Những trại tù “Cải Tạo” đă in dấu chân tôi

 

- PHẦN 2 -

 

Huy Vũ

 

 

Cán bộ giảng huấn chính và cao cấp nhất của trại cải tạo Trà Nóc lúc bấy giờ là tên Ba Song, Trung Tá Chính Ủy. Cũng như hầu hết những tên chính ủy các cấp trong quân đội cộng sản, Ba Song ăn nói rất lưu loát, song căn bản vẫn chỉ là một tên ít học nhưng rất bẻm mép; mỗi khi thuyết tŕnh trên bục giảng th́ hắn thường thường thao thao bất tuyệt và nếu không để ư người ta khó có thể nhận ra tŕnh độ học vấn thấp kém của hắn. Nhưng cái kim dù cố giấu giếm rất kỹ trong bọc vải đi nữa, song lâu ngày cũng ḷi ra, v́ thế Ba Song dù khôn khéo đến đâu đi nữa cũng không thể giấu giếm măi cái dốt của hắn được. Trong thời gian giảng huấn ở trại cải tạo Trà Nóc, một hôm hắn ta cao hứng khoác lác về sự tài giỏi của Bộ Đội Tên Lửa Cộng Sản Bắc Việt:

 

 “Cứ mười tên lửa của Xô-viết phóng đi, bởi chính các chuyên gia Liên-Xô, cũng chỉ hạ tối đa được 5 hay 6 phi cơ phản lực là cùng. Nhưng khi những tên lửa này viện trợ cho Trung Quốc, các chuyên gia của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc đă sửa đổi lại đôi chút trong bộ phận cơ hành, kiến cho mười tên lửa phóng đi hạ được từ 7 đến 8 phi cơ của địch. Đến khi những tên lửa này viện trợ cho Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Thiếu Tướng Trần Đại Nghĩa lại một lần nữa sửa đổi lại, khiến cho 10 tên lửa phóng đi không phải chỉ hạ 10 mà là 11 máy bay phản lực của Mỹ lận. Sở dĩ hạ được tới 11 cái là v́ trong số 10 tên lửa có một cái hạ được 2 máy bay phản lực của Mỹ cùng một lúc. Nhờ vậy mà hễ máy bay của Mỹ xâm nhập vào vùng trời của ta là bị bắn hạ như sung.”

 

Cả hội trường có tới gần 500 sĩ quan đều ngơ ngác và dường như không một ai có thể tin được những lời khoác lác của ông ta. Có lẽ cũng v́ biết như thế, nên ông bèn giải thích thêm rằng:

 

“Như các anh đă biết trong không gian thường có những cái túi chân không rất lớn, khi một chiếc phi cơ bay lọt vào túi chân không này, v́ là không có không khí nên chiếc phi cơ bị rớt cho tới khi nào gặp lớp không khí ỡ đáy túi mới ngưng lại và mới bay b́nh thường trở lại được. Sở dĩ một mũi tên lửa của ta có thể hạ được hai máy bay là v́ mũi tên lửa ấy được bộ đội tên lửa của ta tính toán rất kỹ lưỡng để phóng ra vào lúc hai phản lực cơ của đế quốc Mỹ bay vào vị thế trên cùng một đường thẳng đứng, nhưng khác nhau ở độ cao. Ta bắn một tên lửa vào đường thẳng đứng này và cho nổ ở vị trí giữa hai chiếc phản lực. Khi tên lửa này nổ tạo ra một túi chân không lớn bao chùm cả hai chiếc phi cơ, khiến những tên giặc lái ngay sau khi nghe thấy tiếng nổ kinh hoàng lại thấy phi cơ của ḿnh rớt nữa, nên tưởng là phi cơ của họ đă bị trúng đạn rồi, vội vàng bấm nút để ghế ngồi có gắn dù bung ra khỏi phi cơ, v́ thế là cả hai chiếc phản lực cơ không người lái rơi xuống đất c̣n nguyên vẹn; bộ đội ta liền kéo về phi trường để sử dụng lại.”

 

Đám tù nhân chúng tôi cười thích thú và vỗ tay vang dội, khiến cho Ba Song đứng trên bục giảng cũng hớn hở ra mặt; thực ra chúng tôi cười để “tán thưởng” cái tài nói phét của hắn ta mà thôi. Phần đầu những lời viện dẫn của hắn về túi chân không trong không gian có phần nào hợp lư, song phần sau nói về việc tính toán và chở đợi cho tới lúc hai chiếc phản lực bay lượn trong lúc oanh tạc cùng nằm trên một đường thẳng đứng là điểu không thể thực hiện được.

 

Các cán cán bộ cấp dưới của Ba Song cũng dốt nát và khoác lác không kém. Họ ca tụng không quân của cộng sản Bắc Việt một cách hết sức ngu dốt không thế nào tưởng tượng được. Họ kiêu hănh khoe khoang với chúng tôi rằng: “Bộ đội không quân của chúng tôi lái những chiếc máy bay phản lực MIG tối tân nhất của Liên-Xô bay lẫn vào những đám mây mù dầy đặc, rồi tắt máy để động cơ không c̣n phát tiếng nổ nữa, nằm yên lặng phục kích máy bay của Mỹ. Khi thấy máy bay Mỹ bay ngang qua là mở máy phóng ra bắn hạ liền. Với chiến thuật phục kích trên mây này không quân của ta đă bắn hạ một cách rất dễ dàng không biết cơ man nào máy bay của đế quốc Mỹ nữa.”

 

Trong thời gian học tập cải tạo, các cán bộ chính trị của trại này đă cố gắng nhồi nhét vào đầu chúng tôi về đường lối của Đảng và Nhà Nước cùng một mớ lư thuyết và giáo điều của chủ nghĩa cộng sản để cuối cùng thuyết phục hay bắt buộc chúng tôi phải đi đến kết luận rằng: Chúng tôi là những tên phản quốc đáng bị xử tử, song nhờ chính sách khoan hồng của bác Hồ và của đảng CSVN, chúng tôi được tha chết.

 

 Tôi không rơ những tên lư thuyết gia cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam như Trường Chính, Vơ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng v.v.. có khả năng thuyết phục người khác đến mức nào? chứ cái hạng chính ủy cấp Trung Đoàn như Ba Song ở trại cải tạo Trà Nóc thật sự chẳng thuyết phục được ai trong đám tù cải tạo chúng tôi cả. Trên bục giảng, họ nói như những con vẹt, những ǵ mà ông Hồ và đảng Cộng Sản đă nhồi nhét vào đầu họ, toàn những lời lẽ ngu dốt không thể lọt vào lỗ tai được, và nếu nó có lọt được vào lỗ tai này th́ nó sẽ chui ra bằng lỗ tai kia ngay thôi.

 

Có một điều đặc biệt là các cán bộ chính trị của cộng sản, tuy tŕnh độ học vấn và sự hiểu biết thấp kém nhưng lại rất tự tin và tự ái rất caọ. Họ luôn luôn tin rằng tất cả những ǵ mà đảng Cộng Sản hay các lănh tụ của Đảng đă dậy bảo họ đều là chân lư tuyệt đối, nên không cần phải bàn căi hay suy nghĩ ǵ nữa, cứ việc học thuộc ḷng 100%. V́ tin như thế, nên khi thuyết giảng họ thường hănh diện viện dẫn, Bác nói thế này; Đảng nói thế kia. Đồng chí Mao Trạch Đông dậy thế này; đồng chí Staline dậy thế kia, vân vân và vân vân... Đặc biệt khi diễn giảng họ cố gắng moi móc những ǵ Bác và Đảng đă dậy họ để nhồi nhét lại vào đầu các cải tạo viên chúng tôi; một khi bị chê bai là dốt nát hay sai lầm, th́ họ vô cùng tức tối, bởi v́ những lời giảng giải không phải là ư kiến hay sáng kiên riêng của họ, mà toàn là chân lư do Bác và Đảng đă vơ trang cho họ. Chê bai họ dốt nát đồng nghĩa với việc chê bai Bác và Đảng dốt nát vậy; ngồi trong lớp học tập cải tạo nghe những lời thuyết giảng ngô nghê, khoác lác, tự hào và kiêu căng của bọn cán bộ cộng sản lắm lúc cứt đái muốn lộn ngược lên đầu, song đại đa số anh em cải tạo viên chúng tôi phải cắn răng chịu đựng để sống c̣n. Một vài anh em trong chúng tôi, có lẽ v́ quá tức tối hay v́ quá hăng say, đă vạch trần những chỗ ngu dốt của chúng và những sai lầm của chủ nghĩa cộng sản, nên bị chúng đầy đọa và hành hạ cho đến chết.

 

Trại tập trung cải tạo Trà Nóc là nơi chúng tôi đón xuân Bính Th́n, và cũng là cái Tết đầu tiên của chúng tôi trong tù; tết nhất mà phải xa nhà là điều bất hạnh cho mọi người, song chúng tôi chẳng những phải xa nhà mà c̣n phải sống nhục nhă trong cảnh tù tội nữa, nên bất hạnh c̣n được nhân lên gấp bội. Để làm cho vơi đi phần nào nỗi bất hạnh vào dịp đầu xuân, đêm mồng Một, một số anh em trong các lán đă âm thầm tụ lại với nhau để hút thuốc, ăn mứt, uống nước trà, và nâng ly nước lạnh thay chén rượu nồng, mời nhau cạn chén 100% để mừng xuân và chúc tết lẫn nhau, rồi hát nho nhỏ cho nhau nghe những bài ca tâm t́nh vào đêm mồng 2 tết, lúc đầu chỉ có vài lán kế cận khu nhà bếp tụ lại với nhau hát hỏng đón xuân mà thôi, song có lẽ v́ “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nên chẳng mấy chốc các lán khác ở xa hơn cũng qui tụ lại ở khu này mỗi lúc một đông. Đêm văn nghệ ĐÓN XUÂN này, lúc đầu chỉ là loại bỏ túi, nhưng đă mau chóng leo thang thành một đêm văn nghệ tự phát đông đảo. Tuy không kèn trống ồn ào, và không đàn sáo d́u dặt, nhưng tiếng hát mộc mạc của những người “hát không hay” và cũng “không hay hát” đă cất lên trong đêm và đă thấm sâu vào tận đáy ḷng của những tù nhân xa nhà vào dịp đầu xuân. Người hát, tuy hát không hay, nhưng đã hát bằng con tim. Người nghe, cũng nghe bằng con tim. Nên cả hai đă cảm thông sâu xa với nhau, đến nỗi tự động ôm nhau nước mắt ràn rụa. Măi đến gần sáng anh em mới tản mát về lán của ḿnh. Trong đêm văn nghệ đón xuân buồn thảm ấy, ngoài những bài ca năo nuột ḷng người, chúng tôi đặc biệt c̣n được nghe một cải tạo viên đóng vai kư giả thể thao Huyền Vũ, để trực tiếp truyền thanh về một trận đá banh diễn ra trên sân cỏ. Anh ta thuyết minh trận cầu tưởng tưởng ấy, không thua kém Huyền Vũ thật là bao, người tù cải tạo đó là anh Quách Dược Thanh, giảng viên trường Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.

 

Trong thời gian học tập, Bộ Chỉ Huy của trại cải tạo Trà Nóc cũng đă tổ chức một đêm văn nghệ cho cải tạo viên; trong đêm văn nghệ này các tù cải tạo chỉ được hát những bài hát của cách mạng. Tuy không đến nỗi quá dở, nhưng nó g̣ bó, đơn điệu và nhạt nhẽo, v́ người hát không thể cảm thông được nội dung bài ca, th́ làm sao có thể truyền cảm cho người nghe được. Đến khoảng gần 10 giờ đêm, Ba Song, trưởng trại bước lên sân khấu khen ngợi tài tổ chức của cải tạo viên rồi bỗng bốc đồng cho phép cải tạo viên nào sáng tác hay phổ nhạc bài thơ nào sau ngày “giải phóng” có thể lên hát. Anh Phạm Trung Cang, (Đại Úy thuộc pḥng Tâm Lư Chiến Tiểu Khu Châu Đốc, hiện định cư tại Atlanta, Georgia) đă lên sân khấu vừa đàn vừa hát bài thơ của cụ Phan Khôi do anh phổ nhạc. Nếu tôi không quên th́ bài thơ ấy như sau:

 

 “Làm sao cũng chẳng làm sao

 Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi

 Làm chi cũng chẳng làm chi

 Dẫu có làm ǵ cũng chẳng làm sao …....”

 

 Sau nghe xong bài này, mặc dầu mới chưa tới 10 giờ đêm, Ba Song đă vội vă bước lên sân khấu tuyên bố giải tán đêm văn nghệ với lư do là cải tạo viên cần phải đi ngủ sớm để có thể học tập tốt hơn vào ngày hôm sau. Song lư do đích thực là v́ bài thơ của cụ Phan Khôi mà anh Cang phổ nhạc và hát có hàm ư thách đố đối với chính sách cải tạo của Đảng và Nhà Nước đối với các sĩ quan VNCH.

 

Trong thời gian bị giam giữ ở trại cải tạo Trà Nóc đă có một số anh em trốn trại, có người thoát được, song cũng có người bị bắt lại; một trong số những người bị bắt lại và đưa ra Ṭa Án Quân Sự Lưu Đông Quân Khu IX xét xử và bị tuyên án tử h́nh là Trung Úy Trương Văn Tến, nguyên là sĩ quan tùy viên của Đại Tá Tỉnh Trưởng An Giang, quê ở xă Vĩnh Xương quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Tất cả các cải tạo viên trong trại hôm đó đều phải tham dự phiên ṭa này. Vài giờ sau phiên xử, Trung Úy Tến được dẫn giải ra một g̣ đất cao ngoài cánh đồng phía sau trại để hành quyết; các cải tạo viên trong trại cải tạo tuy không được chứng kiến cảnh bộ đội Cộng Sản nổ súng trực tiếp vào người Trung Úy Tến, nhưng đều nghe thấy tiếng nổ của những viên đạn đă kết liễu người Trung Úy can đảm này. Hai trong số người trốn trại bị bắt là Đại Úy Nguyễn Huệ Ánh và Đại Úy Nguyễn Văn Bảo, là những người được đưa từ Trung Tâm Cải Huấn Châu Đốc đi Trà Nóc cùng một ngày với kẻ viết bài này. Đ/U Bảo bị bắt ngay sau khi vừa thoát ra khỏi hàng rào thứ nhất và bị c̣ng tay nhốt vào conex cho đến chết. C̣n Đ/U Ánh đă thóat ra được ngoài một thời gian dài, mới bị an ninh địa phương bắt giải giao lại cho trại.

 

Sau thời gian học tập về đường lối và chính sách của Đảng và Nhà Nước, tù cải tạo trại Trà Nóc được chia thành hai nhóm; nhóm I, gồm các sĩ quan thuộc các đơn vị trực diện chiến đấu với chúng như Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, các Sư Đ̣an Bộ Binh, Địa Phương Quân cùng các sĩ quan tham mưu thuộc pḥng Ba, pḥng Nh́ Quân Khu và các Tiểu Khu v.v..., nhóm II, gồm những kẻ c̣n lại, trong đó có kẻ viết bài này. Ngay sau đó, mỗi nhóm được chỉ định cư trú trong hai khu vực riêng rẽ. Khoảng một tuần sau, nhóm I được đánh thức vào lúc 2 giờ sáng để chuyển trại; ngay lúc đầu chúng tôi không rơ họ được chuyển đi đâu, vài ngày sau đó khi một số anh em trong nhóm c̣n lại được gia đ́nh thăm nuôi, chúng tôi mới biết tin họ được chuyển ra Bắc.

 

 

- U MINH HẠ

 

Ít lâu sau đó, nhóm ở lại được chia ra làm nhiều toán và được đưa đi lao động khổ sai tại các nông trường ở U Minh Hạ. Một tuần lễ trước khi ra đi, chúng tôi được lệnh là mỗi người phải lấy một tấm tôn lợp nhà bằng kẽm bị hư hỏng vào dịp nổ kho đạn, đập cho phẳng ra, rồi đóng khung lại thành một chiếc giường cá nhân để mang theo nằm. Toán ra đi đầu tiên trong đó có tôi được đưa ra bờ sông Cần Thơ rồi dồn xuống những chiếc ghe chài, sau hơn một ngày trời chạy ḷng ṿng trên các sông rạch miền Tây, đoàn ghe chài tới một khúc sông gần cửa biển. Tại đây chúng tôi lại được chuyển sang những chiếc tầu “há mồm”, sau đó đoàn tầu trực chỉ ra biển Đông. Một người trong nhóm chúng tôi thấy thế bèn thì thầm với anh em rằng: “Phen này có thể anh em ta có thể được cho đi ‘mò tôm’ dưới đáy biển Đông rồi.” Câu thì thầm tiên đoán này cũng đã làm cho nhiều anh em chúng tôi không khỏi lo lắng cho số phận đen tối đang chở đợi phía trước.

 

Nhiều tiếng đồng hồ sau, chúng tôi thấy một ḥn đảo nhỏ hiện lên ở phía trước, khi tới gần ḥn đảo này, nhiều người trong nhóm chúng tôi nhận ra đó là Ḥn Đá Bạc thuộc Cà Mâu và khi tới sát ḥn đảo này đoàn tầu chúng tôi bị đơn vị bộ đội canh giữ tại đây bắn chặn trước mũi tầu để ngăn không cho tiến vào con rạch kế bên. Đơn vị trên đảo và đơn vị trên tầu hầu như không hề có bất kỳ một phương tiện vô tuyến nào để thông tin và liên lạc với nhau. Anh bộ đội có chức vụ và quân hàm cao cấp nhất trên tầu chúng tôi, vội vàng lấy chiếc nón cối đang đội trên đầu, rồi dùng một cây sào đưa chiếc nón cối lên cao, chắc có ư muốn nói cho những người trên đảo biết rằng: “Chúng tao cũng là Việt Cộng đây”; sau đó một tên du kích trên đảo cởi quần áo lội ra gần tầu để hỏi thêm những thông tin cần thiết và sau khi đă biết tầu chúng tôi là cái giống ǵ rồi, đoàn tầu được phép tiến vào ḷng con rạch, nhưng chỉ đi sâu thêm được khoảng trên dưới 100 mét nữa th́ mắc cạn. Chúng tôi được lệnh đổ bộ cùng với đồ lề cá nhân; mực nước biển chỉ đến ngang bụng, c̣n bùn lầy ở đây th́ khá dầy, chỗ mỏng nhất cũng lên tới gần đầu gối, c̣n thường là trên đầu gối, nên khoảng cách hơn 200 mét lội vào bờ cũng làm cho một số anh em chúng tôi bở hơi tai.

 

 Chúng tôi được lệnh tạm trú qua đêm trong nhũng căn nhà lẹp xẹp của dân chúng dọc theo hai bên bờ rạch. Đây lần đầu tiên tôi được thưởng thức cảnh “muỗi kêu như sáo thổi” nhưng không có cảnh “đỉa lền như bánh canh” với đầy đủ ư nghĩa của nó. Mặt trời vừa khuất sau cḥm cây là muỗi bay ra đen ng̣m dầy đặc như một đám mây. Quơ tay một cái là có thể tóm được một nắm muỗi. Giăng mùng xong, rồi chui vào mùng, hầu như không có cách chi có thể ngăn chặn được hàng chục chị muỗi cái chui theo vào mùng đ̣i ngủ chung. Dân cư ở đây giăng mùng rất sớm; vào lúc vừa chạng vạng tối là vợ chồng con cái dắt díu nhau chui vào mùng ngủ và măi cho đến sáng bạch, khi ṿng vây của muỗi tan tác hết mới dám mở mùng chui ra, có sống trong vùng này mới thật sự hiểu được vai tṛ của muỗi trong việc nâng cao dân số trong vùng Cà Mâu như thế nào. Theo nhà văn Sơn Nam, v́ trong vùng có quá nhiều muỗi, nên vợ chồng và con cái người dân vùng Cà Mâu phải chui vào mùng rất sớm và chui ra khỏi mùng rất trể v́ lẽ đó họ có quá nhiểu thời giờ để hú hí với nhau nên con cái đầy nhà là lẽ đương nhiên.

 

Sáng hôm sau vẫn c̣n là con nước ḍng, nên đám tù nhân chúng tôi được xử dụng vào việc kéo những chiếc tầu há mồm từ miệng kinh chạy trên bùn lầy dọc theo ḷng kinh tới một một vùng đất cao và khô ráo, tạm gọi là bến tầu, để bốc rỡ dụng cụ và vật liệu. Sau đó chúng tôi được giao liên dẫn theo đường tắt lội qua các kinh rạch và những cánh đồng sậy và rừng tràm để tới một nơi gọi là Nông Trường Cơi Năm hay Năm Căn, nằm trong vùng U Minh Hạ. Nơi mà chúng tôi được lệnh dừng chân là một vùng đất hoang vu, chỉ có một bờ đất cao bề ngang khoảng ba mét chay dọc theo một con rạch nhỏ, trên bờ rạch được trồng chuối xứ, có lẽ là một vùng đất mầu mỡ nên những cây chuối xứ ở đây rất to cao và mập mạp. Sau khi nghỉ ngơi được ít phút, chúng tôi lại được lệnh để lại tất cả đồ đạc tại chỗ để đi trở về bến tầu để lấy dụng cụ nông nghiệp cùng vật liệu cất lều trại; tại bến tàu mỗi người trong chúng tôi phải đóng một cái bè chuối để chất vật liệu lên, rổi đẩy bè dọc theo ḷng kinh rạch trở về chỗ cũ.

 

Khi vừa trở về tới chỗ cũ, chưa kịp nấu cơm ăn th́ trời đă nhá nhem tối và một trận mưa thật lớn ập tới, rồi kéo dài gần như bất tận. Mỗi người trong chúng tôi tranh thủ lấy 2 tấm tôn dựng chéo vào nhau theo chiều dài thành một mái nhà nhỏ thấp và hẹp rồi chui vào ngủ. Nằm trong căn nhà tạm bợ này, tôi có cảm tưởng như nằm trong một chiếc quan tài h́nh lăng trụ chật hẹp để chuẩn bị mang đi chôn. Một cảm nghĩ chợt đến là, dường như Thương Đế cũng đă đứng về phía Cộng Sản độc ác để hành hạ anh sĩ quan quân đội VNCH; phần lớn chúng tôi phải nhịn đói và chịu lạnh lẽo cùng mưa gió và sấm sét suốt đêm hôm đó.

 

Một vài ngày sau, mỗi tổ cất xong một căn lều bằng tôn bề ngang vừa đủ kê chiếc giường dọc theo bờ đất. Sau khi đă có chỗ ăn ở chúng tôi bắt đầu được chỉ dẫn cách dùng phảng để phát quang những ruộng sậy hay cỏ dại; v́ chưa biết cách dùng phảng thành thạo nên tiêu chuẩn dành cho mỗi người vào những ngày đầu thật khó hoàn tất được, nhưng chỉ một vài ngày sau đó th́ đạt được chỉ tiêu không mấy khó khăn. Th́ giờ c̣n lại chúng tôi được phép dùng vào việc cải thiện ăn uống; nhờ trong vùng U-Minh Hạ có khá nhiều rau muống, cá, chuột, rắn v.v… nên chúng tôi không đến nỗi đói khó. Trong vùng hầu như không có nước ngọt, mà chỉ có một lọai nước mưa ḥa tan với lá tràm thối rữa, nên có mầu nâu đỏ như nước trà, không thể uống hay nấu ăn được. Dân trong vùng dùng nước mưa tích trữ trong những chum vại lớn quanh nhà, c̣n tù cải tạo chúng tôi phải hẹn và đợi đôi ba ngày mới có ghe chở nước đến bán; lúc đầu chúng tôi gọi những ghe này là ghe “bán nước”, nhưng về sau dân địa phương yêu cầu chúng tôi gọi là ghe “đổ nước”.

 

Sau thời kỳ phát quang lau, sậy và cỏ dại chúng tôi được phân công người đi nhổ mạ, kẻ đi cấy lúa, cách cấy lúa trong vùng Cà Mâu ḥan toàn không giống như các nơi khác. Trước khi cấy, nhà nông trong vùng không cần phải cầy và bừa chi cả mà chỉ việc cặm mạ thẳng vào mặt ruộng có mực nước xâm xấp và để việc cắm mạ được dễ dàng, người cấy dùng một cây nọc thọc mạnh xuống đất, và khi cây nọc “nhổ đi rồi” sẽ cho một cái “lỗ bỏ không”. Người cấy chỉ việc “dú dí” năm ba cây mạ vào cái lỗ ấy, rồi lấy tay bóp miệng lỗ lại, hoặc vơ lấy một nhúm đất quanh đấy nhét vào lỗ để giữ cho cây lúa đứng thẳng.

 

Đất trong vùng Cà Mâu khá mầu mỡ nên chỉ ít lâu sau khi cấy, từ khóm lúa lèo tèo năm ba cây mạ đă trở thành một cụm lúa con gái xanh tươi mơn mởn cao ngang ngực, rồi it ngày sau, cây lúa đă đâm bông cao vượt đầu người. Khi lúa bắt đầu chín, chúng tôi lại được phân công đi đuổi chim không cho chúng ăn lúa. Trong vùng Năm Căn có rất nhiều lọai chim khác nhau, chúng thường tập họp thành từng đàn lớn rất bạo dạn; ḥ hét, đánh trống, gơ mơ xa xa, chúng coi như pha. Phải tới thật sát, miệng la tay múa chúng mới chịu bay đi và chỉ bay đi một quăng ngắn là lại xà xuống ăn tiếp. Khi lúa chín, chúng tôi bắt đầu đi cắt lúa ở một vài khu vực cấy sớm; vùng Cà Mâu đất rất khá mầu mỡ nên thường được gọi là vùng đất “làm chơi ăn thật”; mỗi công lúa ở đây, nếu không gặp tai ương ǵ th́ thâu hoạch được từ 20 tới 25 dạ lúa.

 

 

- U MINH THƯỢNG.

 

Sau khi cắt được ít công lúa chín ở vùng U Minh Hạ, chúng tôi lại được chuyển trại tới một nông trường khác; sau một ngày di chuyển qua rừng tràm chúng tôi tới được vùng đất mới gọi là kinh Tám Ngàn thuộc huyện Kiên Lương thuộc U Minh Thượng.

 

Tại kinh Tám Ngàn, khởi đầu là việc cất lán trại để trú ngụ, rồi sau đó mới bắt tay vào việc đào những con kinh nhỏ thẳng góc và ăn thông ra kinh Tám Ngàn. Trong thời gian đào kinh ở vùng Kiên lương, tù cải tạo chúng tôi được giao chỉ tiêu khá cao, nên phải làm việc rất cực nhọc, có nhiều tổ v́ ban ngày trời nắng quá gay gắt nên không thể đạt được chỉ tiêu v́ thế chúng tôi phải đốt đuốc đào vào ban đêm. Cảnh tượng tù cải tạo phải đào kinh quá vất vả ở kinh Tám Ngàn vào giữa 1977-1978, đă làm cho tôi nhớ đến một bài vè của dân phu đào kinh Vỉnh Tế vào thời gian 1820-1824. Tuy thời gian đào kinh chỉ cách nhau khoảng 150 năm, song về không gian vẫn chỉ là một, v́ kinh Tám Ngàn nằm ngay phía sau kinh Vĩnh Tế một khoảng cách theo đường chim chẳng bao xa. Một đoạn ngắn của bài vè này viết như sau:

 

 “Việc mần cực khổ

 Mệt đổ hết hơi

 Không dám nghỉ ngơi

 Cực đà quá cực”

 

 Cũng trong thời gian này bọn bộ đội cư xử và đối đăi với chúng tôi không đến nỗi quá tệ; chúng tôi được thân nhân thăm gặp và tiếp tế hàng tháng và sau khi làm đủ chỉ tiêu hay vào những ngày nghỉ c̣n được phép đi sâu vào những vùng hoang dă c̣n rậm rạp bắt chuột, bắt rắn, bắt cua và bắt cá để cải thiện bữa ăn hàng ngày nên chúng tôi không đến nỗi đói khó.

 

Sau khi hoàn tất được một số kinh nhỏ trong vùng Tám Ngàn nhóm cải tạo chúng tôi lại được điều động đến vùng kinh Mười Ngàn tiếp tục vừa đào kinh vừa sạ lúa; lọai lúa sạ này có đặc tính là nước dâng cao bao nhiêu th́ cây lúa mọc cao theo mực nước bấy nhiêu. Nhưng nếu mực nước dâng cao hơn 10 centimet một ngày th́ cây lúa sẽ trốc rễ để nổi theo mực nước. Vào mùa thu hoach lúa, trời nắng khủng kiếp đến nỗi có một vài sân phơi lúa cùng rơm rạ bốc cháy, khiến bọn cán bộ của trại nghi ngờ là có âm mưu phá họai, nên một số cải tạo viên đă bị bắt và bị đánh đập bị tra khảo rất dă man.

 

Cho đến tháng 5 năm 1977, khi quân Khmer Đỏ bất thần tấn công vào các làng xă dọc theo kinh Vĩnh Tế thuộc tỉnh An Giang và Kiên Giang trong đó có trại cải tạo ở kinh Mười Ngàn, đă giết một số cán binh Cộng Sản và làm bị thương một số cải tạo viên. Cuộc tấn công này đă buộc Việt Cộng phải “di tản” đám tù binh cải tạo vào sâu trong vùng phía Nam của kinh; sau đó chúng tôi lại được đưa tới vùng chân núi Salon thuộc xă Lương Phi thuộc quận Tri Tôn, là vùng đất mà tôi biết khá rơ, v́ trước năm 1975 đă thăm viếng rất nhiều lần, đặc biệt là khi chương tŕnh “Tát Nước Bắt Cá” và “Dành dân lấn đất” của Tỉnh và Tiểu Khu Châu Đốc được thực thi tại dây. Ít ngày sau đó chúng tôi được dẫn giải ra quận lỵ Tri Tôn để được đưa đi một trại cải tạo khác nằm sâu trong nội địa cho an toàn hơn. 

 

 

(Xin đọc tiếp phần 3)

 

Huy Vũ

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính