sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, không c̣n nghe tiếng đạn pháo kích nữa. Ra khỏi hầm chỉ huy, tôi thấy kho của ban quân xa trúng đạn pháo kích đang bốc cháy. Hệ thống liên lạc nội bộ bằng điện thoại đă bị cắt đứt. Sợ bị cháy lan qua kho vũ khí đạn dược gần đó, tôi bảo anh Thượng sĩ thường vụ thay tôi chỉ huy anh em, và không được nổ súng nếu không bị tấn công, riêng tôi và anh tài xế của tôi lên xe tưới nước, chạy sang lầu chứa nước (water tower) trong khu vực của Tiểu Đoàn 53 CBKT (nằm chung doanh trại) cách xa chừng 200 thước, để lấy nước chữa cháy, nhân tiện xem t́nh h́nh của anh tôi, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 53 CBKT, anh tôi cho biết, quân số c̣n lại vào khoảng 1 trung đội (trên dưới 30 người), và sĩ quan th́ chỉ có anh và tôi, 2 người thôi trong toàn thể Liên Đoàn 5 CBKT. Tất cả những người khác, kể cả đại tá Liên Đoàn Trưởng, đă dùng xe ủi đất (buldozer) ủi bờ thành phía sau doanh trại, thoát ra ngoài rồi. Biết thế, ḷng tôi chán nản lắm, hy vọng thượng cấp hướng dẫn đơn vị trong lúc nguy nàn nầy đă thành ảo vọng. V́ thế, tôi tự nhủ rằng dù không thể kháng địch, nhưng phải cố gắng làm thế nào tránh bị địch tàn sát. Trở lại đơn vị, sau khi dập tắt lửa, tôi cho tất cả quân nhân lănh 3 ngày lương khô (gồm gạo xấy và thịt hộp) và chờ đợi trong vị thế tác chiến. Tôi không có đủ th́ giờ và nhân lực để đi ṿng quanh doanh trại, xem xét coi có ai thuộc các tiểu đoàn khác bị thương hoặc tử thương v́ pháo kích không?


Nh́n sang doanh trại của Liên Đoàn 30 CBCĐ, thấy đài quan sát trung ương đă bị cháy và sập xuống, không có hoạt động ǵ, chỉ thấy có 4 tên Việt cộng đội nón tai bèo đứng gác, vậy là LĐ 30 đă bị VC tràn ngập rồi. Ḷng tôi rất lo lắng, không biết chừng nào chúng nó sẽ tấn công ḿnh đây? Thôi th́ áp dụng chiến thuật “địch bất động ta bất động” là tốt nhất. T́nh trạng bất động nầy kéo dài đến khoảng 14 giờ th́ bỗng nhiên có một người đàn bà từ trại gia binh bên ngoài cổng trại xin được vào trại, tôi cho gọi chị vào, chị là vợ của một quân nhân trong đơn vị của tôi, chị nói rằng mấy ổng (chỉ Việt cộng) đang chiếm giữ khu gia binh và Liên Đoàn 30 CBCĐ, bảo tôi vào nói với các anh là mấy ổng sẽ không tấn công, nếu các anh ra khỏi trại và đi về nhà, họ sẽ không làm khó dễ ǵ, xong rồi chị ấy trở về nhà.


Tấn thối lưỡng nan, quyết định thế nào đây? Nh́n lại các quân nhân dưới quyền, đa số có gia đ́nh ngoài trại gia binh, họ đang lo lắng cho vợ con họ đang bị Việt cộng bắt làm con tin. Nếu chống cự, th́ với quân số khoảng hơn 2 tiểu đội, không thể kiểm soát hết toàn thể một doanh trại quá rộng (chừng 10 mẫu đất), với hỏa lực yếu thế hơn chúng, chắc chắn sẽ bị tàn sát, hơn nữa chúng cũng sẽ tàn sát các gia đ́nh binh sĩ bên ngoài. Cuối cùng tôi đành phải quyết định rời bỏ doanh trại, một quyết định hết sức đau đớn cho một cấp chỉ huy. Tập hợp tất cả anh em lại, tôi phân tích rơ t́nh h́nh và thực trang, và nói quyết định “tan hàng” cho mọi người hiểu. Câu nói cuối cùng cuả tôi với mọi người là; “ chúng ta tạm thời tan hàng, vũ khí cất vào kho và khóa lại, thay quần áo dân sự, ai về nhà nấy, tránh đi ra bằng cổng chánh, bờ thành phía sau đă được ủi xuống, có thể dùng ngă đó mà ra khỏi trai. Xin tạm biệt các anh, nếu c̣n sống, chúng ta sẽ gập lại nhau”. Tôi bắt tay từng người mà ḷng đau nhói, nước mắt chảy dài hai bên má.


Sau khi tất cả anh em chuẩn bị cho chuyến ra đi không biết ngày trở lại xong xuôi, chúng tôi đi về phía bờ thành phía sau doanh trại. Nh́n anh em đă thoát ra khỏi doanh trại, lúc ấy vào khoảng 16 giờ 30, tôi quay trở lại, đi về hướng TĐ 53 CBKT, nơi anh tôi đang chờ. Gặp nhau, tôi hỏi ư kiến của anh như thế nào về hai chúng tôi. Anh tôi trả lời là phải t́m đường về nhà chúng tôi ở Hàng Xanh Gia Định, rồi mới tính tới được. Tôi đồng ư và đề nghị là nếu không thể về nhà được th́ chúng tôi sẽ t́m đường về Vùng IV, v́ ở đó là vùng đồng lúa śnh lầy, xe tăng của Việt công khó có thể di chuyển, và có 2 con sông Tiền và Hậu Giang cản trở nên chắc là Vùng IV vẫn c̣n an toàn. Sau khi anh tôi ra lịnh cho các anh em c̣n lại của Tiểu Đoàn 53 CBKT tan hàng để ai về nhà nấy, hai anh em tôi thay thường phục, lấy theo mỗi đứa 2 ngày lương khô, và theo lối ngă bờ thành phía sau doanh trại thoát ra ngoài ruộng, đi về hướng chợ Hốc Môn, lúc đó là 17 giờ 05. Nh́n lại doanh trại, nơi mà tôi đă phục vụ đơn vị vỏn vẹn chỉ hơn 6 tháng, sau khi thuyên chuyển từ công trường làm cầu và đường xa lộ Sóc Trăng-Cà Mau, của Tiểu Đoàn 71 CBKT thuộc Vùng IV vào tháng 10 năm 1974, tuy ngắn ngủi nhưng đây là nơi mà tôi có một ấn tượng thật xót-xa: một quân nhân bị bắt buộc phải “giă từ vũ khí”, phải rời bỏ đơn vị ḿnh không có giấy phép, như một kẻ đào ngũ.


Sau khi di chuyển trong chợ Hốc Môn để ra xa lộ Sài G̣n – Củ Chi th́ gặp được hai vị Đại Tá Liên Đoàn Trưởng 30 CBCĐ và Liên Đoàn Trưởng LĐ5 CBKT, chúng tôi mời họ nhập bọn v́ nghĩ đến t́nh nghĩa Huynh Đệ Chi Binh, nhưng trong ḷng tôi có sự khinh bỉ, những cấp chỉ huy bất xứng. Gần đến xa lộ, lại gặp thêm một Trung Úy thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, đă chạy thoát được khỏi Củ Chi từ đêm qua. Nhóm chúng tôi 5 người băng qua xa lộ nh́n ngược về hướng Ngă Ba Hồng Châu, thấy có xác của 2 thiết giáp T54 của Việt cộng, nằm chông chênh nghiêng ngửa, tôi đoán là bị đạn M72 của các quân nhân thuộc LĐ 30 CBCĐ bắn cháy. Chúng tôi len lỏi vào xóm nhà bên kia bờ xa lộ đi dài xuống Xă Bùi Môn. Trên xa lộ rất đông người đủ mọi lứa tuổi, và rất nhiều loại xe chở đầy người chạy giặc, di chuyển từ Củ Chi về hướng Sài G̣n. Đến xă Bùi Môn th́ đoàn người di tản dồn đống lại v́ có người cho biết, phía trước, ở khoảng Ngă Tư Xa Lộ Đại Hàn vẫn c̣n đang đánh nhau giữa Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù và Việt cộng. Lúc đó là khoảng 18 giờ 40 ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Biết rằng không thể đi xa hơn, tôi hỏi các vị kia có ai quen biết người nào ở khu nầy th́ đến đó tạm trú, v́ không thể ở ngoài đường quá lộ liễu. Đại tá Liên Đoàn Trưởng LĐ30CBCĐ nói ông có biết một Thượng sĩ quản gia của Chuẩn Tướng Lân, cựu Cục Trưởng Cục Công Binh, ở khu nầy, ông ta có thể cho chúng tôi tạm trú. Chúng tôi đến nhà ông Thượng sĩ kia, cách xa đường lộ khoảng chừng 400 thước, thấy không có người, cửa cái đă khóa bên ngoài, nhưng cửa sổ th́ không có khóa. Tôi trèo cửa sổ vào nhà, ngó quanh quất không có ai, tôi mở cửa sau, kêu gọi mọi người vào. Lúc bấy giờ trời đă nhá nhem tối, nhưng không dám mở đèn, sợ rằng bọn Việt cộng đang ruồng trong xóm sẽ t́m đến, chúng tôi th́ thào bàn bạc và quyết định trú ngụ qua đêm ở đây. Cả ngày không ăn uống ǵ, đă quá đói và khát, tôi lấy lương khô ra phân phát cho mọi người, ăn trong im lặng.


Đến khoảng 20 giờ, tôi và anh Trung Úy Sư Đoàn 25 BB ra ngoài hàng ba để nghe ngóng động tĩnh. Ngoài xa lộ có tiếng xích của thiết giáp Việt cộng di chuyển từ phía Hóc Môn về hướng Sài G̣n, thỉnh thoảng nghe tiếng loa của VC kêu gọi “nguỵ quân, ngụy quyền” ra đầu thú. Ngoài tiếng xe thiết giáp, c̣n có những tiếng xe khác, tôi đoán là xe vận tải của VC, đang chuyển quân và trọng pháo, v́ tôi nghe có tiếng nổ về hướng Tân Sơn Nhất, tiếng trọng pháo nghe phát xuất rất gần, có lẽ từ phía trường huấn luyện tài xế của Trường Quân Vận. T́nh trạng như vậy kéo dài suốt đêm. Tất cả 5 người chúng tôi không chợp mắt được v́ lo sợ VC sẽ t́m được chúng tôi, và chắc là ai cũng lo lắng cho gia đ́nh, không biết có sống sót được không với đạn pháo kích của Việt cộng vào Sài G̣n.

Thế rồi trời cũng sáng dần lên, măi đến khoảng gần 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, mới nghe có tiếng xe gắn máy và các loại xe dân sự khác chạy ngoài đường, và có tiếng người miền Nam nói vang trong xóm, chúng tôi mới dám ra ngoài, nhắm hướng nhà thờ Bùi Môn cách chúng tôi khoảng chừng non một cây số về hướng xa lộ Đại Hàn. Mày ṃ, ḍ dẫm băng đường ruộng chừng 30 phút rồi cũng đến được nhà thờ. Nơi đây có một vị Linh Mục, có lẽ biết chúng tôi là quân nhân, đă vội vă mời chúng tôi vào pḥng riêng của ông và nói: “Các anh hăy tạm ở đây, chờ thuận tiện rồi mới đi, Việt cộng c̣n đang đánh nhau với quân ḿnh ở xa lộ Đại Hàn”. Nói xong, ông gọi một người trong nhà thờ đi ra ngoài xem t́nh h́nh như thế nào, rồi trở về cho ông biết. Vị Linh Mục nầy, tôi không nhớ tên, đă đối xử với chúng tôi như người trong thân quyến, pha cà phê mời chúng tôi uống, và mở radio đài phát thanh Sài g̣n để theo dơi tin tức. Trong khi chờ đợi, tôi suy nghĩ là nếu không về nhà được, th́ đường tốt nhất để về vùng IV là dùng đường ruộng, men theo xa lộ Đại Hàn đi về Phú Lâm và sẽ đi theo quốc lộ 4 xuống Bến Lức, Long An, qua Mỹ Tho rồi đi thẳng về Vĩnh Long, Cần Thơ. Lương tháng 4 mới lănh hôm thứ sáu tuần trước c̣n nguyên, chưa kịp xài, có thể mua thức ăn dọc đường. C̣n đang miên man suy nghĩ, th́ nghe xướng ngôn viên đài phát thanh lưu ư: sau đây là lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh. Chúng tôi lắng nghe, th́ hỡi ôi, ông ta ra lệnh đầu hàng Việt cộng. Chúng tôi nh́n nhau mà mắt ai cũng đầy lệ. Thế là chúng ta đă mất nước rồi, mà mất nước là mất tất cả. Thảm thương thay cho Miền Nam Việt Nam!
Chúng tôi nói với nhau là “hồn ai nấy giữ”, mỗi người mạnh ai nấy đi đến nơi nào tùy ư, và chúc may mắn cho nhau. Sau khi ngỏ lời tạ ơn vị Linh Mục, chúng tôi thất thểu bước chân ra khỏi nhà thờ Bùi Môn, lúc đó là 10 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Anh tôi và tôi, mỗi người một túi xách tay đi ra đường lộ, lúc đó rất đông người và xe cộ, cùng hướng về phía Sài G̣n.


Ra đến ngả tư Trung Chánh, nửa muốn đi về phía Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung về nhà qua ngă G̣ Vấp, nhưng nghĩ lại, đi tiếp về ngă tư Bảy Hiền vẫn hơn v́ có nhiều người chạy nạn, lẫn lộn trong đám đông sẽ tránh được sự chú ư Việt cộng. Hai anh em nhắm hướng xa lộ Đại Hàn mà đi bên lề trái đường, v́ phía bên kia, ở dưới ruộng khô, có hai xe thiết giáp T54 và 2 khẩu đại bác 130 ly cùng các xạ thủ Việt công đang nh́n các bộ hành trên đường, và trên lề đường là một đội quân Việt cộng đội nón tai bèo, mang dép râu, mặt c̣n rất trẻ chưa tới 20 tuổi, đang ngơ ngác nh́n quanh, đi hàng một cũng nhắm về hướng Sài G̣n. Đi đến ngang Trường Quân Vận và Trung Tâm 3 Tuyển mộ nhập ngũ, thấy như có một đội quân chừng 1 đại đội, xếp hàng 4 ngay ngắn trên lề đường, đầy đủ giày trận, nón sắt, túi đeo lưng, áo trận, nhưng không có người. Tôi đoán rằng đây là quân trang của anh em tân binh hoặc khoá sinh Quân vận, đă tan hàng trong vị thế hết sức trang trọng và kỷ luật cao, dù rằng các anh chỉ là binh sĩ. Mắt tôi cay xé, muốn bật khóc v́ nghĩ đến thân phận của kẻ bị ép buộc phải bại trận.


Đến ngă tư Đại Hàn, trời đang mưa lâm râm, nh́n về phía trái bên kia đường là doanh trại của Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, thấy không có bóng người, chỉ có 2 cái xác của Việt cộng, chân mang dép râu, nằm vắt thây trên rào kẽm gai, và phía bên phải là một xác xe thiết giáp T54 của Việt cộng vẫn c̣n đang nghi ngút cháy, trên mặt đường th́ có vài xác chết Việt cộng c̣n nằm đó, máu đă chảy lan ra mặt đường, ḥa tan với nước mưa dính vào đôi chân mang dép Nhựt Bổn của tôi, tự nhiên thấy một cảm giác hết sức tội nghiệp cho những người đă chết đó, v́ họ không biết đă chết cho ai? Chết v́ cái ǵ?

 

Đến ngang trại Hoàng Hoa Thám của Nhảy Dù, thấy tầng 2 của mặt tiền doanh trại bị sụp xuống, và trước mặt, phía bên kia đường cũng có xác của 2 xe thiết giáp T54 bị đứt xích và vẫn c̣n cháy cùng với vài tên VC chết cháy nám đen.

 


Đến Ngă Tư Bảy hiền, khoảng 16 giờ, định về nhà qua ngă Chi lăng về Bà Chiểu, bỗng thấy hướng Bộ Tổng Tham Mưu, một chiếc trực thăng vừa cất cánh bay lên th́ bị một hỏa tiển bắn trúng, bốc cháy và rớt xuống khoảng sân golf phía sau Bộ TTM, lúc đó có 2 xa thiết giáp T54 chạy từ Lăng Cha Cả, hướng về ngă tư Bảy Hiền, chúng tôi vội băng qua đường đi vào ngơ hẻm xuyên qua xóm nhà bên kia đường ngang mặt Bộ TTM, định đi đến đường Vơ di Nguy Phú Nhuận. Đi trong ngỏ hẻm được chừng 300 thước th́ thấy 4 quân nhân thuộc binh chủng nhảy dù, vừa di chuyển ra, vừa bắn ngược lại với bọn Việt cộng đang đuổi theo các anh ấy, và nghe tiếng gọi “ngụy quân hăy buông súng đầu hàng”. Nghe thấy vậy, tôi mới biết là vẫn c̣n người đang chiến đấu dù đă có lệnh đầu hàng. Anh em tôi thối ngược lại ngă tư Bảy Hiền, rẽ vào đường Lê Văn Duyệt để đi. Lộ tŕnh chúng tôi là Lê Văn Duyệt, Trần Quốc Toản, Hiền Vương, Đinh tiên Hoàng, Phan Thanh Giản, qua cầu xa lộ đi về Hàng Xanh. Trên đoạn đường nầy, chúng tôi gặp rất nhiều xe chở bọn “cách mạng 30” với cờ của “mặt trận giải phóng”. chúng dùng súng AK và M16 bắn tứ tung lên trời, giống như bọn thổ phỉ vừa chiếm được làng, bắn súng thị oai vậy. Và chúng c̣n phá cửa kho Quân Tiếp Vụ, để cướp hàng hóa trong kho như lũ quỷ đói.


Về đến đầu đường hẻm dẫn vô nhà, lúc đó vào khoảng 19 giờ ngày 30 tháng 4, chúng tôi thấy ba má, chị em, vợ con tôi đang đứng trông ngóng chúng tôi, v́ đă mất liên lạc 3 ngày rồi, họ không biết chúng tôi c̣n sống hay đă chết, v́ Việt cộng tấn công quá khốc liệt mấy ngày qua. Gặp lại nhau, không c̣n nỗi vui nào hơn, cả nhà ôm nhau mà khóc. Về đến nhà, tôi mới biết là c̣n một đứa em, hiện đang phục vụ tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Vĩnh B́nh (Trà Vinh) chưa về nhà được. Chúng tôi định chờ cho thằng em nầy về nhà rồi sẽ trốn về quê, v́ ở đây, hàng xóm đều biết 4 anh em tôi đều là quân nhân.


Vào ngày 6 tháng 5 năm 1975, em tôi đă từ Trà vinh về đến, và có một người bà con ở dưới quê chở trái cây bằng ghe, đem bán ở chợ Cầu Ông Lănh, c̣n kẹt lại Sài G̣n đến thăm chúng tôi, do vậy Ba tôi nhờ ông ấy chở đại gia đ́nh chúng tôi về quê bằng đường sông. Chúng tôi về đến quê nhà vào ngày 12 tháng 5 an toàn. Chúng tôi chưa có một kế hoạch ǵ chắc chắn để t́m đường đi. Sau đó vào đầu tháng 6 năm 1975 th́ cả 4 anh em tôi bị Việt cộng đến nhà bắt đi ở tù "cải tạo". Riêng tôi th́ vượt ngục được sau hơn 4 năm bị tù, và sau đó vượt biên thành công, hiện taị đang sinh sống ở Canada, và lúc nào tôi cũng nghĩ rằng ḿnh vẫn c̣n trách nhiệm của một quân nhân tại ngũ.


Tôi viết bài hồi tưởng nầy, sau 38 năm, chỉ với mục đích là thăm hỏi và chúc sức khỏe cho các anh em đă cùng ở với tôi đến phút cuối cùng của đơn vị chúng ta, và xin cầu nguyện Thượng Đế phù trợ cho chúng ta c̣n sống để nh́n lại quê hương ḿnh khi không c̣n cộng sản nữa. Và sau hết, tôi muốn nói lại cho những chiến hữu cùng đơn vị Công Binh với tôi, những người đă không hiện diện trong những ngày cuối cùng đó, biết rằng vẫn c̣n những người trong đơn vị, chịu đựng những hiểm nguy cho đến phút sau cùng để khai tử cho đơn vị. Và cũng mong rằng đừng cho chúng tôi là hèn nhát, không dám chiến đấu với quân thù cho đến giọt máu cuối cùng!


Lăo Ngoan Đồng

Tháng 4 Đen

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính