Những trại tù “Cải Tạo” đă in dấu chân tôi

 

- PHẦN 3 -

 

Huy Vũ

 

 

Trên đường ra quận lỵ Tri Tôn để đón xe đi trại cải tạo khác, toán cải tạo của tôi đă đi ngang qua một ngôi chợ chồm hổm, thuộc ấp Cây Me. Vừa ra khỏi ngôi chợ một đoạn ngắn, tôi thấy một thiếu phụ hấp tấp chạy theo, khi bắt kịp tôi, bà ta chặn tôi lại, rồi dúi cho tôi một gói lá chuối. Tôi chưa kịp nhận ra bà ta là ai, và cũng chưa kịp ngỏ lời cám ơn th́ bà ta đă vội vă bỏ đi; v́ e-ngại bị cán bộ phát giác và c̣n có thể bị ghép vào tội vi phạm nội qui v́ liên hệ bất hợp pháp với dân chúng, nên tôi không dám chạy theo để cám ơn mà chỉ nh́n theo bóng dáng của người thiếu phụ phúc hậu ấy khuất dần vào đám người đông đảo trong ḷng chợ. Một lát sau tôi mới nhớ được người phụ nữ hảo tâm ấy trước năm 1975 là Thư Kư của Ủy Ban Hành Chánh một xă thuộc quận Tri Tôn. Có lẽ bà ta đă gặp tôi nhiều lần trước năm 1975 khi tôi thăm viếng các xă của quận Tri Tôn, hay những lần mà bà ta tham dự những khóa huấn luyện nghiệp vụ do Ṭa Hành Chánh tỉnh tổ chức tại thị xă Châu đốc mà tôi là một trong số giảng viên. Măi khi ra tới băi đón xe, tôi mới âm thầm và kín đáo mở gói quà ra coi. Trong đó chỉ vỏn vẹn có vài ba miếng tàu hũ và mấy con cá khô thôi, song tôi cảm động đến nỗi dưng dưng nước mắt. Tính từ lúc nhận được gói quà mộc mạc ấy (1978) cho tới lúc ngồi viết những ḍng chữ này (2019) đă 41 năm trôi qua, nhưng dường như những miếng tàu hũ và mấy con khô cá ấy vẫn c̣n nguyên vẹn trong ḷng tôi. Sau khoảng một tiếng đồng hồ chờ đợi, một đoàn xe hàng tiến vào băi đậu để đón và đưa chúng tôi đi về một nơi vô định nào đó.

 

 

- VƯỜN ĐÀO CAI LẬY.

 

Đoàn xe chở tù cải tạo chúng tôi từ Tri Tôn chạy hướng về Ngă Ba Lộ Tẻ, rồi ngoẹo mặt chạy qua thị xă Long Xuyên, qua Bắc Vàm Cống, rồi Bắc Mỹ Thuận. Khi qua hai cái Bắc này, mấy em nhỏ và mấy bà bán bánh kẹo và trái cây dong đă chạy theo để thảy lên đoàn xe chở anh em cải tạo chúng tôi những chùm bánh kẹo hay trái cây, có người thẩy nguyên cả rổ hàng của họ nữa.  Sau khi qua Bắc Mỹ Thuận đoàn xe tiếp tục chạy về hướng Bắc trên Quốc Lộ IV và khi đến quận lỵ Cai Lậy mới ngoẹo trái chạy về hướng Mộc Hóa.  Chạy được trên dưới nửa đoạn đường Cai Lây – Mộc Hóa th́ đoàn xe ngoẹo trái tiến vào một trại cải tạo nằm bên lề trái của con đường có tên là “Trại Cải Tạo Vườn Đào”.

 

Chính Ủy hay là Thủ Trưởng của trại cải tạo Vườn Đào là một tên Thiếu Tá khét tiếng là thâm hiểm, Hai Thâu. Những ngày đầu nhập trại này, cải tạo viên lại một lần nữa được các cán bộ của trại cho ôn lại hầu hết những bài học đă được học trong những trại cải tạo trước đây. Trong suốt thời gian bị giam giữ ở Vườn Đào cải tạo viên hầu như không phải đi lao động khổ sai như ở Cơi Năm, Kinh Tám Ngàn và Kinh Mười Ngàn, mà chỉ làm các công việc tạp dịch quanh doanh trại. Một tháng đôi ba lần tù cải tạo được lôi lên hội trường để “xỉ vả và mắng chửi” về cái tội “làm tay sai cho đế quốc Mỹ” đă được Đảng và Nhà Nước khoan hồng song vẫn “ngoan cố không chịu học tập cải tạo tốt”.  Trong khi bị giam giữ tại đây, cải tạo viên đă có một thời gian dài phải ăn bo-bo thay gạo. Dường như dạ dày của con người không mạnh bằng dạ dày của lợn heo, nên không thể tiêu hóa được lọai thực phẩm này, khi chúng c̣n nguyên hạt dù đă nấu chín. Trong ao nuôi cá tra dùng làm nơi đại tiện cho tù cải tạo, dường như loại cá này cũng không mấy yêu thích loại phân người có chứa hạt bo-bo nữa, nên trên mặt ao một lớp khá dầy bo đă được nấu chín phủ kín cả mặt ao.  Trại cải tạo Vườn Đào có một nhà kỷ luật, gọi là NHÀ SẮT, được thiết lập trên một mô đất lớn nổi lên như một ḥn đảo nhỏ giữa một cái ao vuông. Sở dĩ gọi là Nhà Sắt có lẽ là v́ mái được lợp bằng tôn và vách được đan kết bằng nhiều lớp kẽm gai đan kết vào nhau dầy đến nỗi con chuột cống cũng khó ḷng chui qua; Nhà sắt được nối với trại tù bên ngoài bằng một chiếc cửa nhỏ và một cây cầu khỉ lắt lẻo. Trong ḷng Nhà Sắt c̣n có một dẫy cùm dài nữa, nơi đây được dùng để giam giữ những tù cải tạo nào vi phạm nội qui của trại.

 

Ngoài nhà sắt lại còn có một số thùng sắt chứa quân dụng do quân đội Mỹ để lại (US Army Containers) được gọi là conex đặt gần các trạm gác phía sau trại để đặc biệt giam giữ những tên tù cải tạo ngoan cố. Một cải tạo viên bị nhốt vào nhà sắt hay bị cùm trong nhà này, ban ngày có thể phải hứng chịu cái nóng như thiêu như đốt và ban đêm có thể phải chịu lạnh giá thấu xương, song c̣n có chút ít hy vọng một ngày nào đó được ra khỏi nhà sắt để gặp lại bạn bè là các tù cải tạo khác và về sum họp với gia đ́nh. C̣n cải tạo viên nào bị đưa từ Nhà Sắt ra nhốt vào thùng sắt conex th́ sớm hay muộn ǵ cũng được Hai Thâu bằng một phương cách nào đó sẽ cho “tiêu diêu miền cực lạc”. Điển h́nh trong số này là Nguyễn Đức Xích, nguyên Thiếu Tá Tỉnh Trưởng Gia Định dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, và Quách Dược Thanh, nguyên giảng viên trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.

 

-    GIA TRUNG PLEIKU.

 

Vào đầu năm 1979, dường như Đảng và Nhà Nước muốn cho quân đội của họ được rảnh tay trong việc xâm lăng Cambốt cũng như trong việc chống Trung Quốc xâm lăng Việt Nam, nên đă cho lệnh chuyển giao tất cả tù binh cải tạo đang do Bộ Quốc Pḥng quản lư sang cho Bộ Nội Vụ. Vào dịp này tù cải tạo của trại Vườn Đào được chia thành hai nhóm. Nhóm I chuyển giao trước, trong đó có kẻ viết bài này được gọi tập trung trong sân trại cùng với đồ tế nhuyễn của riêng tây, vào một buổi sáng, nếu tôi nhớ không lầm, là vào tháng 04/79. Sau khi gọi tên từng người một ([1]) theo một danh sách đă lập sẵn, bước ra sắp hàng đôi, rồi cứ hai người được c̣ng chung với nhau bằng một cây c̣ng số 8.  Sau đó từng cặp lần lượt dồn lên xe có bộ đội mang súng hộ tống. Sau đó đoàn xe ra khỏi trại, chạy về hướng Cai Lậy.

 

Cũng như tất cả những lần di chuyển trước đây, tù cải tạo không bao giờ đước biết trước là sẽ đi về đâu cả; khi tới Cai Lậy, đoàn xe ngoẹo trái, hướng về thành phố mang tên lăo Hồ. Sau khi chạy ṿng qua ngọai vi thành phố này, đoàn xe nhập vào Quốc Lộ I, qua Phan Thiết, Phan Rang, Tuy Ḥa, Nha Trang, Đèo Cả, Đèo Cù Mông, rồi khi tới Diêu Tŕ đoàn xe dời Quốc Lộ I đi về hướng Qui Nhơn – Pleiku. Vào buổi sáng ngày thứ ba, kể từ ngày dời Vườn Đào, đoàn xe chỉ c̣n cách thị xă Pleiku khoảng trên dưới 20 cây số nữa, th́ rẽ vào một con lộ đất đỏ xuyên qua một khu núi đồi trùng điệp, để đi vào một doanh trại có công an canh gác và cũng có rất nhiều người mặc đồng phục mầu xám nhạt nữa. Cho tới khi đoàn xe vào hẳn trong sân trại, chúng tôi mới được biết đó là trại cải tạo K3 Gia Trung. Vài ba tháng sau, khi một vài người trong nhóm được thăm nuôi, chúng tôi mới được tin nhóm c̣n lại được đưa đi Long Khánh và Trại Vườn Đào đă đóng cửa.

 

Trại Cải Tạo Gia Trung là một trong những trại tù chính quy khá lớn chiếm hàng chục ki-lô-mét vuông, và được chia thành 6 K, từ K1 tới K6, và hàng chục ngàn tù h́nh sự và tù cải tạo, trực thuộc Bộ Nội Vụ, do ngành công an chuyên nghiệp coi tù, nổi tiếng là ác ôn, quản lư. Trong số tù nhân đă ở đây từ trước có rất nhiều người thuộc nhóm Phục Quốc Vinh Sơn Sài G̣n, và rất nhiều vị nguyên trước năm 1975 là nhà văn, nhà báo, giáo sư đại học và viên chức cao cấp của Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Trong buổi học tập đầu tiên về nội quy của trại, một tên Thượng Sĩ Công An nhăi con đă “đánh phủ đầu” chúng tôi bằng những lời lẽ hăm dọa và khóac lác rằng:

Tất cả các chiến sĩ công an trong trại này đều đă được học về nghiệp vụ chuyên môn nhiều năm liền, đặc biệt về môn tâm lư học, nên có tŕnh độ hiểu biết tương đương với những người đă tốt nghiệp bậc đại học. Dó đó các anh (tù cải tạo) không thể làm bất cứ điều ǵ qua mặt chúng tôi được cả. Chỉ cần nh́n thoáng qua thôi, là chúng tôi đă biết các anh muốn ǵ rồi....”

 

Tất cả tù h́nh sự cũng như tù cải tạo trong trại đều phải mặc đồng phục mầu xám nhạt do Nhà Nước cấp phát. Phía trước và phía sau áo và quần đều đóng con dấu GT (Gia Trung) khá lớn đen như mơm chó. V́ quản lư tù theo phương thức chính quy, nên hàng ngày cải tạo viên được điểm danh điểm số rất nhiều lần: khi vừa thức dậy; trước giờ xuất trại đi lao động, trong khi đang lao động; khi trở về trại, trước khi vào pḥng giam ngủ nghỉ, đôi khi c̣n bị đánh thức vào lúc nửa đêm để kiểm soát đột xuất nữa. Mỗi khi một đội (khoảng 40 tù nhân) xuất trại lao động là có một cán bộ quản giáo súng ngắn và hai cán bộ quản chế súng dài đi theo để kiểm soát và đốc thúc.”  Một điều nên biết trại Gia Trung đă được Bộ Nôi Vụ tuyên dương là một trại tù gương mẫu trên toàn quốc rất nhiều lần; không cần phải nói gi nhiều về trại này, mà chỉ cần biết như thế là đủ hiểu rằng trại này đă ḱm kẹp tù h́nh sự và tù cải tạo khủng khiếp, dă man, tàn bạo, khốc liệt đến mức độ nào.  Có lẽ không có một người Việt Nam nào mà không biết rằng: Một trại tù càng được khen thưởng nhiều bao nhiêu, th́ tù nhân trong trai đó lại càng khốn nạn bấy nhiêu. Một trại cải tạo càng được tuyên dương công trạng nhiều bao nhiêu, th́ cải tạo viên trong trại ấy đă chết đói v́ thiếu thực phẩm, chết bịnh v́ thiếu thuốc men, chết v́ phải lao động khổ sai kiệt sức, chết tức tưởi v́ bị đánh đập tàn nhẫn, càng nhiều bấy nhiêu.

 

Sau khi học nội quy, nhóm tù cải tạo từ Vườn Đào chuyển ra được “nhai lại” những bài học về đường lối và chính sách của Đảng Cộng Sản và của Nhà Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.  Trong những ngày đầu ở trại này, có lẽ v́ muốn nhóm tù cải tạo chúng tôi có ấn tượng “đẹp” về Bộ Nội Vụ, nên trại đă cho chúng tôi ăn tương đối no với cơm không độn. Song rất tiếc thời kỳ “trăng mật” này chẳng kéo dài được lâu, chỉ ít ngày sau, khi bắt đầu đi lao động, là khẩu phần ăn hàng ngày bắt đầu giảm dần. Buổi sáng, trước khi lao động, mỗi tù nhân được ăn lưng chén khoai ḿ-khô-hẩm hầm, họac thay thế bằng hai củ nhỏ hay một củ vừa phải khoai lang, đôi khi lại đổi thành hai khúc nhỏ hay một khúc vừa phải khoai ḿ. Hai bữa cơm hàng ngày đều độn khoai ḿ tươi hay khô với gạo hẩm theo tỷ lệ 1/1 hay 2/1. Dù tỷ lệ độn khá cao như thế, nhưng chúng tôi cũng không bao giờ được ăn no cả.

 

Khi c̣n ở trong những trại cải tạo ở miền Tây Nam Bộ do bộ đội trông coi, chúng tôi vừa được gia đ́nh tiếp tế, lại vừa được đi cải thiện tự do kiếm rau cỏ, bắt cá, bắt cua, bắt rắn, bắt chuột, v.v... nên không đến nỗi đói.  Khi bị đưa ra miền Trung, vùng đất cầy lên sỏi đá, phần v́ gia đ́nh thanh bạch, phần v́ đường sá xa xôi, phần v́ phương tiện di chuyển thiếu thôn, nên những cải tạo viên từ Vườn Đào ra Gia Trung, rất ít người được gia đ́nh tiếp tế thăm nuôi, v́ thế hầu hết chúng tôi chỉ trông cậy vào phần cơm nhỏ bé do trại cấp phát hàng ngày, trong khi lại phải lao đông nặng nhọc, nên người nào người ấy ốm tong ốm teo như que củi. Sau giờ lao động, cải tạo viên đươc phép cởi quần áo lội xuống suối tắm, chúng tôi nh́n thân h́nh tiều tụy của nhau mà thương hại cho nhau, v́ chỉ c̣n da bọc xương, trông giống như những bộ xương cách trí biết đi.

 

Trong khi lao động nếu thấy rau cỏ hay côn trùng họăc thứ ǵ có thể giúp cho đỡ đói là chúng tôi ăn sống nuốt tươi liền tại chỗ cho sốt dẻo, hoạc giấu giếm để mang về trại ăn vào lúc thuận tiện. Khi ăn khoai lang điểm tâm hay trừ bữa, hầu như không một ai trong chúng tôi “nỡ ḷng nào” hay “đang tâm” bỏ vỏ cả. Nếu một tù nhân nào đó “xài sang” bỏ vỏ, th́ những tù nhân kế cận, chụp liền nhét vào miệng. Riêng tôi, một hôm lao động, làm công tác vệ sinh quanh khu nhà của cán bộ cư ngụ, tôi đă “cướp cơm chó”. 

 

Hôm ấy là một buổi sáng mùa thu khá đẹp trời, tôi đang quét sân sau của khu nhà của cán bộ cư ngụ, t́nh cờ tôi thấy một con chó mực, do cán bộ trại nuôi không phải là để giữ nhà mà là để giết thịt liên hoan vào một dịp lễ lạc nào đó sắp tới, đang lặng lẽ và ể oải gặm môt chiếc bánh ḿ luộc ([2]) ở đầu hồi. Khi thấy tôi với chiếc chổi chà trong tay tới gần, khiến con chó hốt hoảng bỏ đi không kịp cắp theo chiếc bánh ḿ luộc mà nó đă ăn gần hết phân nửa. Tiếp tục quét đến sát miếng bánh ḿ, nh́n trước, nh́n sau dường như không cán bộ quản chế hay quản giáo nào để ư đến tôi cả, tôi cúi xuống lượm miếng bánh ḿ như lượm rác thay vi bỏ vào đống rác tôi lặng lẽ bỏ vào túi áo. Chờ tới lúc nghỉ trưa, tôi mới dám móc ra, ngắt bỏ một lớp mỏng những chỗ c̣n in dấu răng chó lởm chởm. Không phải v́ tôi lo sợ miếng bánh ḿ bị nhiễm vi khuẩn chó điên, mà v́ e-ngại là con chó ấy, rất có thể là buổi sáng hôm đó đă điểm tâm bằng một băi phân c̣n nóng hổi của một anh chàng cán bộ nào đó. Chó có bao giờ súc miệng và xỉa răng sau khi ăn đâu, nên tôi nghi là những kẽ răng của nó c̣n dính ít nhiều phân người và từ kẽ răng đă lây lan sang mẩu bánh ḿ. Sau khi phủi bớt phần đất cát bám quanh miếng bánh ḿ, tôi t́m đến anh bạn tù phụ trách việc nấu nước cho đội, nhờ nướng lại giùm, rồi mới dám ăn; ngon ơi là ngon! Cho tới bây giờ đă hàng chục năm sống trên đất Mỹ, mà dường như tôi chưa bao giờ t́m lại được cái hương vị thơm ngon độc đáo của mẩu bánh ḿ nướng, mà tôi đă cướp đoạt của chó, ở trại cải tạo Gia Trung vào ngày hôm ấy. 

 

Trong thời gian tù đầy và lao động khổ sai ở các trại cải tạo, tuy nhục nhă, kham khổ, và đói khó tột cùng, song cũng đă cho tôi cơ hội t́m được những người bạn rất tốt, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn giữ được tư cách.  Một trong những người ấy là đại úy Nguyễn Tấn Tố; trước 4/75, anh làm ở Pḥng Nhân Dân Tự Vệ Tỉnh, c̣n tôi làm ở Trung Tâm Điều Hợp B́nh Định và Phát Triển Tỉnh. Chúng tôi chỉ gặp nhau trong công việc thường ngày, và chào hỏi nhau khi gặp gỡ thế thôi. Song khi vào tù tại Trung Tâm Cải Huấn Châu Đốc, th́ tôi và anh vào cùng một ngày, rồi sau đó chuyển hết từ trại này đến trại khác, chúng tôi lại có dịp đi chung với nhau. Khi ra đến trại Gia Trung hầu hết chúng tôi đều đói khó như nhau, song gia đ́nh anh có điều kiện thăm nuôi nhiều hơn gia đ́nh tôi, và cứ mỗi lần anh được thăm nuôi là anh lại “cả gan” chia xẻ cho tôi những phần quà khá lớn, dù anh biết chắc rằng phần chia xẻ đó tôi không thể trả lại cho anh dù chỉ là một phần nhỏ                                           

 

*

*        *

 

Trong thời gian ở tù, tôi cũng có dịp nh́n một số bạn bè đă lặng lẽ ra đi về cơi vĩnh hằng. Nh́n người rồi nghĩ đến ta, tôi tin rằng sớm hay muộn ǵ th́ cũng đến lượt ḿnh thôi, song có lẽ tôi chưa đến ngày tận số, nên vào ngày 12/02/1980 tôi nhận được GIẤY RA TRẠI. Tôi mừng vô hạn, như người đă chết được sống lại; cùng với mấy người bạn cầm GIẤY RA TRẠI trong tay, chúng tôi lặng lẽ bước ra khỏi cổng trại, rồi từ đó vừa đi vừa chạy như bị ma đuổi, và không một ai trong chúng tôi dám ngoái cổ nh́n lại trại Gia Trung một lần cuối cùng nữa.

 

Tính từ ngày bước chân vào cổng Trung Tâm Cải Huấn Châu Đốc (09/05/75) cho đến lúc buớc chân ra khỏi cổng Trại Cải Tạo Gia Trung (12/02/80) tôi đă phải “nằm gai nếm mật” tất cả là 1.773 ngày đêm trong 6 Trại CẢI TẠO để trả cho cái tội “ngụy quân làm tay sai cho đế quốc Mỹ”.  Song dường như món nợ TÙ TỘI của tôi đối với Đảng Cộng Sản như thế vẫn chưa trả xong, nên sau đó tôi c̣n bị giam giữ ở trại tù Tà Niên Rạch Giá vào năm 1981, và Duyên Hải Vũng Tầu vào năm 1985, thêm nhiều ngày nữa, về tội “chạy ra nước ngoài để ôm chân đế quốc Mỹ”. Trong ṿng hơn mười năm trời kể từ tháng 04/75, tôi đă có gần sáu năm trong tù và qua tất cả 8 nhà tù hay trại cải tạo, trải dài từ miền Nam ra tới miền Trung. Cai tù của những trại tù này đối xử với tù nhân tuy có khác nhau đôi chút, nhưng tựu chung đều man rợ như nhau. 

 

Để có một cái nh́n trung thực về chính sách đối xử vô cùng thâm độc cuả đảng Cộng Sản đối với tù nhân những người đă tham gia ít nhiều vào việc chống lại sự xâm lăng miền Nam cuả chúng, tôi xin được viện dẫn nơi đây lời tuyên bố hằn học cuả một Trung Ương Ủy Viên đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Nguyễn Hộ, trong đại hội mừng chiến thắng tại Saig̣n vào ngày 17-05-1975: “Bọn ngụy, nhà cửa, tiền tài, ruộng vườn của chúng ta tịch thâu; con của chúng ta sai; vợ chúng nó ta sài; chồng của chúng nó ta đày đi tù rục xương nơi rừng thiêng nước độc để chúng trả nợ máu cho nhân dân.

 

Sau hết, để thấy rơ được đảng Cộng Sản Việt Nam đă quản lư các traị tù của họ man rợ như thế nào hầu giết chết những người này trong âm thầm lặng lẽ, tôi xin mượn lời của ông Nguyễn Văn Tạng ([3]), một đảng viên công sản, đă ở tù 15 năm dưới thời thực dân Pháp, 8 năm dưới thời ông Ngô Đ́nh Diệm, 6 năm dưới thời ông Nguyễn Văn Thiệu, và nhiều năm trong các nhà tù của Cộng Sản. Trong thời bị giam giữ tại nhà tù Hanội sau năm 1975, ông ta đă phát biểu như sau: “Tôi ước mơ không phải là được tha về, cũng không phải là được thăm gặp gia đ́nh, mà là được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước đây.”

 

Huy Vũ

(huyvu1525@hotmail.com)

 

 

Khóc Bạn chết trong trại tù “Cải Tạo”

Gia Trung

 

 

Hôm rồi c̣n cùng anh
Nhổ cỏ nương khoai ḿ
Anh th́ thầm hỏi nhỏ
Vũ ơi bao giờ ta được về?

 

Tôi nh́n anh ái ngại
Rồi đưa mắt phía trời xa
Chân trời cải tạo bao la
Ngày về vô định biết là có không?

 

Tối về anh kêu mệt
Rồi bệnh xá đưa anh
Chiếc giừờng bên cạnh lạnh tanh
Đêm đêm như có tiếng anh th́ thầm

 

Vài ba bữa sau thôi
Được tin anh chết rồi
Bạn bè thương tiếc bùi ngùi
Âm thầm nhỏ lệ tiễn người ra đi

 

Rồi một hôm lao động
Kế bên tù nghĩa trang

Tranh thủ giờ rảnh rang
Tôi xin tên cán bộ
Vào thăm mộ của anh

 

Ngậm ngùi tôi bước chân đi
Viếng anh mà chẳng có ǵ tặng anh

Tôi bèn t́m kiếm loanh quanh
Bông rừng vài đóa lá xanh vài cành
Bước vào nghĩa địa lạnh tanh
Quạnh hiu hoang vắng mộ anh nơi nào?

 

Tôi t́m ngôi mộ mới
Song cũng thật khó khăn
V́ không phải ḿnh anh
Mà c̣n nhiều tù khác
Cũng mới chết như anh
Cỏ mọc lấm chấm xanh
Và nhiều ngôi mộ cũ
Cỏ mọc đă xanh ŕ

 

À mộ anh ở đây
Tấm bia cây nguệch ngoạc
   Lê Văn Cửu chết ngày…

 

Đến bên ngôi mộ cúi đầu
Chấp tay trước ngực nguyện cầu cho anh


Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên Trời
Kính dâng lên Chúa một lời:
Rằng anh Lê Cửu là người hiền lương
Xin Chúa hăy nhủ ḷng thương
Mở cổng Thiên Đường để đón anh vô.

 

Huy Vũ
Trại Cải Tạo Gia Trung Pleiku 1979

(huyvu1525@hotmail.com)

 

 

Trong tù nh Em

 

Đêm sao đêm cứ tối hoài

Anh đi cải tạo đă ngoài bốn năm

Ngoài trời gió lạnh căm căm

Trong lán cải tạo anh nằm nhớ em

 

Nhớ em thao thức suốt đêm

Nhớ em chồng chất triền miên tháng ngày

Nhớ em như tỉnh như say

Bâng khuâng day dứt đắng cay bồi hồi

 

Nhớ giọng nói nhớ tiếng cười

Nhớ từng cử chỉ đứng ngồi của em

Nhớ làn hơi thở ấm êm

Nhớ hương da tóc đă quen trong đời

 

Nhớ em hết đứng lại ngồi

Ra ngơ vào ngẩn nh́n trời ngó mây

Nhớ em chồng chất ngất ngây

Như chim nhớ núi như mây nhớ rừng

 

Nhớ khoé mắt nhớ môi hồng

Nhớ mái tóc xơa phiêu bồng bờ vai

Nhớ chiều hôm nhớ sớm mai

Nhớ cao hơn núi nhớ dài hơn sông

 

Em ơi đong nước biển Đông.

Biển bao nhiêu nước đấy ḷng nhớ em!

 

 

Huy Vũ

Trại Tù Cải Tạo Gia Trung Pleiku 1979

(huyvu1525@hotmail.com)



[1] Một trong số những người được gọi tên ra đi, nhưng không có mặt là anh Quách Dược Thanh, v́ anh vừa mới chết vào buổi sáng hôm ấy.

[2] Trại được chính phủ cấp phát bột ḿ cho tù nhân ăn thay gaọ, nhưng v́ không có ḷ để nướng, nên đội nhà bếp đem bột ḿ ra ngào, ngắt ra từng miếng nhỏ, nắn lại thành chiếc bánh tṛn và dẹt bằng bàn tay người lớn, rồi đem luộc.

[3] Lời của ông Tang được Tổng Thống Richard Nixon đề cập trong cuốn NO MORE VIETNAM, trang 207

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính