Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ
tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945
Trần Hoàng
Lời tựa của tác giả Trần Hoàng:
Hiện
nay đảng CSVN đang tạm thời nắm quyền kiểm soát ở Việt Nam. Như ai đó nói:
“Lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng“. Tương tự, lịch sử
Việt Nam đã và đang bị viết lại bởi các sử gia là đảng viên của đảng
CSVN.
“Những ai đã sống và đi học ở Miền Nam trước năm 1975 đều không hề biết
ngày 2-9-1945 và không biết gì về cuộc “cách mạng mùa thu””.
Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3
nước Đông Dương hãy tuyên bố độc lập ngay để đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương.
Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945.
Sau đó, nhà Vua đã giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các.
Vua Norodom của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày 13-3-1945.
Vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày 8-4-1945.

Nội dung Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Vua Bảo Đại được công bố ngày
11-3-1945. Trích từ sách của Vua Bảo Đại:
…Ngày hôm sau, 12 tháng 3 năm 1945, tôi (tức Bảo Đại – NT chú) cho mời
viên Đại sứ Yokoyama và trao cho ông ta bản tuyên ngôn độc lập này:
“Chiếu tình hình
thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long
trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước
Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.
“Nước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường, để xứng đáng là một quốc gia độc
lập, và sẽ theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á,
hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nền thịnh vượng chung.
“Vì vậy, chính phủ Việt Nam đã đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước
Nhật, và đã có quyết định cộng tác với nước này, hầu đạt mục đích nói
trên.
“Khâm thử.
“Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại”.
(chú thích của Trần Hoàng: ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20, triều Bảo Đại
là ngày 11-3-1945. Nguồn của bản Tuyên Ngôn Độc Lập ở cuối bài)
Người Miền Nam chỉ biết Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc lập vào
ngày 11-3-1945, và chỉ định ông Trần Trọng Kim làm Thủ tướng đầu tiên của
Quốc Gia Việt Nam.”

Thủ tướng Trần Trọng Kim là một học giả, một sử gia, một nhà đại trí thức,
đã tập hợp được những tinh hoa của Việt Nam thời bấy giờ, và lập ra nội
các gồm 11 người.
“…Trần
Trọng Kim trình danh sách Nội các lên vua Bảo Đại phê chuẩn vào ngày
17-4-1945 và ra mắt Quốc dân 2 ngày sau đó (19 – 4 – 1945).
Xin liệt kê ra đây danh sách Nội các Trần Trọng Kim:
1. Trần Trọng Kim, Giáo sư, Học giả, nhà Sử học: Thủ tướng.
2. Trần Văn Chương, Luật sư: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
3. Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ trưởng Nội vụ.
4. Trịnh Đình Thảo, Luật sư: Bộ trưởng Tư pháp.
5. Hoàng Xuân Hãn, Thạc sĩ Toán: Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ.
6. Vũ Văn Hiền, Luật sư: Bộ trưởng Tài chính.
7. Phan Anh, Luật sư: Bộ trưởng Thanh niên.
8. Lưu Văn Lang, Kỹ sư: Bộ trưởng Công chính.
9. Vũ Ngọc Anh, Bác sĩ: Bộ trưởng Y tế.
10. Hồ Tá Khanh, Bác sĩ: Bộ trưởng Kinh tế.
11. Nguyễn Hữu Thi, cựu Y sĩ: Bộ trưởng Tiếp tế.
Ngoài 11 thành viên Nội các, Chính phủ Trần Trọng Kim còn bổ nhiệm mấy vị
sau đây đảm nhận trọng trách ở các địa phương xung yếu:
– Phan Kế Toại: Khâm sai Bắc bộ.
– Nguyễn Văn Sâm: Khâm sai Nam bộ.
– Trần Văn Lai: Đốc lý Hà Nội.
– Đặng Văn Hướng: Tổng đốc Nghệ An.
– Kha Vạn Kân: Đô trưởng Sài Gòn. (hiện nay, nhiều nơi ghi là Kha Vạn Cân)
Trong số 16 người trên, phần nhiều về sau đã trở thành cán bộ cao cấp của
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Đảng CSVN thường gọi chính phủ của cụ Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn
của Nhật. Nhưng,
Thiết nghĩ nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thì sao được vậy …nhiều
nhân vật trong nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim về sau đã trở thành
cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Chẳng lẽ cùng là thành viên của Nội các mà Thủ tướng là bù nhìn tay sai
Nhật, còn các thành viên khác thì không?
10 thành viên Nội các với 5 quan chức trọng trấn gắn bó chung quanh Trần
Trọng Kim toàn là người có học vị, có uy tín. Nghĩa là đủ trình độ nhận
biết bản chất vị Thủ tướng của mình. Họ thực lòng cộng sự đã nói lên nhân
cách và uy tín của Trần Trọng Kim…” Trích
“Cách
Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra”
“ Sau
khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3 nước Việt
Nam, Lào và Kampuchia tuyên bố độc lập.
Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao
cho Trần Trọng Kim thành lập nội các.
Vua Norodom Sihanouk của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày
13-3-1945; thành lập nội các và vua Shihanouk làm thủ tướng ngày
18-3-1945, Vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày
8-4-1945. Cộng sản VN và một số lớn các nhà viết sử ngoại quốc đã không
gọi là chính phủ Kampuchea và Lào là chính phủ bù nhìn của Nhật, nhưng
luôn luôn nói CP TTK là bù nhìn là tay sai
của Nhật. Thật là đáng ngạc nhiên.
Ngày 17-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim trình diện hội đồng nội các gồm
có 12 bộ trưởng. Hình ảnh và tên của các vị này tràn đầy trong mạng
internet.
Và sau khi đã ép Chính phủ của Thủ tướng TTK phải từ chức và Vua Bảo Đại
đã thoái vị dưới nòng súng của cộng sản ngày 25-8-1945, HCM lại mời các vị
trong nội các của TTK làm bộ trưởng trong chính phủ HCM. Vậy, cộng sản
chụp mũ rằng các vị này làm bù nhìn cho chính phủ TTK, nhưng tại sao ngay
sau đó, HCM lại mời các vị này làm bộ trưởng?
Thật ra vì ghen tức, vì học lực quá thấp kém, vì không ai tôn phục, không
có sự chính danh, không phải là người đầu tiên tuyên bố độc lập, nên HCM
và đảng CSVN luôn nói rằng chính phủ của TT Trần Trọng Kim là bù nhìn, là
do Nhật dựng nên, là tay sai của Nhật… NHƯNG, chính phủ TTK đã làm những
việc khổng lồ như: đặt nền móng và chương trình giáo dục, y tế, ra nghị
định thành lập nghiệp đoàn công nhân, chở gạo cứu đói năm Ất Dậu cho cả
Miền Bắc,…Thế cái độc lập của ngày 2-9-1945 và chính phủ của HM đã làm
được cái gì? Để lại công trạng gì trong khoảng thời gian 1945-1954?
Tuy học lực kém cõi, nhưng đảng CS là lực lượng có tính tổ chức cao và
biết cách tuyên truyền rất mạnh mẽ so với các đảng phái quốc gia khác.
Đảng CSVN hiện nay cố viết lại lịch sử và cố che giấu 1 điều quan trọng
nhất là chính phủ TTK đã KÝ LỆNH ân xá cho hàng chục ngàn cán bộ đảng CSVN
và các đảng phái quốc gia khác được ra khỏi nhà tù trên toàn cỏi VN, trong
đó có LÊ DUẪN, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn
Linh, Lê Văn Sĩ …được ra khỏi nhà tù Côn Đảo. Thử hỏi, một chính phủ bù
nhìn, tay sai của Nhật thì làm sao có uy quyền này? (N.T.)
“Lương Ngọc Phát: ‘Tuy học lực kém cõi, nhưng đảng CS là lực lượng có
tính tổ chức cao và biết cách tuyên truyền rất mạnh mẻ so với các đảng
phái quốc gia khác.’ (NT)
Nhiều tài liệu phân tách tôi đọc được từ thập niên 60 khi còn niên thiếu,
người quốc gia ở miền Nam đã thừa nhận tình hình hồi 45, đúng như NT vừa
nói.
Người yêu nước phi Cộng, có lẽ nặng tình non nước là chính, mà xông pha
vào cuộc phong trần. Họ chưa có hoặc chưa học được kinh nghiệm cùng thủ
đoạn chánh trị. Trong khi người CS, đã được thụ huấn chu đáo nghề cướp
chính quyền, nghề lật đổ, nghề tình báo, nghề mỵ dân, nghề khuynh đảo,
nghề ám sát, nghề tuyên truyền, nghề chụp mũ… và ghê gớm nhất, nghề “phanh
thây uống máu quân thù”. Mà với người CS, ai ai cũng là thù, có thể kể cả
đồng chí của họ.
Tất cả các ngành trên được học từ trường huấn luyện Phương Đông/LX. Kinh
nghiệm phong phú rút từ CMT 10 Nga, người CS do đó, khi giành cướp, họ rất
chuyên nghiệp phanh thây uống máu quân thù mà chẳng biết tanh!
Tình yêu tổ quốc của người Quốc Gia, chỉ với lòng nhiệt thành ngày nào,
bản lãnh không chuyên. Và nhất là, có nhiều nghề trong số liệt kê trên,
như nghề “phanh thây uống máu”, đến tận bây giờ người Quốc Gia cũng không
sao học được. Bên thua cuộc, thua ở chính chỗ này! ”
Cập nhật 2- 9-2014)
“Đảng CSVN hiện nay cố viết lại lịch sử và cố che giấu 1 điều quan trọng
nhất là chính phủ TTK đã KÝ LỆNH ân xá cho hàng chục ngàn cán bộ đảng CSVN
và các đảng phái quốc gia khác được ra khỏi nhà tù trên toàn cỏi VN, trong
đó có LÊ DUẪN, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn
Linh, Lê Văn Sĩ …được ra khỏi nhà tù Côn Đảo. Thử hỏi, một chính phủ bù
nhìn, tay sai của Nhật thì làm sao có uy quyền này?”
Ông Hồ Chí Minh rất ganh tức với cụ Trần Trọng Kim vì các thành tích nói
trên, nên ông đã tìm cơ hội thoán đoạt công lao của cụ Trần Trọng Kim. Ta
hãy nghe cụ Hứa Hoành viết:
“Nỗi thao thức của ông Hồ lúc nầy là Việt Minh phải nắm chính quyền,
không chia xẻ, nhượng bộ cho bất cứ đảng phái nào. Ðó là đường lối
nhất quán, trước sau như một của đảng cộng sản. Ðây cũng là dự mưu, từ khi
ngoài rừng núi Tân Trào kéo về Hà Nội. ‘Căn cứ vào kết quả của cuộc thảo
luận của ông Hồ cùng các cán bộ, thấy rằng công cuộc phát triển cách mạng
của họ sẽ dẫn đến 2 trường hợp:
– Một là đủ sức
cướp
chính quyền, bản thân họ có đủ điều kiện để đàm phán bình đẳng các vấn đề
với các nước Ðồng minh……
– Hai là lực lượng bản thân (Việt Minh) còn yếu kém… Việt Minh phải suy
nghĩ đến việc cùng với nước Pháp tiến hành đàm phán, để tranh thủ một số
quyền lợi và tự do dân chủ. Sau đó sẽ dùng những quyền lợi nầy làm vốn
liếng để tuyên truyền, rồi tiến thêm một bước, đẩy tới cuộc vận động cách
mạng, để tiếp tục đấu tranh với Pháp….’ (TưởngVĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại
Trung cộng, Thượng Huyền dịch, trang 339).” (Hứa Hoành)
Biết trước có cuộc mít-ting của công chức Hà Nội vào ngày 17-8-1945, ông
HCM và các đảng viên CSVN đã chuẩn bị và tổ chức vụ
CƯỚP CHÍNH QUYỀN
vào ngày ấy, biểu tình thêm lần nữa vào ngày 19-8, và rồi “tuyên bố độc
lập ngày 2-9-1945”. (Mời đọc thêm bài trên blog
to-hai.blogspot.com, nhật ký mở (lần
thứ 64), 28-8-2013)
Vì ở thế yếu, không được các đảng phái và hội đoàn quốc gia tin phục, và
không được bất cứ một nước nào công nhận, nên sau khi làm lễ tuyên bố độc
lập ngày 2-9-1945, ông Hồ Chí Minh đã phải xóa ván cờ, và tuyên bố giải
tán đảng Cộng Sản Đông Dương ngày
11-11-1945.
Các đảng phái quốc gia thời ấy (có hơn 40 đảng phái, phong trào, hội
đoàn…) và có những người không theo đảng phái nào đều muốn đuổi Pháp ra
khỏi VN. Nhưng không hội đoàn đảng phái nào đủ mạnh để một mình chống
Pháp, không có đảng nào có dồi dào về tiền bạc, và không có khí giới dồi
dào, nên khi ông HCM lập mưu kế chính trị, tìm cách sắp xếp các nhân vật
trong chính phủ, dụ các nhân sĩ vào trong nội các của chính phủ, để có uy
tín đi họp với chính phủ Pháp, và thế là có Chính phủ Liên Hiệp ra đời
năm 1946.
Một số nhân sĩ nghe theo lời đường mật của ông HCM và hợp tác vì họ chưa
nhận ra đường lối chính trị và chân dung thật sự của ông.
Nhưng nội các Chính phủ Liên Hiệp 1946 lại mắc mưu ông HCM một lần
nữa khi ông HCM lợi dụng vai trò làm trong
chính phủ để đuổi quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch ra
khỏi VN, và mời Quân Pháp trở lại Việt Nam qua Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946…
(mời đọc bài của cụ Hứa Hoành ở cuối trang này)
Thật ra, ông HCM là một người có mưu lược và rất thủ đoạn, ông mời quân
Pháp trở lại VN bằng Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946,
để mượn tay quân Pháp giết các thủ lĩnh của
các đảng phái quốc gia (lúc ấy cũng mong ước đuổi Pháp giành độc lập). Ông
HCM dùng con đường ngoại giao để đuổi khéo quân đội của Trung Hoa Quốc Dân
Đảng về nước vì đạo quân Tàu ủng hộ các đảng phái quốc gia Việt Nam, (và
không ủng hộ cộng sản Việt Nam).
Kể từ cuối tháng 8/1945, ông HCM vờ hợp tác với các lãnh tụ của các đảng
phái quốc gia để gọi là đánh Pháp, nhưng ông lại bí mật báo cho quân Pháp
biết vị trí đóng quân và nơi ở của các vị chỉ huy, các vị lãnh đạo của các
đảng phái quốc gia để mượn tay quân Pháp bắt hết tất cả. Thế là lực lượng
các đảng phái quốc gia bị suy yếu, và ông HCM nổi lên ở thế mạnh. Đây là
giai đoạn 1945-1950. (bài viết của tác giả Hứa Hoành).
Nhưng vì đảng cs của ông HCM quá tàn ác, dùng các thủ đoạn ám sát giết hại
quá nhiều người, nên những người trong lực lượng Việt Minh đã trốn về
thành phố, hoặc trở về nhà. Lực lượng của ông HCM suy yếu hẳn. Ông Hồ Chí
Minh phải trốn vào rừng vì bị quân Pháp truy nã. Lẽ ra, ông HCM đã chết
trong rừng vì tuyệt vọng và thiếu thốn…
Nhưng cái may đã đến với ông HCM khi Mao Trạch Đông đánh thắng Quốc Dân
Đảng của Tưởng Giới Thạch và đuổi ông này ra đảo Đài Loan 1949.
Ông Hồ Chí Minh quá mừng rỡ, nên đã bí mật qua cầu viện Mao vào mùa xuân
1950. Việc mãi quốc cầu vinh của ông HCM đã thành công vì Mao là một người
có tầm nhìn xa và là một nhà chiến lược.
Trong cuộc thương lượng bí mật với HCM năm 1950, Mao đòi lấy Hoàng Sa và
Trường Sa và coi Miền Bắc VN như một trái độn (theo phe cộng sản) để không
một nước nào đánh vào Trung Cộng ở phía nam. Ông HCM đồng ý trao đổi để
Mao chiếm HS và TS, đổi lại thì ông HCM sẽ được Mao cung cấp súng ống đạn
dược và cử bộ đội Trung Cộng qua VN đánh Pháp.
Mùa xuân 1951, quân viện và vũ khí hậu cần của Trung Cộng gởi tới VN. Ông
HCM phải thực hiện Cải cách Ruộng đất 1951-1956 theo chỉ thị của Mao. Ông
HCM đã viết báo cáo về chuyện cải cách ruộng đất và gởi Mao. Và ông HCM
cũng viết 2 lá thư cầu viện với Stalin 1952. Nhưng lúc này, Stalin trên
giường bệnh và sắp chết, nên đã bỏ mặc ông HCM.
Để phát động chiến dịch CCRĐ, HCM viết Địa Chủ Ác Ghê, ký tên C.B. (viết
tắt Của Bác) đăng trên báo Nhân Dân 21-7-1953
(nguồn).
Mao đã giúp ông HCM chiếm Điện Biên Phủ 1954, và ông HCM dùng chiến thắng
ấy như là công lao riêng của đảng CSVN đã lãnh đạo một lực lượng chống
Pháp, và sẽ là một lực lượng đối trọng đòi hỏi chia đôi đất nước trong
thời gian 2 tháng sau đó.
Với tư thế chiến thắng của ông HCM, cộng thêm với thế lực đang lên của
Trung Cộng từ khi chiếm được Trung Quốc 1949 (và qua việc chiến tranh với
Mỹ ở Triều Tiên 1953), và thế chiến lược của Mỹ và Pháp vào lúc ấy đang
thay đổi… đã áp đảo và ép buộc chính phủ của ông Ngô Đình Diệm phải chia
đôi Quốc gia Việt Nam, một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc, mà Vua
Bảo Đại đã tuyên bố độc lập từ ngày 11-3-1945.
Đây là các sự kiện lịch sử:
từ 3-1945 đến tháng 9-1954, toàn Miền Bắc, kể cả Hà Nội vẫn còn trực thuộc
chính phủ của Quốc gia Việt Nam; cho đến lúc này, đảng CSVN vẫn hoạt động
bất hợp pháp, đảng không có văn phòng chính thức nào ở trên đất nước VN,
và không có một tòa công thự hay văn phòng chính phủ nào của Nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa.
TT Ngô Đình Diệm đã không ký vào Hiệp định Geneve chia đôi đất nước ngày
20-7-1954. Bởi vậy, ông không cần phải tuân theo Hiệp định Geneve, và dĩ
nhiên ông đã không tham gia cuộc tổng tuyển cử 1956.
Trung cộng ra lệnh cho HCM tiến hành chiến tranh Miền Nam:
…
vào năm 1958 khi học tại Trung cộng đã chứng kiến tận mắt sự khinh bỉ của
sinh viên Trung cộng đối với chế độ Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa qua câu
chuyện rất ngắn nhưng gói ghém rất nhiều sự thật về tình đồng chí quốc tế
vô sản, Trần Đỉnh kể:
“Một hôm Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân đến Bắc Kinh đại học nói chuyện với cả
nghìn sinh viên. Bọn tôi nghe. Các mẩu câu hỏi, thắc mắc của sinh viên tới
tấp truyền tay nhau đưa lên trên bàn Chu Ân Lai. Đến một mẩu, ông đọc to:
Trung Quốc nghèo, dân Trung Quốc đói, sao cứ phải giúp Việt Nam?
Tôi thật tình xấu hổ. Sinh viên Trung quốc đòi chấm dứt viện trợ cho Việt
Nam trước đông đủ các nước, nhất là trước sinh viên Hồi Giáo sáng sáng bốn
năm giờ ra hành lang tụng kinh giập đầu thình thình xuống đất không ai ngủ
nổi. Mà sao Chu Ân Lai không ỉm đi? Tôi hơi ức.
Chu Ân Lai giải đáp ngắn gọn, thẳng thắn. Viện trợ cho Việt Nam là nghĩa
vụ quốc tế nhưng có lợi cho Trung Quốc: nên đẩy chiến tranh và đế quốc ra
xa Trung Quốc hay để cho chúng nó áp sát bên cạnh?” ((Cập nhật 9-2014-
trích tác phẩm Đèn Cù của Trần Đỉnh).
Chiến Tranh Việt Nam đã xảy ra do Trung cộng ra lệnh cho HCM và đảng CSVN
thực hiện, vậy thì chữ độc lập có ý nghĩa gì không?
Sự kiện trên cho thấy rằng Nước VNDCCH và việc tuyên ngôn độc lập 2-9-1945
chỉ là sản phẩm tự biên tự diễn của các đảng viên đảng CSVN, họ rêu rao
tuyên truyền mãi và người Miền Bắc đều tin. Đại đa số dân miền Nam từ
Quãng trị vào Mũi Cà Mau chẳng ai biết ngày 2-9-1945 là gì cho mệt xác. Vì
thừa biết là của giả, nên chẳng có một nước nào trên thế giới gởi thư chúc
mừng sự độc lập của nước VNDCCH. Đố ai tìm được nguồn tài liệu nào cho
thấy có nước nào trên thế giới viết quốc thư công nhận nước VNDCCH từ
1945-1950? “Nước VNDCCH” cũng chẳng có văn phòng đại diện hay sứ quán, đại
sứ quán nào ở bất kỳ quốc gia nào từ 1945-1950.
Đảng CSVN là một tổ chức bất hợp pháp, không chính danh từ khi ra đời 1930
cho đến nay, đố ai tìm được nguồn văn bản nào chứng minh rằng đảng CSVN có
làm đơn xin phép hoạt động như một hội đoàn hợp pháp ở VN, cũng không
chính phủ nào ở VN đã từng cấp giấy phép cho đảng CSVN sinh hoạt hợp
pháp.
Từ tháng 2-1930- tời tháng 10/1954, đảng CSVN cũng chưa từng có một trụ sở
của đảng hay một văn phòng công khai để hoạt động hợp pháp. Đảng từ tay
không mà cướp được một nửa nước VN qua các thủ đoạn chính trị, và Hiệp
Định Geneve 1954 là thành công đầu tiên của đảng CS và ông HCM. Bởi vậy
mới có từ Việt Minh Cướp Chính Quyền 1945.
Trở lại chuyện mật ước trao đổi đất đai biển đảo lấy vũ khí giữa Mao và
ông HCM năm 1950.
Sau khi giúp ông HCM chiếm được Miền Bắc 20-7-1954, Mao đã dựa vào mật ước
đã ký kết với ông HCM 1950 để đòi thù lao và quân đội của Mao đã chiếm một
số hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và kế đó bắt nước VNDCCH
phải công nhận. Thế là ông HCM và đảng CSVN (lúc ấy có tên LĐVN) phải sai
Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm14-9-1958, theo đó, nhà nước VNDCCH
phải công nhận Hoàng Sa và Trường sa là của Trung Cộng. Đây là hành động
bán nước vì chẳng còn từ nào dùng cho chính xác hơn.
Ông HCM mắc mưu Trung Cộng (hay ông là điệp viên của Trung Cộng?). Kể từ
1955, hàng năm, ông HCM đều qua nghĩ dưỡng ở Quế Lâm, Trung Cộng. Ông HCM
vẫn thường nghĩ mát ở đó từ 1-3 tháng hàng năm và ông giữ thói quen ấy
suốt 14 năm; và cho đến năm 1968, ông HCM vẫn còn giữ thói quen ấy.
Ông HCM là một người đàn ông mạnh mẻ, nhàn nhả và độc thân, trong khi Mao
Trạch Đông là một con quỷ hoang dâm vô độ ( mời các bạn đọc Hồi Ký của Bác
Sĩ Lý Chí Thỏa trên vnthuquan.net)…Chắc chắn Mao đã gài bẫy mỹ nhân kế và
ông HCM đã sa bẩy như vụ TBT Lê Khả Phiêu.
Chắc chắn Mao đã bí mật thu âm, chụp hình ảnh về những ngày nghĩ dưỡng của
ông HCM ở vùng Quế Lâm (Trung Quốc). Và Mao đã dùng các chứng cớ ấy để
black-mail hay hăm dọa đảng CSVN sau này. Trong cuộc họp mật ở Thành Đô,
TC, vào ngày 3 và 4 tháng 9, 1990, Trung cộng chắc chắn đã vờ lộ ra cho
các đệ tử của ông HCM các băng thâu âm và hình ảnh của ông HCM trong những
ngày nghĩ dưỡng ở vùng Quế Lâm thơ mộng…
Mật ước giữa Mao và ông Hồ vào năm 1950 về Trường Sa Hoàng Sa, và các hình
ảnh của ông HCM trong những lần nghĩ dưỡng (ăn chơi) hàng năm ở Trung cộng
hiện nay là
cái kềm kẹp vào cổ
đảng CSVN và Nhà Nước.
Bởi vậy, hai mươi ba năm qua, Trung cộng đối xử tàn tệ và khinh bạc cở
nào, đảng và nhà nước cũng phải nhẫn nhịn răm rắp và cúi đầu nghe theo. Vì
TC đã hăm sẽ tung tài liệu và hình ảnh của “bác Hồ” và các mật ước đã ký
kết giữa TC và đảng CSVN cùng Nhà Nước từ 1950-2000 ra cho công luận vào
bất cứ lúc nào cần, và nếu chuyện ấy xảy ra, đảng CSVN và nhà nước chỉ còn
chui xuống cống.
Điển hình, năm 1999, khi muốn thúc hối nhà nước VN phải ký Hiệp Định biên
giới, TQ đã tung lên mạng internet và đưa lên báo chí Công Hàm 14-9-1958
của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thế là nhà nước VN vội vả ký ngày 31-12-1999,
thứ trưởng Lê Công Phụng biết vụ này quá rõ hơn ai hết. Kết quả: VN phải
ký Hiệp Định biên giới và nhường cả chục ngàn km vuông, phải dời cột mốc
biên giới về phía nam vào sâu trong nội địa VN, làm mất Ải Nam Quan, Thác
Bản Giốc, vùng Móng Cái, núi Lão Sơn…Ai không tin, cứ lên vùng biên giới
Việt -Trung, mang theo 1 cây thước dây thật dài, và đo cộc mốc biên giới
từ cột mốc O km tới cột mốc 1 km, cột mốc 2 km…phải đo từng km, thì sẽ
thấy chiều dài giữa cột mốc 0 km và 1 km, rồi chiều dài giữa cột mốc 1 km
và cột mốc 2 km…sẽ khác biệt rất lớn. Đó chính là bằng chứng đất đai bị
mất, cột mốc bị dời về phía VN. Nghĩa là đất biên giới VN đã bị mất vào
tay TC).
Bởi vậy, trong hơn mấy chục năm qua, khi TC chiếm Trường Sa 1988, bắn
chết 64 Hải quân của QĐNDVN, ngăn cấm ngư dân VN không được đánh cá trong
vùng Biển Đông, bắn giết và giam cầm ngư dân VN, xâm nhập và đòi quyền
lợi trong vịnh Bắc bộ, cho dân quân Trung cộng vào VN thành lập các doanh
nghiệp (có trời mới biết họ làm gì), kéo tàu dầu vào khoan dầu trong Biển
Đông vào đầu năm nay,…nhưng nhà nước vẫn nín khe, không tố cáo, không dám
họp báo để phản đối, không triệu đại sứ TC tại Hà Nội đến văn phòng chính
phủ để trao kháng thư…còn công an nhân dân VN, và quân đội nhân dân VN
vẫn nín khe không dám hó hé gì. Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh còn
qua TC họp và nói tốt tốt, sẽ hợp tác an ninh chung, tuần tra Biển Đông
chung, và tuyên bố rằng sẽ trở về nước bắt những người VN nào biểu tình
phản đối TQ chiếm HS và TS, làm nguy hại đến sự hợp tác giữa hai nước …Bởi
vậy, khi người VN nào trong nước lên tiếng phản đối TC chiếm HS và TS, là
nhà nước VN bắt giam bỏ tù (2008-2013).
Đại đa số dân chúng VN biết rõ đảng CSVN và Bộ Chính trị rất tàn ác và
ngang ngược, đã từng đánh với Trung Cộng 1979, đã từng viết sách, lên báo
đài phát thành truyền hình…chửi rủa xối xả Trung Cộng từ 1978-1986. Nhưng,
bỗng nhiên đảng và nhà nước đã bị thuần hóa, họ trở nên ngoan hiền với TC
kể từ khi có cuộc Họp Mặt ở Thành Đô, Trung cộng, ngày 3 và 4 tháng 9,
1990 do Tướng Lê Đức Anh làm môi giới (giữa Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê
Khả Phiêu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên…và chủ tịch TC Giang Trạch Dân).
Thậm chí, còn ký Hiệp định biên giới trên bộ với TC 1993 để mất Thác Bản
giốc, Ải Nam Quan, núi Lão Sơn… vào tay TC.
Tại sao vậy? Tại sao đảng CSVN quang vinh muôn năm, và Bộ Chính Trị cùng
175 ủy viên trung ương tự khoe là những đỉnh cao trí tuệ của loài người,
bỗng nhiên trở nên dễ dạy, cung cúc nghe lời và bị Trung cộng thuần hóa
đến độ nhũn còn hơn con bún?
Bởi vì TC có được trong tay các chứng cớ, các tài liệu, các hình ảnh, các
băng thu âm…về cá nhân của ông HCM, về ông HCM và đảng CSVN đã ký kết các
thỏa thuận với TC trong thời gian 1950-1990. Và TC chỉ cần tung lên mạng,
công khai hóa vài tài liệu, là đảng CSVN và nhà nước chỉ còn nước chui vào
ống cống.
Biết vậy, nên đảng CSVN và Nhà Nước im re, thuần phục TC một phép. Nói dại
chứ, nếu TC đòi cột mốc biên giới đến tận Hà Nội, thì đảng và nhà nước
cũng Ô-Kê, miễn TC đừng đưa ra hình ảnh, tài liệu, âm thanh gì hết.
Mời các bạn đọc tiếp một phần của loạt bài Cách Mạng Mùa Thu 1945 không
hề xảy ra.
Posted by hoangtran204 on 02/09/2013