Bản Án Tử H́nh

 


Khôi An

 

 

Lời Giới Thiệu của Khôi An:

Đây là một câu chuyện có thật, đă được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến.

Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết ḷng thương yêu Cô.

Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện c̣n ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xă hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm ḷng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.

Nhân kỷ niệm 30 tháng Tư, 2021, người viết xin đăng câu chuyện này như một lời tưởng nhớ các cựu chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đă chết trong tù ngục, và tôn vinh các người vợ suốt đời làm hậu phương sắt son, mạnh mẽ.

 

***

 

 

Mắt tôi mờ đi, tờ giấy nḥe ra.

Hàng chữ run lên, uốn éo như con rắn độc. Nó phóng tới, mổ vào giữa tim tôi.

“Xử phạt: Trần Văn Bé - Tử h́nh.”

Giọng nói run rẩy của tôi vang lên như âm thanh từ một cơn ác mộng, “Má nhận tin này hồi nào?”

 

Mẹ chồng tôi c̣n mếu máo th́ cô em chồng nghẹn ngào đỡ lời, “Từ tháng Năm, nhưng Má chưa dám nói với chị…”

 

Mẹ chồng tôi chùi nước mắt, phân trần, “Má tính đi kiếm cho ra mộ chồng con rồi mới nói cho con biết. Bởi vậy, hổm rày con đ̣i đi kiếm chồng, Má biểu để Má kiếm cho. Má sợ con chịu không nổi khi đối mặt với tụi công an… Con ơi, bữa đưa tin tụi nó làm dữ lắm! Công an phường, công an quận, công an thành phố kéo lại cả bầy. Tụi nó đưa ra tờ giấy này ra, biểu Má kư nhận. Lúc đầu Má không chịu kư, v́ Má nghĩ kư nghĩa là chấp nhận rằng thằng Hai đáng bị xử tử. Tụi nó hăm dọa Má, nhắc tới thằng Ba c̣n đang bị tù ngoài Bắc. Má sợ tụi nó đem thằng Ba ra bắn luôn nên phải cắn răng kư tên lănh án tử h́nh của con ḿnh. Má đứt từng khúc ruột, con ơi…” Mẹ chồng tôi nghẹn lời, bà khóc nức nở.

 

***

 

Thế là hết!

 

Anh Bé đi tù tháng 6 năm 1975, sau đó tôi chỉ nhận được ba lá thư của anh. Lá cuối cùng đề tháng 2, 1976, gởi từ trại Suối Máu, Biên Ḥa. Sau đó, anh bặt tin.

Tôi chờ đợi ṃn mỏi, lên xuống trạm công an cả chục lần, hỏi ǵ họ cũng trả lời không biết. Cuối cùng, tôi nhất quyết làm đơn khiếu nại.

 

Lúc đó, tôi và sáu đứa con - đứa lớn nhất mười một tuổi, đứa nhỏ nhất mới lên hai - đang nương náu trong một mảnh vườn hẻo lánh tại Mỹ Tho. V́ vậy, tôi dùng nhờ địa chỉ nhà Mẹ chồng ở Sài G̣n. Cả chục lá đơn gởi tới trại tù Suối Máu đều như biến vào khoảng không, chẳng c̣n một chút tăm hơi.

 

Trại tù không trả lời th́ tôi hỏi cấp trên; tôi mày ṃ kiếm địa chỉ của hai “Ṭa Án Nhân Dân” ở Sài G̣n và Hà Nội rồi gởi đơn tới cả hai nơi đó. Thời miền Nam vừa mất, cây củi cũng mắc, mua một con tem là thâm vào tiền mua gạo cho các con, nhưng tôi vẫn cắn răng bớt miệng con để gởi đi mấy chục lá đơn, từ tháng này qua tháng khác.

 

Cuối cùng, nhà cầm quyền Cộng Sản cũng phải trả lời. Ngày 10 tháng Năm, 1977, họ gởi thư về nhà Mẹ chồng tôi. Để xác nhận rằng: họ đă giết chồng tôi.

 

Cô em chồng đưa tay đỡ vai tôi cho tôi khỏi gục xuống. Sáu đứa con sợ hăi chạy lại vây quanh, tôi chỉ nói được mấy tiếng “Ba chết rồi!” rồi khóc ngất. Lũ trẻ thấy vậy cũng khóc ̣a lên, thằng lớn nhất ôm lấy con em kế, bệu bạo nói “Vậy là Ba không về nữa!”

 

Sau vài ngày ở nhà Mẹ chồng, tôi lại phải gượng đứng lên, dắt đám con về căn cḥi trống huơ, trống hoác, nóc dột, tường xiêu ở Mỹ Tho.

 

Mẹ chồng tôi sợ tôi chết th́ bà sẽ không nuôi nổi bầy cháu, c̣n cha mẹ ruột th́ lo tôi sẽ phát điên. Tuy vậy, Mẹ chồng tôi không đủ sức cưu mang bảy mẹ con tôi và cha mẹ tôi cũng chỉ dám ghé thăm vài ngày rồi đi về. Thời đó, mỗi tuần người dân đều phải đi họp tổ dân phố để công an điểm danh, ai đi đâu cũng phải xin phép, v́ thế không người nào dám đi lâu, sợ công an kiếm cớ làm khó dễ.

 

Ngày mẹ chồng tôi làm lễ phát tang anh Bé ở Sài G̣n, tôi chỉ đủ tiền mua ba tấm vé xe cho thằng con trai lớn nhất, đứa con gái út, và tôi. Họ hàng phần v́ không có tiền đi xa, phần v́ sợ liên lụy với “tử tù” nên không ai dám tới.

 

Ngoài ba mẹ con tôi, đám tang chỉ có mẹ chồng và hai cô em ruột của anh. Sau ngày giao bản án tử h́nh, công an khu vực ḍm ngó nhà chồng tôi như chồn cáo ŕnh chuồng gà; v́ thế, ngay cả trên bàn thờ của anh chúng tôi cũng không dám chưng bày nhiều.

 

Di ảnh của anh đứng sau dĩa trái cây lỏng chỏng, một bát nhang hiu hắt và hai cây đèn cầy leo lét. Trước bàn thờ, bốn người đàn bà đầu tóc rũ rượi quỳ bên hai đứa nhỏ xanh xao, ngơ ngác. Chỉ có tiếng nhà sư đọc kinh nho nhỏ, c̣n chúng tôi phải kềm tiếng khóc trong lồng ngực, nuốt ngược nỗi đau vào ḷng. Anh Bé sống ở khu xóm đó từ nhỏ, ai cũng biết và thương mến anh, cho nên bà con lối xóm kéo đến rất đông, nhưng không ai dám bước vô nhà. Họ giả làm kẻ ṭ ṃ đứng trước cửa, nhưng suốt buổi lễ họ lén dùng tay áo quẹt nước mắt, và nh́n chúng tôi bằng những cặp mắt đỏ hoe, ứa tràn thương xót.

 

Tôi quỳ ở đó, dật dờ nửa mê, nửa tỉnh.

 

Những h́nh ảnh cuối của anh trở về trong đầu tôi.

 

Chiều 30 tháng 4, 1975, anh lái xe Jeep đến nhà cha mẹ tôi ở thành phố Mỹ Tho, nơi tôi đem sáu đứa con thơ từ khu cư xá sĩ quan ở B́nh Dương về nương nhờ trong cơn hỗn loạn.

 

Tóc anh rối bời, mặt anh bơ phờ, nhưng anh vẫn mặc quân phục trên người. Anh ôm hôn từng đứa con, rồi nói với Ba tôi, “Ba cho con gởi vợ con của con.”

Ba tôi đă nghẹn ngào hứa, “Con đừng lo, vợ con của con ở đây với Ba Má, rau cháo có nhau. Con đi đâu cũng vậy, khi con trở về đây, vợ con của con sẽ c̣n đầy đủ.”

 

Trước mặt Ba Má tôi, anh ngại ngùng không ôm tôi lần cuối. Anh chỉ xiết tay tôi, dặn ḍ tôi giữ ǵn sức khỏe và cố lo cho các con. Tôi quá bàng hoàng, lo sợ nên chỉ biết nghẹn ngào nhắc anh hết sức giữ ǵn tánh mạng. Anh lưu luyến thêm một lát rồi quay đi.

 

Tôi đứng chết lặng ở bậc cửa.

 

Anh leo lên xe, rồ máy. Xe chuyển bánh. Chạy đi. Xa dần. Rồi mất hút.

 

Tôi cảm thấy một phần thân thể ḿnh vừa bị chặt ĺa ra…

 

Sau này tôi mới biết anh đă lái xe về nhà mẹ ruột ở Sài g̣n và trốn ở đây cho tới ngày đi tŕnh diện “học tập cải tạo”.

 

Mới hai năm qua mà tôi đă mất anh, con tôi đă mất cha. Người ta giết anh v́ tội “trốn trại cải tạo nhằm mục đích phản Cách Mạng.” Độc ác hơn nữa là họ không thông báo ǵ cho thân nhân. Mạng sống của anh, của những người tù, và nỗi đau của gia đ́nh họ, đối với người cầm quyền không có ư nghĩa ǵ!

 

Măi hơn một năm sau từ ngày bắn anh, có lẽ v́ mấy chục tờ đơn t́m chồng của tôi, họ mới gởi Tờ Trích Lục Án H́nh về nhà. Tờ giấy đánh máy một cách cẩu thả vào tháng 5, 1977 đă đề sai ngày của phiên toà xử tử anh là 10 tháng 4, 1977, trễ một năm.

 

Tôi ngước nh́n anh trong uất nghẹn. Anh cũng đang đau đáu nh́n tôi. Có phải mắt anh long lanh v́ nỗi đau cắt ruột, hay chỉ là màn lệ chan hoà từ mắt tôi?

 

***

 

Sau khi về lại Mỹ Tho, tôi nằm bẹp trên vơng, không khóc nhưng nước mắt nóng hổi tuôn ra như vắt hết sức sống của tôi.

 

Ḷng tôi nặng trĩu niềm đau, nỗi hận. Trong đầu tôi vang vang những lời oán trách số phận, nguyền rủa bọn giết người. Chồng tôi cả đời thanh liêm, đi lính Việt Nam Cộng Hoà tới lon Thiếu Tá mà vẫn không mua được cho vợ con một căn nhà riêng, tại sao anh phải chết tức tưởi như vậy?

 

Làm vợ lính, tôi đă nhiều lần nghĩ đến việc chồng tử trận, nhưng thà anh hy sinh trong cuộc chiến để các con c̣n được hănh diện, để tôi c̣n được an ủi.

 

Bây giờ chiến tranh chấm dứt rồi, chồng tôi đă phải mang thân tù tội, tại sao người ta c̣n giết anh? Tại sao họ đẩy mẹ con tôi thành “thân nhân của tử tội”, lớp người cô đơn, khốn cùng nhất trong cái xă hội đầy móng vuốt này?

 

Ngày tiếp ngày trôi qua trong cơn đau, mí mắt tôi sưng vù, rát bỏng, tiếng các con réo gọi nghe xa xôi như vọng lại từ một thế giới khác, tôi nghe nhưng không thể nào trả lời nổi. Tôi nằm đó, dật dờ giữa hai bờ sống, chết.

 

Một buổi trưa, không biết là bao lâu sau, tiếng khóc thảm thiết của hai đứa con nhỏ nhất kéo tôi ra khỏi cơn mê sảng. Tiếng than đói của hai đứa bé xoáy vào tim tôi, nhắc rằng tôi c̣n bổn phận với sáu đứa trẻ thơ.

 

Tôi ngồi bật lên, quơ tay t́m con và ôm xiết chúng vào ḷng. Giữa ban ngày mà trước mắt tôi tối đen. Không! Con không thể mù, con không thể chết! Xin Trời giúp con! Xin cứu con để con của con được sống!

 

Nhờ Trời thương và chắc anh vẫn theo phù hộ nên tôi hết bệnh, dù không có thuốc men ǵ. Tôi lết ra vườn, ṃ mẫm trồng rau, trồng khoai nuôi con.

 

Năm tháng rơi lặng lẽ như những sợi tóc của tôi rụng tơi bời trong cơ cực. Tay chân tôi khẳng khiu, trầy trụa, bầm dập, nhưng những vết thương đó không thấm thía ǵ với cái đau ở trong ḷng.

 

Ở miệt vườn hẻo lánh, sự ḱm kẹp của chính quyền địa phương khủng khiếp gấp mấy lần ở những thành phố lớn; công an mà ḍm ngó, trù dập ai th́ người đó không ngóc đầu lên nổi. Trong đám dân quê mùa, chất phác, gia đ́nh có thân nhân là sĩ quan “Ngụy” đang ở tù đă là một điều ghê gớm, nói ǵ tới chuyện là con cái của người tử tội.

 

Thời đó, nhà trường cứ vài tuần lại bắt học sinh khai lư lịch, v́ thế mỗi niên học các cháu đem về mấy chục tờ lư lịch nhờ tôi viết. Lúc nào tôi cũng khai là “Cha mất tích”, và các con tôi được dạy đi dạy lại rằng không bao giờ hé môi với ai về cái chết của cha.

 

Vậy mà cũng có lần chúng tôi xém bị lộ!

 

Tết Trung Thu năm 1977, trường học phát quà cho con của gia đ́nh liệt sĩ. Thằng bé thứ Năm nhà tôi mới vô lớp Một, không biết nghe ai giải thích “liệt sĩ” là những người đi lính đă chết, thế là nó tính chạy lên lănh quà.

 

May mà cô giáo của nó quen với tôi, cô thấy nó nhớm đứng lên, vội đè vai bắt nó ngồi xuống. Hôm đó thằng nhỏ tủi thân và thèm quà, khóc tức tưởi cả buổi chiều. Tôi xót cho các con ngây thơ mà phải chịu quá nhiều thiệt tḥi, dồn nén, phải sống trong hất hủi, phải thèm khát từ miếng ăn tới t́nh thương. Đêm đó, tôi khóc trắng.

 

***

 

1979.  

Nước ngập cao. Hút mắt chỉ thấy làn nước đục ngàu, lềnh bềnh rác rến. Những cây chuối chỉ c̣n lú lên chút ngọn run rẩy bên những cành mận trụi lủi, khẳng khiu đang vật vă trong gió.

 

Trời vẫn mưa! Mưa như xối nước.

 

Trên mấy bộ ván chồng lên nhau, tôi và sáu đứa nhỏ nằm, ngồi lủ khủ bên đống chăn mền, quần áo, bếp ḷ, chén dĩa - tất cả tài sản c̣n lại của bảy mẹ con. Cơn băo đă kéo dài gần một tháng, nước sông Tiền dâng ngập hết ruộng vườn, cuốn băng đi công sức mẹ con tôi vật lộn với mảnh đất này trong gần bốn năm trời kể từ tháng Tư, 1975.

 

Mưa càng lúc càng nặng hột. Gió xoáy mạnh, rít lên như oán trách, như thay tôi than tiếc cho công sức của mẹ con tôi đang trôi theo gịng nước.

Như lời đă hứa, sau tháng 4, 1975, Ba Má tôi hết ḷng bao bọc mẹ con tôi. Nhưng vai gầy không thể chống được cả bầu trời đang đổ xụp, sức lực của hai cụ già không thể nào đỡ nổi trận hồng thủy của cuộc đổi đời.

 

Nhà cầm quyền Cộng Sản bắt cha mẹ tôi phải nạp hết ruộng cho Hợp Tác Xă rồi mỗi tháng chúng phát cho mấy kư gạo vừa đủ cho hai người già sống cầm hơi.

 

Bảy mẹ con tôi không có tên trong “hộ khẩu” nên trở thành những người “ngoài pháp luật”, sống lây lất bên lề xă hội. Mỗi ngày, Ba Má tôi thu mót hoa màu trong vườn, rồi đem bán để mua gạo chợ đen về nuôi cháu.

 

Sau mấy tháng tôi không thể chịu được cảnh cha mẹ khổ sở, lo lắng, chạy ăn từng bữa v́ ḿnh nữa. Tôi đành nuốt nước mắt đem các con về ở tại năm công đất vườn do ông nội của chồng tôi chia cho anh từ thời anh c̣n trẻ.

 

Ngày mẹ con tôi dắt díu nhau ra đi, tôi không dám quay đầu nh́n lại, sợ ba má tôi thêm nát ḷng. Tôi cắm đầu bước, nước mắt ràn rụa. Tôi gọi tên anh, xin anh giúp sức cho người vợ mỏng manh, yếu ớt, chưa bao giờ biết cầm cái cuốc, cái cày…

 

Khu vườn thiếu người chăm sóc chỉ có thưa thớt vài cây mận, bà nội chồng thương nên cho thêm ba công ruộng ven để tôi kiếm gạo nuôi con.

            …

Tôi nắm một đầu chiếc gầu giai, đầu bên kia thằng Hai và con Ba - đứa mười một tuổi, đứa tám tuổi mím môi giữ. Trời nắng như đổ lửa, mặt tôi ướt đẫm mồ hôi; phía bên kia, dưới vành nón lá rách nát, hai đứa con tôi mặt đỏ bừng như lên cơn sốt. Chúng tôi múc từng gàu nước từ con rạch cạn, tạt vào những cây lúa đèo đẹt đứng gục đầu trên mảnh ruộng nứt chân chim.

 

Mùa đầu tiên trời hạn, sau khi trả tiền mướn trâu, tiền công cấy, tiền phân bón, tiền thuốc trừ sâu, tiền đóng thuế cho nhà nước, chúng tôi không c̣n một hột lúa mà ăn, đành đi vay mượn chờ năm tới.

 

Mùa kế, tôi chỉ dám mượn tiền để trả công cày rồi cố gắng tự làm đủ thứ việc, hy vọng cuối mùa thu được chút gạo sống qua ngày. Tôi học cách nhổ cỏ, rải phân, cấy lúa. Ngày ngày tôi bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Có lần tôi khiêng b́nh thuốc trừ sâu to hơn một ṿng ôm đi xịt quanh ruộng. B́nh thuốc lớn che khuất mặt, tôi không thể thấy thuốc xịt đều hay không nhưng vẫn nghiến răng tha cái b́nh đi xịt hết một ṿng. Làm xong, tôi run run leo lên bờ ruộng th́ b́nh thuốc đẩy tôi té ngược ra sau. Tôi nằm ngửa như con nhái bén ôm b́nh thuốc to tướng, hên là đất ruộng không quá cứng nên tôi không bị thương. Lần đó, đám con tôi phải xúm lại kéo cả b́nh và tôi lên bờ ruộng.

 

Không hiểu v́ cày không sâu, cấy không khéo, phân không đủ, thuốc không đều, nước không đẫm, hay v́ vận mạng của chúng tôi lúc đó đang tối tăm nên đất ruộng cũng không chịu hợp tác với mẹ con tôi. Tôi thất thu ba năm liên tiếp, nợ sau chồng lên nợ trước, cuối cùng tôi phải thế ruộng để trừ nợ, mẹ con rút về kiếm ăn trên mấy công vườn xơ xác.

 

Khai mương, đào đất, trồng cây, tưới bón, tất cả chỉ có tôi và hai đứa con lớn lăn lộn làm, c̣n mấy đứa nhỏ đành bỏ liều trong lều.

 

Có một lần tôi hái mận đem ra chợ bán, đường xa nên măi tối mịt mới về. Về tới nhà, thấy thiếu thằng Năm, tôi hoảng hồn chạy ra vườn, nhảy xuống mương t́m. Con mương không sâu lắm, chỉ để lấy nước tưới cây, nhưng cũng làm tôi lo lắng từ ngày mới về đây. Nước dưới mương ngập tới gần bắp vế, tôi vừa gọi tên con vừa khom người ṃ. Đụng thấy một vật tṛn cứng như đầu người, tôi hét lên rồi vật ra chết giấc. Cũng may là lưng tôi dựa vô bờ mương nên tôi không ngộp nước và có con bé Ba chạy theo, nó vừa khóc vừa kéo tôi lên. Và may hơn nữa là cái vật tṛn tṛn đó chỉ là một cái gáo dừa ch́m dưới mương, c̣n thằng Năm vẫn trùm mền nằm ngủ sau đống quần áo trong lều. Chắc nó đói quá nên lả đi, không lên tiếng khi tôi gọi.

 

Trăm ngàn khổ cực vậy mới thu được vài mùa mận, mà bây giờ cơn lụt lại phá tan hoang mảnh vườn, nguồn sống duy nhất của chúng tôi…

 

***

 

Cuối cùng nước lụt cũng rút để lại khu vườn đầy rác rến với những luống khoai bị nước san bằng và những gốc cây trụi lá, găy cành. Chỉ c̣n vài cây chuối non, tôi chặt về bào mỏng bóp với muối cho các con ăn qua bữa.

 

Đói th́ đầu gối phải ḅ, tôi lại bỏ liều các con ở nhà, qua Bến Tre đi buôn. Xứ dừa Bến Tre bạt ngàn cây trái nên dân bên đó khá giả, có ḷ nấu đường, làm xà bông. Tôi mua hàng đem về Mỹ Tho bán để kiếm chút lời.

 

Thời 1979-1980, trạm thu thuế mọc lên ở khắp nơi, như bầy rệp đói hút máu dân nghèo. Công an ŕnh ở khắp các ngả đường, khám xét càng ngày càng gắt gao. Tiền lời chỉ đủ để đóng thuế nên người đi buôn phải trốn, nếu thoát th́ kiếm được chút đỉnh, không may bị bắt là bị tịch thu hết hàng, đứt vốn.

 

Một ḿnh tôi kiếm không đủ tiền rau cháo nên tôi phải dắt hai đứa con trai theo. Tôi cưỡi một chiếc xe đạp, hai đứa chở nhau trên chiếc xe đạp khác, làm bộ như hai anh em chở nhau đi học nhưng trong cặp chúng nhét đầy đường và xà bông.

 

Thằng Hai c̣n biết xoay xở chút ít, c̣n thằng Tư ngây thơ, tính t́nh lại nhút nhát nên nó rất sợ. Mỗi khi qua trạm gác, mắt nó nh́n thẳng phía trước, làm bộ b́nh tĩnh, nhưng ngón chân nó bấm xuống dép, cổ nó căng lên như sợi dây đàn. Tôi ngó mà đau như bị đâm vào tim.

 

Chuyến phà Bến Tre - Mỹ Tho chiều hôm đó đông nghẹt. Mặt trời đă xế nhưng vẫn tỏa sức nóng hừng hực làm cho những gói đường quấn quanh bắp chân, quanh bụng tôi thêm trĩu nặng. Tôi ́ ạch dắt xe, nón lá che xùm xụp xuống mặt nhưng vẫn liếc mắt ngó chừng hai đứa đi phía sau. Chỉ c̣n một khúc nữa là vô trạm gác, ba mẹ con càng tách xa nhau như người xa lạ để nếu có bị bắt th́ không bị dính cả chùm.

 

Tôi thoát qua trạm gác, đứng lại, làm bộ gỡ nón quạt để ngó lại t́m con. Thằng Hai vừa dắt xe đi ra, thằng Tư đang tiến vào trạm…

 

Bỗng nhiên cái cặp ở tay thằng Tư rớt xuống, những gói đường và xà bông văng tung tóe. Mắt thằng nhỏ mở lớn, hăi hùng, miệng há ra nhưng không dám khóc lên thành tiếng. Một tên công an bước tới, nắm lấy cổ áo nó. Mắt tôi hoa lên, ngực tôi nhói đau, tôi ngồi xụp xuống để khỏi té vật ra. Phà đă tới, đám đông ùn ùn xô nhau tràn tới, tôi đội xụp nón lên đầu rồi đành bước chân đi.

 

Phà qua tới Mỹ Tho, thằng Hai mới dám chạy lại bên tôi, mếu máo, “Má ơi, thằng Tư bị bắt rồi!” Tôi ôm con, vuốt lên mái tóc cháy nắng khét lẹt rồi nói cứng, “Chắc họ không nhốt con nít đâu. Con đem đồ về nhà trước để tụi nhỏ khỏi trông, Má ở đây chờ em.”

 

Trời đă nhá nhem tối, tôi đang nghĩ cách quay lại kiếm con th́ thằng Tư thất thểu bước ra khỏi phà. Lưng nó khom xuống, mặt nó thất thần. Vừa thấy tôi, nó phóng tới ôm riết rồi khóc nức nở, người nó run bần bật trong những cơn nấc nghẹn ngào. Nước mắt tôi cũng rớt như mưa. Tôi hận ḿnh bất tài, hận số phận ḿnh khốn khổ để tuổi thơ của các con quá bi thảm và tủi nhục. Tôi lại ngửa mặt gọi anh. Anh ơi, hăy giúp em cứu các con ra khỏi cảnh khổ hận này.

 

Từ bữa đó, tôi không dám bắt các con đi buôn lậu nữa. Tôi đi tới từng vườn trái cây mua rồi chở đi bỏ cho những bạn hàng ở Sài g̣n. Mỗi ngày tôi dậy từ 3 giờ sáng, cột mấy giỏ trái cây lên xe đạp rồi chở ra bến, đón xe đem về Sài G̣n.

 

Tiền xe hai chuyến đi về mắc mỏ mà tôi th́ sức yếu, vốn nhỏ nên lời rất ít. Thấy dân nghèo tứ xứ bày bán đủ mọi loại hàng trên lề đường trước cửa chợ, tôi quyết định không bán sỉ nữa mà bán lẻ để kiếm lời khá hơn.

 

Tôi trải đại một tấm ny lông xuống lề đường, bày một ít trái cây làm mẫu, phần c̣n lại để trong giỏ gởi mấy cửa tiệm ở mặt đường, có tiệm thương t́nh cho gởi, có tiệm bắt trả tiền. Tôi lê la từ chợ Cầu Ông Lănh tới chợ Tân B́nh, chợ An Đông, đôi khi gặp bạn bè cũ, tôi cúi gầm mặt dưới vành nón, không dám ngước lên.

 

“Ủy Ban Trật Tự Thành Phố” nói rằng bán hàng trên lề đường gây hỗn loạn nên ra lệnh cấm, nhưng người dân đói quá cứ làm liều.

 

Từ cụ già tám mươi tuổi đến đứa bé sáu, bảy tuổi, từ người lành lặn tới anh thương phế binh, người trải tấm nylon, kẻ đẩy cái xe tự đóng bằng ván mục, người bưng cái rổ, kẻ đội cái mâm, chúng tôi đứng ngồi la liệt trên khắp các ngả đường để kiếm sống.

 

Ngày nào bán được khá, ngoài mấy lít gạo tôi c̣n mua về cho con vài ổ bánh ḿ. Trời sụp tối tôi mới về đến nhà, nh́n chúng chia nhau nhai ngấu nghiến một cách hết sức thèm thuồng, tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục lăn lộn trên vỉa hè.

 

Tuy nhiên, những ngày vui thường ít hơn những ngày buồn. Rất nhiều khi đang ngồi bán th́ người ở đầu đường la, “Công an!” và mọi người vùng lên chạy. Những người bán mặt hàng gọn, nhẹ th́ túm tấm trải lại, ôm vào người rồi biến vào trong những ngơ hẻm. Tôi quảy đống trái cây nặng hơn nên thường lẹt đẹt phía sau và bị công an hốt. Công an đem tôi về “Trụ Sở Ban Quản Lư Chợ”, bắt kư tên vào biên bản rồi tịch thu hết hàng.

 

Tôi nhớ tới lời Mẹ chồng tôi thường an ủi tôi rằng “trời sanh voi, sanh cỏ” mà muốn gào vào lên sao các người ác vậy, đă giết chồng tôi mà c̣n không chừa cho mẹ con tôi một cọng cỏ để ăn!

 

Những ngày bị mất hàng, tôi trở về nhà với hai tay không, thê thảm như người vừa bị cướp. Mấy mẹ con phải ra vườn mót những củ khoai đèo đẹt và hái rau dại về ăn. Ngồi nh́n đám con chia nhau dĩa rau luộc chấm nước muối, ḷng tôi đau nhói. Mới ngày nào tôi là cô dâu hai mươi tuổi, ngây thơ, lăng mạn cùng chồng mơ về một căn nhà ấm cúng với đàn con ngoan ngoăn, cười giỡn rộn ràng. Bây giờ, đàn con tôi gầy ốm, buồn rầu c̣n tôi th́ da đen xạm, tay chân chai sần, tóc tai xác xơ như ḷng tôi tan nát.

 

Sau nhiều lần bị công an bắt, vốn liếng sắp cạn th́ tôi may mắn gặp được quư nhân.

 

Chị là vợ của Trung Tá Kh. ở cùng Sư Đoàn 5 với chồng tôi, và hai gia đ́nh đă ở gần nhau trong Cư Xá Sĩ Quan Ngô Quyền tại B́nh Dương trước năm 1975. Không ngờ sau cuộc đổi đời, chị cũng dắt con về ở ngay bên cạnh xă tôi. Con út của chị học chung một lớp với con tôi, có lẽ cùng thuộc diện con “tù cải tạo” nên chúng thân và tâm sự với nhau. Kể qua kể lại, té ra là hàng xóm hồi xưa, con tôi vui mừng về báo cho tôi và tôi đă t́m thăm chị.

 

Hầu hết các con của chị Kh. đă lớn nên kiếm được việc làm lặt vặt để sống qua ngày. Thời đó, phong trào đan mây tre và làm nón để xuất khẩu ra nước ngoài lên mạnh, chị giới thiệu cho tôi lănh nón về thêu ăn công. Đêm nào tôi và con gái lớn cũng ngồi thêu bên cây đèn mù mờ, nước mắt sống chảy ṛng ṛng v́ dùng mắt quá độ, nhưng số tiền công rẻ mạt chỉ giúp chúng tôi kiếm thêm chút cháo. Chị Kh. có người thân ở Huế nên chị cũng làm đại lư cung cấp nón lá Huế cho các sạp bán lẻ, thấy vậy chị lại thương t́nh cho tôi lấy nón về bán, bán xong mới đưa lại tiền vốn cho chị.

 

Thời đó, chợ huyện Tân Hiệp họp từ một, hai giờ đêm để người ta kịp mua hàng đem lên Sài G̣n bán lúc sáng sớm. Khoảng mười một giờ đêm là tôi ṃ mẫm dắt xe đạp ra khỏi nhà, trên yên sau là gói hàng lặt vặt như tiêu, tỏi, xà bông, bột ngọt, phía trên là chồng nón. Chiếc xe đạp cũ nát run rẩy ḅ trên con đường đất gồ ghề, hai bên là ruộng, côn trùng ếch nhái kêu nỉ non, đom đóm bay lập ḷe như mắt quỉ.

 

Hồi c̣n con gái, tôi rất sợ ma, nhưng lúc đó tôi chỉ c̣n sợ… người. Trời tối đen, chỉ nh́n thấy một khúc đường ngắn lờ mờ trước mặt, tôi vừa đạp xe vừa cầu xin anh phù hộ cho tôi không bị cướp.

 

Ra tới chợ, có những đêm vừa bày hàng xong th́ trời đổ mưa, tôi lấy hết nylon che cho hàng hóa rồi ngồi chịu trận trong cái áo mưa đầy lỗ lủng, nghe từng giọt nước lạnh như kim chích trên lưng, nghe gió quất từng cơn trên gương mặt ướt đẫm nước mưa ḥa nước mắt.

 

Sau những đêm ế ẩm, sáng ra tôi phải đạp xe tới từng nhà quanh chợ, mời người ta mua nón dùm. Các bà không ai biết chuyện chồng tôi bị xử tử, nhưng họ biết tôi là vợ tù nên rất thương tôi. Họ cũng chẳng dư dả ǵ nhưng người mua dùm cái nón, người cho củ khoai, ly nước, người dúi cho tôi chút trái cây để đem về cho các con.

 

Những ngày tôi bán ế, không đủ tiền trả vốn số nón đă lấy của chị Kh., chị chỉ mắng yêu, “Thôi, không đủ tiền th́ thím để bữa sau bán tiếp rồi trả, chớ không lẽ bây giờ tui bắt xác thím được ha…”

 

***

 

Bữa đói bữa no, bịnh không có thuốc nhưng nhờ Trời thương, đám con tôi vẫn lớn như cây dại mọc ở bờ rào.

 

Các cháu biết thân phận ḿnh nên rất ngoan và chăm học. Ngoài giờ học, chúng đi câu, đi chạ, đi lưới để kiếm thêm thức ăn. Tuy vậy, chúng càng lớn th́ tiền học, tiền sách vở càng tốn kém, rất nhiều lần các cháu bị thầy cô rầy la v́ xài chung chỉ một cuốn vở cho mọi môn học, nhưng các cháu không hề than van.

 

Những ngày tôi đi buôn bán về trễ, ḷng tôi ấm lại trước cảnh các con quây quanh ngọn đèn dầu leo lét, mấy đứa nhỏ tập đọc ồn ào, nhưng mấy đứa lớn vẫn ráng chăm chú giải toán, học bài.

 

Dù không có tiền đi học thêm, dù sự giảng dạy ở vùng quê trồi xụt bất thường, ba đứa con lớn của tôi đă đạt được điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp trung học. Tuy vậy, các cháu nhưng chỉ được trúng tuyển vào những trường dạy nghề như Trung Học Lâm Nghiệp ở Sông Bé, Trung Học Sư Phạm ở Tiền Giang, và Trung Học Xây Dựng ở Vĩnh Long. Dù sao, đây là một điều rất quan trọng cho cuộc đời của hai cháu trai bởi v́ nếu không được đi học tiếp, các cháu sẽ phải đi “nghĩa vụ quân sự”, bị gởi đi đánh nhau ở vùng biên giới Tàu hay Campuchia.

 

Tôi đă thề cùng vong linh của anh rằng tôi sẽ làm mọi cách để các con chúng tôi không bị đi bộ đội. Chỉ tưởng tượng các cháu phải mặc cùng bộ quân phục, đứng cùng hàng ngũ, và đem thân đi chết v́ chính kiến của những người đă giết cha các cháu, tôi rùng ḿnh. Nếu bị kêu đi “nghĩa vụ”, các cháu chỉ c̣n nước bỏ làng xóm đi sống lang thang, dật dờ như rất nhiều thanh niên thời đó.

 

Dù trúng tuyển vào trường, nhưng sau khi tốt nghiệp, cả ba cháu không có tiền chạy chọt, không quen biết ai, nên bị gởi đi làm việc ở những nơi xa xôi, hẻo lánh. Các cháu chán nản quay về nhà, làm ăn lặt vặt qua ngày. Cuộc sống tuy đỡ đói khổ hơn thời các cháu c̣n nhỏ, nhưng đầy bế tắc, không có tương lai.

 

***

 

Từ đầu thập niên 1980 đă có lác đác sĩ quan đi tù được thả về. Mỗi lần nghe tin người quen được về với vợ con, tôi mừng cho họ nhưng nghe ḷng càng thêm cô đơn, cay đắng.

 

Chồng tôi sẽ không bao giờ trở về, mà thân xác anh cũng vẫn c̣n lạc lơng ở tận phương nào. Mẹ chồng tôi đă già yếu, không c̣n tiếp tục đi t́m mộ anh được nữa, c̣n tôi th́ lăn lộn kiếm gạo cho bầy con nên không thể hết ḷng t́m kiếm. V́ thế, ngoài nỗi khổ đói nghèo, nỗi hận mất chồng, nỗi sợ hăi xă hội nhiễu nhương, và nỗi buồn đơn chiếc, tôi c̣n mang cảm giác nặng trĩu tội lỗi của người vợ vô t́nh.

 

Tôi không thể ngờ rằng năm 1984, tám năm sau khi anh mất, anh đă t́m về với mẹ con tôi.

 

Hôm đó, tôi đang lúi húi ngoài vườn th́ chị Hai tôi bước vô cổng. Vừa tháo nón lá quạt lia lịa, chị vừa kêu, “D́ Ba! D́ Ba ơi! Có tin dượng Ba!”

 

Tôi quăng cuốc chạy ra, chị chụp tay tôi, hổn hển vừa thở vừa nói, “Mèn ơi, thiệt không ngờ! Em nhớ cô giáo H. dạy trong trường chị chớ? Chị với cổ thân nhau, lúc người này có chuyện th́ người kia dạy dùm. Mới cách đây mấy bữa, chị coi lớp dùm cổ để cổ đi hốt cốt người em trai tên Thịnh, chết trong tù cải tạo. Cổ đi về kể chuyện cho chị nghe, cuối cùng cổ nói thêm ‘Kế sát bên mộ em tui có ngôi mộ của một ông chết cùng ngày. Tội nghiệp, chắc gia đ́nh ổng đi vượt biên hết nên không ai chăm sóc, cỏ mọc tùm lum!’ Trước giờ chị ít để ư chuyện của ai, nhưng bữa đó như có ǵ xui khiến nên chị hỏi tới, ‘Vậy chứ bà có nhớ tên người đó không?’ Cổ nói ‘Tên là Trần Văn Bé, sinh ở Long An.’”

 

Giữa trưa nắng mà tôi sống lưng tôi lạnh toát.

 

Tôi đă nghe các bạn tù của anh kể lại rằng sau khi bọn cai tù bắt được anh và đem trở về trại Suối Máu, bọn chúng c̣n chuyển về một người đă vượt trại ở Hóc Môn tên là Thịnh. Cả hai bị nhốt vào connex và bị bắn trong cùng một ngày, chồng tôi vào buổi sáng, anh kia vào buổi chiều.

 

Như vậy là những người bạn tù đă chôn hai anh kế bên nhau, và đă thương xót lập bia để chỉ đường cho thân nhân các anh mai sau đi kiếm. Trong gần bốn triệu người dân Sài g̣n, cơ may hiếm có hay hồn thiêng của hai anh đă đem chị tôi và chị của anh Thịnh đến với nhau, để cho họ thân thiết và tin cậy nói cho nhau nghe những nỗi đau sâu kín của gia đ́nh những người lính Cộng Ḥa găy súng.

 

Có lẽ hồn thiêng của chồng tôi níu chân chị H. nên chị đă để ư tới nấm mộ hoang khuất trong cỏ rậm, và đọc được cả những chi tiết viết bằng tay mờ nhạt trên miếng gỗ đă tám năm trời phơi mưa nắng.

 

Mẹ chồng tôi lập tức lo việc xin giấy phép đi đường, giấy phép cải táng và kiếm nhà quàn lo dịch vụ. Ngày đi bốc mộ, tôi và Mẹ ruột tôi từ Mỹ Tho về Sài G̣n cùng đi với Mẹ chồng, cậu ruột của chồng, và một cô em chồng.

 

Nhờ chị của anh Thịnh đă chỉ đường rất kỹ nên chúng tôi tới mộ khi mặt trời chưa đứng bóng. Cỏ dại đă được phạt đi nên chúng tôi thấy ngay ngôi mộ có tấm bia bạc phếch đứng chơ vơ trong nắng. Có lẽ đây là khúc cây tốt nhất mà các bạn tù của anh đă lựa, có lẽ họ đă khắc tên anh bằng cả tấm ḷng, có lẽ v́ mộ nằm ở khu đất cao và khô ráo, và có lẽ hồn anh c̣n quanh quẩn nên tấm bia vẫn c̣n đứng vững và những gịng chữ vẫn chưa phai sau tám năm hoang lạnh.

Người ta bắt đầu đào, tiếng b́nh bịch của cuốc bằm xuống đất dội bưng bưng vào óc tôi làm tôi choáng váng, phải ra ngồi dựa vào một gốc cây. Nấm mộ không sâu nên chỉ một lát là chạm đến cái ḥm thô sơ, bể tan sau vài nhát cuốc.

 

Tôi vẫn ngồi dưới gốc cây, hai mắt mở trừng trừng. Tôi thấy như hồn tôi tách khỏi thân xác, bay là là trên cao nh́n mọi người đang khóc và tôi đang ngồi sững sờ như hóa đá. Từng khúc xương được bốc lên, mẹ chồng tôi nh́n bộ răng và nói rằng đúng là anh với hàm răng thiếu một chiếc ở góc trong. Khi mẹ kêu tôi tới nhận diện chồng, tôi mới lảo đảo đi tới gần mộ. Bên cạnh cái hộp sọ đă bể, tôi thấy chiếc áo sơ mi sọc do chính tôi sắm cho anh ngày xưa nằm cạnh sợi dây nịt của lính. Có lẽ anh em bạn tù đă thu nhặt túi đồ của anh và chôn theo anh. Tới lúc đó nước mắt tôi mới có thể trào ra. Cuối cùng th́ em cũng đă t́m được anh rồi!

 

Sau khi thiêu cốt, Mẹ chồng tôi đề nghị đem gởi vào chùa ở Phú Lâm. Tôi đồng ư v́ ở Sài G̣n dù sao cũng an toàn hơn là ở Mỹ Tho trong ngôi nhà xiêu vẹo, chông chênh của mẹ con tôi.

 

***

 

 “Mẹ có nhà không con?”

 

Đang loay hoay đếm nón để khuya đem đi bán, tôi chạy vội ra cửa v́ giọng nói đầy vẻ háo hức của cô bạn thân, học chung từ nhỏ.

 

Vừa thấy tôi, H. níu tay kéo ngồi xuống bậc cửa, móc trong túi áo ra một tờ báo được xếp gọn. Với vẻ mặt hết sức trang trọng, H. giở báo, chỉ vào một bản tin nhỏ với tựa đề: Thông Cáo Về Việc Làm Hồ Sơ Xuất Cảnh Cho Những Người Từng Đi Học Tập Cải Tạo.

 

Hai chúng tôi chúi đầu vào đọc. “Những người từng đi học tập cải tạo trên ba năm sẽ được làm hồ sơ đi Mỹ, ngay cả vợ con của những người đă chết trong trại cũng được đi.”

 

Run run, tôi hỏi H. “Bà nghĩ tin này thiệt không?”

 

 “Thiệt mà! Ở trên Sài G̣n người ta xác định rồi, mấy người bạn ông xă tui đang làm đơn rần rần ḱa!”

 

Thế là chiều hôm đó tôi mở cái hộp sắt, lấy ra tờ Trích Lục Án H́nh vừa coi lại vừa van vái chồng tôi.

 

Năm đó là 1988, như vậy chồng tôi bị giết đă mười hai năm. Nước mắt rơi lă chă, tôi lại kêu anh. Anh ơi! Anh giúp em cứu các con ra khỏi nơi này.

 

Mẹ chồng tôi nghe tôi kể chuyện làm đơn xin đi Mỹ, bà chép miệng, “Làm đơn th́ phải khai ra cái chuyện chồng con bị tử h́nh. Tụi công an xă mà biết th́ giống như khui ổ rắn. Má sợ các con mà đi không được, sau này sẽ khổ hơn…”

 

Tuy nhiên ḷng tôi đă quyết, đây là cơ hội duy nhất để cứu con tôi, điều mà tôi ước mơ từ mười mấy năm nay. Với sự giúp đỡ của vợ chồng bạn, tôi xin mẫu đơn, điền chi tiết, đính kèm bản sao của bản án tử h́nh rồi đem nộp ở Ty Ngoại Vụ Tỉnh Tiền Giang. Gia đ́nh H. và chúng tôi đều được xếp vào danh sách H.O. 7.

 

Nhưng chỉ mấy tuần sau tôi nhận được thư từ Sở Ngoại Vụ ở Sài G̣n từ chối đơn của tôi với lư do: chồng tôi bị tử h́nh năm 1976, do đó anh không hội đủ điều kiện bị tù ba năm. Tôi nghiến răng rủa bọn Cộng ngu xuẩn, chồng tôi bị tử h́nh nghĩa là đi tù không bao giờ về, cớ ǵ mà không đủ điều kiện ba năm. Tôi viết thư khiếu nại nhưng Sở Ngoại Vụ từ chối, họ nói bắt buộc phải có ba năm ở tù. Đối với họ chết là hết, là không c̣n giá trị ǵ nữa.

 

Lúc đó, gia đ́nh của những người sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà đă hồi sinh như ruộng hạn gặp mưa rào. Họ tụm năm, tụm ba, th́ thào về chuyện làm đơn, chuyện nhận được giấy tờ chấp thuận cho đi. Họ len lén mua sắm, chuẩn bị cho ngày lên đường. Mọi người chạy qua chạy lại, bàn bạc, chia sẻ với nhau những tin tức góp nhặt được về đời sống bên Mỹ, về ước mơ tương lai. Lác đác tiếng cười đă trở lại trong những căn nhà lụp xụp, buồn hiu.  

 

Tôi đứng bên ngoài hạnh phúc đó, nh́n cảnh tượng đó bằng cảm giác của đứa con nít bị bỏ rơi. Các bạn của tôi cứ nghĩ là tôi không có hy vọng, nên họ tránh bàn chuyện đi Mỹ trước mặt tôi. Có nhiều khi họ đang nói mà thấy tôi đến là im bặt. Tôi ráng cười nói cho họ yên tâm dù ḷng đau như cắt.

 

Giữa năm 1991, H. lên đường đi Mỹ theo diện H.O. 7.

 

Đêm trước khi đi, hai đứa nói chuyện thật lâu. H. hứa sau khi sang Mỹ sẽ hết ḷng giúp mẹ con tôi. Tôi bỏ bản sao của tờ đơn xin đi diện H.O., bản sao của tờ Trích Lục Án H́nh, và lá đơn khiếu nại của tôi vào một cái phong b́ lớn. Tôi thêm vào đó bản sao của tấm h́nh thờ của anh, mong có phép lạ để một trong những người Mỹ từng làm việc với anh ở Pḥng Nh́ tiểu khu Định Tường, Mỹ Tho ngày trước nhận ra anh mà cứu mẹ con tôi. Tôi van vái, “Anh ơi! Anh phù hộ cho H. đưa được đơn đến tay người tốt, cho họ mở ḷng thương mà cứu vớt gia đ́nh ḿnh.”

 

Ngày chia tay, tôi hết gượng nổi, tôi khóc như mưa.

 

H. lên xe, đem theo hy vọng của chúng tôi. Xe chuyển bánh rồi từ từ xa dần.

Tôi đứng dưới ánh nắng gay gắt, nước mắt chứa chan, nh́n dơi theo chiếc xe mờ dần trong bụi khói rồi biến mất sau khúc quẹo.

 

***

 

H. đi rồi, tôi hồi hộp chờ đợi từng ngày.

 

Nhiều gia đ́nh cựu sĩ quan ở trong vùng đă ra đi làm tôi càng thấy bơ vơ, khó kiếm người tâm sự. Khó hơn nữa là khi nghe tôi nói rằng tôi muốn khiếu nại với người Mỹ, hầu hết bạn bè đều chớp mắt ái ngại, rồi làm thinh.

 

Tôi hiểu rằng họ nghĩ người Mỹ sẽ không quan tâm đến một gia đ́nh ở cách nửa ṿng trái đất mà mối liên hệ với Mỹ đă bị tử h́nh từ mười sáu năm trước. Vài người bi quan c̣n không dám tin là H. sẽ giữ lời hứa với tôi. Họ lắc đầu nói, “Trước khi đi ai cũng hứa hẹn nhưng qua đó nhiều thứ phải lo quá nên người ta quên hết….”

 

Nhưng H. đă không quên mẹ con tôi.

 

H. có người anh chồng từng học Quốc Gia Hành Chánh và cũng là một sĩ quan VNCH. Năm 1975, anh giữ chức trưởng pḥng kinh tế của Quân đoàn 4, anh cũng bị đi tù nhiều năm, sau đó anh vượt biển và định cư ở Mỹ.

 

Lá thư đầu tiên H. gởi về kể rằng anh ấy đă dịch lá đơn cùng với lá thư khiếu nại của tôi ra tiếng Anh rồi gởi cho cơ quan di trú Mỹ.

 

Từ đó, sáng nào tôi cũng thắp nhang trên bàn thờ chồng rồi ngóng chờ thư. Khoảng hai tháng sau, thư của H. đến.

 

Tôi dụi mắt, coi đi coi lại gịng chữ viết tay của H. để biết chắc là ḿnh không lầm. “Văn pḥng ODP bên đây chấp thuận hồ sơ của gia đ́nh bà rồi! Họ sẽ liên lạc với Việt Nam để hoàn tất thủ tục.”

 

Hai tuần trôi qua với lo lắng, chờ đợi. Rồi tôi nhận được một lá thư của Sở Ngoại Vụ tại Sài G̣n yêu cầu tôi bổ sung giấy tờ về cái chết của chồng tôi.

 

Tôi đọc lá thư mà điếng hồn.

 

Như vậy là tờ Trích Lục Án H́nh mà tôi đă nộp là không đủ. Chồng tôi bị xử theo luật rừng vào năm 1976, trong một phiên toà rừng tại trại tù, biết có biên bản hay không? Nếu có, biết họ có c̣n giữ lại sau mười sáu năm hay không?

 

Tôi lại mở cái hộp sắt và lấy tờ Trích Lục Án H́nh ra soi xét. Góc trái của tờ giấy có hàng chữ “Ṭa Án Quân Sự Quân Khu 7”.  Tôi sẽ đi t́m từ đầu mối đó.

 

Ngày đó, ở Mỹ Tho điện nước c̣n không có đủ, nói ǵ tới máy tính hoặc mạng internet. Thêm nữa, những hồ sơ về tù chính trị không bao giờ lộ ra ngoài nên tôi thông thể tra cứu, t́m kiếm được ở bất cứ nơi nào.

 

Cách duy nhất là tới thẳng Ṭa Án Quân Sự Quân Khu 7 mà tôi không biết ở đâu. Tôi phải nhờ chị ruột và anh rể tôi đang ở Sài G̣n đi hỏi thăm dùm.

 

***

 

Một buổi trưa nắng gắt, có một người đi bộ từng bước xiêu vẹo trên con đường trơ trụi từ bến xe vô nhà tôi. Đó là chị Hai tôi!

 

Vừa tới nhà tôi, chị lột cái nón quạt lia lịa rồi vừa thở vừa nói, “T́m thấy địa chỉ của Ṭa Án Quân Khu 7 rồi! Đâu dè nó ở ngay tại Sài G̣n! Bây giờ, cái khó là em có dám vô đó hỏi họ về bản án không?”

 

Hai bàn tay tôi bỗng ướt nhẹp mồ hôi. Mười sáu năm qua tôi đă viết hàng trăm tờ lư lịch khai là chồng tôi mất tích, bây giờ tôi phải đối mặt với công an để nói rằng anh đă chết và tôi muốn kiếm bản án tử h́nh. Họ có túm đầu cả gia đ́nh tôi về tội khai gian không?

 

Nhưng giấc mơ đi Mỹ của cả gia đ́nh đă gần kề, cánh tay cứu vớt của người Mỹ đă đưa ra rất gần rồi, tôi nhất định phải nắm lấy. Tôi phải vượt qua mọi gian nan v́ tương lai của các con.

 

Tôi gom góp cây trái trong vườn đem bán, kiếm đủ tiền mua cái vé xe lên Sài G̣n rồi ghé ở nhờ nhà anh chị. Chị tôi trao cho tôi tấm giấy ghi rơ địa chỉ nơi tôi cần đến, cho tôi mượn bồ đồ tươm tất nhất để mặc, nhưng chị cũng lo ăn từng bữa nên chỉ giúp tôi được tới đó.

 

Tôi cầu cứu cậu em út lúc đó mới tốt nghiệp Sư Phạm, có vợ vừa sinh con nhỏ. Hai vợ chồng vét tất cả gia tài pḥng thân đưa cho tôi mượn hai trăm ngàn, lúc đó mua được gần một chỉ vàng.

 

Buổi sáng ngày tốt mà tôi đă chọn, cậu em chở tôi bằng xe Honda tới trước Ṭa Án Quân Khu 7. Trời c̣n sớm, con đường c̣n vắng vẻ, cậu Sáu ngừng xe rồi quay lại nh́n tôi, lặng lẽ. Ánh mắt cậu nửa như khuyến khích, nửa như lo lắng, thương cảm khiến tôi mủi ḷng muốn khóc. Nhưng tôi gom hết can đảm, lấy giọng b́nh tĩnh, “Sáu đậu ngay đây, rồ máy sẵn nghe. Có chuyện ǵ chị phóng lên xe, ḿnh chạy liền nghe.” Cậu em gật đầu, “Em biết rồi, chị cứ vô đi. Ráng cẩn thận!” Tôi xuống xe, tḥ tay soát lại cuộn tiền dấu trong túi nhỏ ở lưng quần, rồi mím môi bước tới.

 

Khúc sân xi măng dẫn tới căn nhà nhỏ có tấm bảng đề “Trạm Tiếp Dân” chỉ có mấy thước ngang mà tôi thấy quá dài. Chân tôi ríu lại, tim tôi đập dồn dập, tôi không ngừng van vái, “Anh ơi, phù hộ cho em!”

 

Tôi là người khách đầu tiên trong ngày, cả căn pḥng c̣n trống không, chỉ có một người công an c̣n rất trẻ ngồi ở cái bàn nhỏ ngay gần cửa vào. Thấy tôi, hắn hất hàm, “Cần ǵ?”

 

Tôi đưa bản sao tờ Trích Lục Án H́nh ra rồi lấy giọng nhỏ nhẹ nhất, “Chào chú, tôi muốn xin bản sao của toàn bộ bản án này.”

 

“Xin để bổ túc giấy tờ đi H.O, phải không?”

“Dạ… Dạ phải. Chú làm ơn giúp dùm!”

 

Tên công an săm soi ngày tháng trên tờ giấy rồi nói, “Vụ này từ năm 1976, giấy tờ đem ra Hà Nội hết rồi.”

 

Tôi liếc nh́n quanh, rồi rút nhanh cuộn giấy bạc nhét vào tay hắn và nài nỉ, “Chú làm ơn hỏi dùm tôi…”

 

Tên công an đút lẹ tiền vào túi, suy nghĩ một chút rồi nói, “Được rồi, để tôi cố t́m. Hai tuần sau chị trở lại.”

 

Tôi vừa cám ơn hắn vừa lùi ra cửa.

 

Mười bốn đêm tôi trằn trọc v́ lo lắng. Lỡ mà tên công an đó trốn luôn, lỡ mà bản án không c̣n, lỡ mà công an đ̣i thêm tiền… Hàng chục cái “lỡ” hiện ra trong đầu làm cho tóc tôi thêm bạc, mặt tôi thêm hốc hác.

 

Đúng hai tuần, tôi trở lại ngay lúc Toà Án vừa mở cửa. Tim tôi nhảy b́nh bịch khi thấy tên công an trẻ hôm trước, hắn lôi ra trong ngăn kéo ra một phong b́, đưa cho tôi với một nụ cười thoáng trong ánh mắt nhưng chỉ nói cụt ngủn, “Đây.”

 

Tôi chụp lấy, miệng líu ríu cám ơn hắn, chân vọt nhanh ra cửa. Mới thấy mặt cậu em, tôi run run lôi ra ba tờ giấy từ trong bao thư ra và nói líu lưỡi, “Có rồi, có rồi, Sáu ơi!”

 

Tờ đầu là lư lịch của chồng tôi, tờ thứ hai ghi lại diễn tiến trốn trại của anh, và tờ cuối kết thúc bằng gịng chữ:

Xử phạt:         TRẦN VĂN BÉ         Tử H́nh

 

Nước mắt tôi lúc đó mới tuôn ra và ḷng tôi lại đau như cắt trước cái trớ trêu của đời tôi: bản án tử h́nh với những lời chửi chồng tôi là “ác ôn, phản động” cũng là tờ giấy để cứu mẹ con tôi.

 

***

 

Tôi sao lại bản án để gởi lên Sở Ngoại Vụ, c̣n bản chính tôi cất vào chiếc hộp sắt chung với tờ giấy Trích Lục Án H́nh tôi đă nhận năm xưa.

 

Những đêm mất ngủ tôi lại lấy bản án ra đọc, và tôi đă thuộc từng câu trong đoạn diễn tả những điều xảy ra khi anh vượt trại.

 

“… Hồi 11 giờ 30 ngày 5 tháng 3, 1976, Bé đă chui rào trốn ra tới Quốc Lộ 1 và thuê xe lam chạy đến khu vực ấp Bắc Hải. Đến đây nghe thấy tiếng súng nổ ở phía sau, Bé liền xuống xe chạy vào nghĩa địa lẩn trốn. Lúc 18 giờ ngày 5 tháng 3, 1976 Bé chạy tới xă Tân Hiệp – Biên Ḥa trà trộn trong nhân dân… Đă có sự bố trí từ trước, nhân dân và chính quyền địa phương đă bắt Bé.”

 

Như vậy là anh đă lẩn trốn hơn sáu tiếng đồng hồ, từ trưa tới chiều ngày 5 tháng 3, 1976. Ḷng tôi đau như cắt khi nghĩ đến lúc anh bơ vơ ở Biên Ḥa, vùng đất miền Nam quê hương, nơi rất thân quen nhưng lúc đó đă trở thành xa lạ, đầy cạm bẫy trong móng vuốt kẻ thù.

 

Trời ơi! Chúng đă bao vây anh ở Tân Hiệp ra sao? Anh có hoảng hốt, tuyệt vọng không? Anh có bị đánh đập nhiều không? Rồi trong hơn một tháng từ ngày 5 tháng 3 cho tới 10 tháng 4, 1976, anh đă bị hành hạ tới mức nào? Những ngày nóng như lửa nằm trong connex, anh đă đau đớn, đói khát tới bao nhiêu? Những đêm dài khủng khiếp anh đă nghĩ ǵ? Anh có nhớ vợ con nhiều không? Anh có lời ǵ muốn nói với với chúng tôi không?

 

Óc tôi bưng bưng với hàng trăm câu hỏi, ruột tôi đau như xát muối khi nghĩ tới những khổ h́nh anh phải chịu lúc cuối đời. Trong đêm lặng lẽ, nước mắt tôi tuôn ra, chảy ngược xuống ván, ướt đẫm hai bên tóc mai. Và tôi thường thiếp đi với bản án tử h́nh úp trên ngực…

 

***

 

Sau khi tôi nộp bản án tử h́nh lên Sở Ngoại Vụ, hồ sơ được Mỹ chấp thuận nhanh chóng và gia đ́nh tôi được vào danh sách H.O. 14.

 

Nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản đâu có để chúng tôi ra đi một cách dễ dàng! Ngày tôi đi lănh hộ chiếu, một nhân viên Sở Ngoại Vụ cau có nói, “Nhà nước Xă Hội Chủ Nghĩa đă bỏ tiền ra đào tạo nuôi dạy các con của chị, nay các con chị lại ra đi, không phục vụ cho Đảng và nhà nước. Chị phải đền lại tất cả số tiền mà nhà nước đă bỏ ra. Chị đi về đi, khi nào trả tiền xong cho nhà trường, cầm biên lai lên đây th́ sẽ được lănh hộ chiếu.”

 

Tôi lại ra về với nỗi lo thắt thẻo ruột gan.

 

Trong tay tôi không có tới vài chục ngàn mà họ đ̣i bồi thường tiền triệu! Chạy xuôi chạy ngược hết mọi nơi, suy nghĩ nát đầu óc, cuối cùng tôi lại phải về cầu cứu mẹ ruột của tôi. Bà suy nghĩ trắng một đêm rồi quyết định cắt một phần đất vườn nhà đưa cho tôi, coi như chia gia tài, mặc dù mẹ tôi c̣n sống.

 

Tôi rớt nước mắt v́ thương mẹ và tủi thân ḿnh. Từ nhỏ cha mẹ nuôi tôi ăn học, lớn lên làm cô giáo lương bổng ít oi, lấy chồng quân nhân, “tiền lính, tính liền” nên tôi chưa bao giờ có cơ hội báo hiếu cha mẹ.

 

Rồi cuộc đổi đời làm tôi góa bụa, một nách sáu con thơ, sống được tới giờ cũng nhờ cha mẹ nhịn ăn mà bao bọc. Nay ba tôi đă khuất, các con tôi đă lớn, vậy mà lúc ngặt nghèo cũng lại là mẹ già phải hy sinh.

 

Tôi vừa khóc vừa rao bán phần đất mẹ cho. Người ta biết tôi cần tiền nên ép giá, chỉ trả hơn một cây vàng. Tôi đem đền trường học gần hết, phần c̣n lại không đủ để đi xe lên xuống Sài G̣n phỏng vấn và khám sức khỏe nên tôi lại phải mượn em trai tôi.

 

Rồi cái ngày mong đợi cũng tới. Ngày 20 tháng Mười Một, 1992, chúng tôi ra phi trường với một cái va li duy nhất chứa hành lư của cả gia đ́nh sáu người. Mỗi đứa con tôi chỉ có một bộ quần áo trên người và một bộ đem theo, chỉ có tôi là được sắm một cái áo lạnh c̣n lại th́ đành tới đâu hay tới đó.

 

Tôi ôm trên tay tài sản quư nhất, đó là cái bao thư lớn đựng di ảnh của chồng tôi, một vài tấm h́nh thời chúng tôi yêu nhau, và bản án tử h́nh.

 

Máy bay cất cánh, tôi nh́n qua cửa sổ thấy Sài G̣n thu nhỏ dần mà nghẹn ngào. Cuối cùng, các con tôi đă thoát ra khỏi cái ngục tù bao la của nhà cầm quyền Việt Nam. Lần đầu tiên từ sau tháng Tư, 1975, tôi cảm thấy b́nh an.

 

Anh ơi, em đă lo được cho các con như lời anh dặn ḍ lần cuối. Cái chết đau đớn của anh và nước mắt, mồ hôi của em đă mở đường cho các con đi đến một tương lai tươi sáng. Anh đang mỉm cười, phải không anh?

 

 

Khôi An 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính