Vị
tướng già trong nhà dưỡng lăo
Huy Phương
“Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Đất, ngước lên thẹn Trời!”
(Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai)
DALLAS - Một
người b́nh thường lúc về già sống cô đơn trong nhà dưỡng lăo đă là một
chuyện buồn, một vị tướng lănh đă từng bao năm trận mạc, hôm nay sống
trong một nhà dưỡng lăo quạnh hiu đă gây không ít cho chúng tôi những cảm
xúc bùi ngùi đau xót khi đến thăm ông.
Cùng với anh Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt-Dallas, chúng tôi
đến thăm Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai vào một chiều Chủ Nhật mùa Đông tại
“Pleasant Valley Healthcare and Rehabilication Center, 1525 Pleasant
Valley Rd., Garland, TX 75040.” Khi chúng tôi bước vào pḥng, thấy ông
đang ngồi trên chiếc xe lăn, ông cho biết đang thay y phục, nên chúng tôi
tạm lui ra chờ. Khi trở lại, ông đă tươm tất hơn trong bộ đồ mới.

Kư giả Huy Phương và Thiếu Tướng Giai trong nhà dưỡng lăo ở Dallas Ft
Worth tháng 12, 2015. (H́nh: Thái Hóa Lộc)
Nhận ra anh Lộc là người quen, thường thăm viếng ông, ông vui vẻ chuyện
tṛ và nhờ chúng tôi đẩy ông ra ngoài pḥng khách ngay lối ra vào, nơi mà
các y tá có thể quan sát. Ở đây đă có nhiều ông bà già hiện diện, tất cả
đều ngồi xe lăn. Đây là một thói quen của ông, mỗi chiều, hoặc là ngồi đây
vui hơn, hoặc là ông đang chờ ai đó, có thể vào thăm ông. Vào chiều Chủ
Nhật, nhưng tôi không thấy có một thân nhân nào đến thăm những bệnh nhân ở
đây, ngoài chúng tôi đang ngồi với Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai.
Ông chuyện tṛ rời rạc, khi đáp những của thăm hỏi của tôi, là người khách
lần đầu đến thăm ông.
Lúc c̣n khỏe và tỉnh táo, trí nhớ tốt, mỗi tuần ba ngày, ông đến sinh hoạt
tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên tại thành phố Garland.
Bà Đỗ Kế Giai qua đời vào tháng 11, 2012 sau khi ông vào bệnh viện được ba
tháng. Từ bệnh viện, ông được chuyển thẳng về trung tâm này.
Ông bà có tất cả bảy người con, một gái và sáu trai. Bốn người đều ở các
tiểu bang xa, chỉ c̣n lại ba người con trai ở gần ông. Hiện nay, ông c̣n
có thể tự ăn uống và lo chuyện vệ sinh cho ḿnh. Ông đă ở đây hơn ba năm,
và tỏ bày: “Ở đây buồn quá!”
Những vị cao niên nằm trong viện dưỡng lăo như hoàn cảnh của ông, c̣n nhớ
chuyện này chuyện nọ, c̣n biết buồn, biết vui, có lẽ cảm thấy khổ hơn là
những người đă mất trí nhớ hoàn toàn.
Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai sinh năm 1929 tại Bến Tre, trong một gia đ́nh điền
chủ, ông theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Vơ bị Liên Quân Đà Lạt, ra
trường vào tháng 4, 1952, và đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Đoàn 3 Nhảy
Dù, đóng tại Bắc Việt.
Lần lượt ông đă giữ các chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tiểu
đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, chiến đoàn trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù
(1962), tham mưu trưởng Sư Đoàn 25 BB, tư lệnh Sư Đoàn 10 BB (tiền thân
của SĐ 18BB-1966). Năm 1967 ông mang cấp bậc chuẩn tướng. Năm 1972, ông là
chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân và được vinh thăng thiếu tướng
vào tháng 4, 1974.

H́nh Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai 42 năm về trước. (H́nh: Gia đ́nh cung cấp)
Ngày 28 tháng 4, 1975, Tướng Times bên Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng
giúp đưa cả gia đ́nh ông đi Mỹ, nhưng ông quyết định ở lại v́ trách nhiệm
của một tướng lănh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời ông đi họp
và đưa thẳng vào khám Chí Ḥa, sau đó đưa ông cùng với các vị tướng lănh
khác ra Bắc Việt.
Đến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm ông mới được trả tự do, là một
trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu
Tướng Lê Minh Đảo và Chuẩn Tướng Thiếu Tướng Lê Văn Thân.
Ông và gia đ́nh được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên
H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 và định cư tại thành phố Garland,
Texas.
Theo lời kể của anh Thái Hóa Lộc, không phải là thân thích của ông, người
vẫn thường ghé thăm ông, cho biết ông thích ăn các thức ăn Pháp và thích
nhâm nhi chút rượu, nếu có thể. Lúc c̣n khỏe, ông cũng sẵn sàng nói chuyện
xảy ra trong thời loạn lạc, một số chi tiết về Đại Tướng Cao Văn Viên liên
quan đến vụ đảo chánh 1963, cái chết của Thiếu Tá Nhung và một số chi tiết
nhưng ông yêu cầu không nên đưa lên báo chí.
Bây giờ có chuyện nhớ chuyện quên nhưng ông cho biết vào mùa Đông thân thể
thường đau nhức, “chỉ có Wishky mới trị nổi thôi,” điều mà bác sĩ hoàn
toàn cấm, nhưng đôi khi các cô y tá cũng thông cảm cho ông, khi biết ông
xưa kia là một tướng lănh.
Ông tâm sự với chúng tôi, là ông đă nghĩ đến ngày ra đi và không sợ chết.
Ngày ông mất, xin nhờ bên anh em thuộc binh chủng Nhảy Dù lo chuyện hậu sự
cho ông tươm tất là ông cảm thấy măn nguyện rồi.
Ông đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ dài ông đă làm trong nhà tù Bắc
Việt sau 9 năm bị giam cầm (khoảng năm 1984.) Bài thơ dài 65 câu, lời thơ
đầy bi phẫn, xót xa của một tướng lănh thất trận và là của một người tù
không bản án, vô vọng không có ngày về.
Chỉ trong ṿng mười lăm phút, ông đă đọc đi đọc lại cho chúng tôi nghe bài
thơ này ba lần, điều này chứng tỏ ông đă đi vào thời kỳ lú lẫn. Anh Thái
Hóa Lộc cho tôi biết, ông thường vào thăm ông, mang thức ăn cho ông, và
lần nào, anh Lộc cũng nghe ông đọc bài thơ này. Ông cho biết trong nhà tù
ông đă làm bài thơ và ghi nhớ trong đầu, đọc đi đọc lại nên thuộc nằm
ḷng, mà không dám viết ra giấy.
Trong khi Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đọc đi đọc lại bài thơ viết trong nhà tù
Việt Bắc, chúng tôi đă ghi âm lại và chép ra để các chiến hữu và độc giả
hiểu được phần nào tâm sự của ông, một vị tướng già, thất trận đang sống
những ngày cuối cùng xa quê hương, lẻ loi trong một nhà dưỡng lăo xa lạ.
V́ khuôn khổ của trang báo, chúng tôi chỉ xin trích một đoạn trong bài thơ
của ông, bài thơ chưa đặt tên:
...“Ư thức hệ miền Nam kiếp nạn
Chín năm (1984) cố quốc dạ nào quên.
Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy
Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.
Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Đất, ngước lên thẹn Trời.
Mài gươm rồi để hận đời
Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.
Oán thế nhân, xin đừng trách nữa
Lỗi lầm này hăy sửa sai chung.
Đem xương máu học bài đắt giá
Chi đem thành bại luận anh hùng.
(Đỗ Kế Giai-1984)
Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời.

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lăo ở Garland, Texas
đă ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối
tháng 12 Dương Lịch, trời đă bắt dầu se lạnh, parking vắng bóng xe, gần
như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ ǵa, ngồi trên xe
lăn, dồn ra pḥng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nh́n
ai, hay gục mặt nh́n xuống thân ḿnh, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có
một người thân của ḿnh hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa
hay món quà trên tay.
Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch
xa, v́ sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn
sóc, nhưng cha mẹ già th́ đă có những nhà dưỡng lăo. Thậm chí trong t́nh
vợ chồng, người vợ c̣n mạnh khoẻ, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng
th́ cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.
Chúng ta có bao nhiêu lư do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ
già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt,
vài ba ngày được đẩy xe vào pḥng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một
nam nhân viên dội nước, xát xà pḥng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có
mang chút t́nh người đi nữa th́ cũng là những công việc hằng ngày bắt
buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.
Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc
ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào
nhà dưỡng lăo. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ
hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng
nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm v́ c̣n cha mẹ cần sự
giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt,
mặt tối” nhưng c̣n có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất
một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương tŕnh ca
nhạc ở ṣng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt
buộc” phải ngồi trước computer, vào face book hay take message với bạn bè.
Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để
mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp
thời gian đi thăm cha mẹ già.
Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa
con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng v́ vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà
dưỡng lăo, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn,
cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng
chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có
bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục
bởi một người khác.
Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm chẩm” bước đi, và
mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.
Xưa kia khi các con c̣n thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con
yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết
nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc
đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già c̣n biết buồn, biết tủi thân, biết
xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của ḿnh, nên tuổi
già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi c̣n hơn
thế nữa!.
Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai
quan tâm xem song thân c̣n hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng
đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.
Ngày xưa, nỗi vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay
toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng
điện thoại reo vui vào những ngày Lễ Tết, và đằng giây kia có tiếng nói:
“Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”
Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các
con đă đi xa, những cái pḥng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày
con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu ngồi bông vẫn c̣n trên
chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều chiếc trophy và những
lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn c̣n gắn trên bức tường trong pḥng
đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đă đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết
mùa Đông, chiếc đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẻ cùng
cơn gió nhẹ.
Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều pḥng để đi
t́m một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về và c̣n những đứa cháu nữa, sẽ
ở đâu?
Cha mẹ Việt Nam, tự an ủi, ru ḿnh bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là
mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là
phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn
rịn, ngay từ lúc đứa con đă trưởng thành rời mái ấm ra đi.
Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương
Đông.
Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô
đơn ở phương Tây. Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô
không về thăm cha được v́ bận việc. Ông cụ lủi thủi một ḿnh, cô đơn trong
căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái
nhận được tin cha ḿnh qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.
Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng c̣ng
và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng v́ nghe tin cha chết, cô mới
trở về, trong khi c̣n sống, người cha cần có con, th́ không có cô bên
cạnh.
Nhưng cũng c̣n may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa hè, có một trận
nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lăo. Nhà nước thông
báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin
lỗi v́ đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!
Buồn vui cuộc đời. .đổi đời rồi !....
Huy Phương