ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

 

Vị Đệ Nhất Anh Hùng trong Sử Việt
Một trong Mười Vị Nguyên Soái Vĩ Đại của Thế Giới

 

 

 

 

Vào những năm 1200, Đế Quốc Mông Cổ được thành lập tại Trung Á, bao trùm Âu và Á, từ Biển Trung Quốc tới Sông Danube. Quân Mông Cổ đă ba lần đem đại quân xâm lấn Đại Việt thời vua Trần Thái Tông vào những năm:1258; 1285; và 1288; nhưng đều bị quân Nam đánh bại. Những chiến thắng hiển hách đó là đại công của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tác giả của hai bộ sách quư giá: Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp Bí Truyền Thư. Năm 1984, các nhà bác học và quân sự gia thế giới họp tại Luân Đôn (Anh) đă ghi Trần Hưng Đạo vào danh sách mười nhà quân sự tài ba nhất thế giới.

 

 

Sơ lược tiểu sử Đức Trần Hưng Đạo:

 

Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228 và là con của Trần Liễu, anh ruột của Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều đại họ Trần. Ngài thông minh đĩnh ngộ, văn vơ song toàn; chí biết dẹp thù nhà, thân biết đoàn kết anh em ḍng họ cùng lo toan việc nước. Ngài nghiên cứu binh thư, biết dùng người hiền tài như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lăo, Yết Kiêu, Dă Tượng; coi binh sĩ như chân với tay. Ở nơi Ngài thể hiện các đức tính: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, và Tín. Cả ba lần chống quân Nguyên, ngài đă lập nhiều công lớn. Ngài mất vào ngày 20 tháng Tám năm Canh Tư (1300). Thi hài được hỏa táng theo ư nguyện của ngài: tro thu vào một b́nh đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ. Có đền thờ tại Vạn Kiếp, Chí Linh.

 

Sơ lược các trận chiến chống quân Nguyên:

 

Cuộc xâm lăng lần thứ nhất: Vào tháng Giêng năm 1258, một đạo quân Mông Cổ khoảng 40 ngàn quân do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy tràn vào Đại Việt từ ngă Vân Nam. Thế giặc rất mạnh nên quân Nam phải rút bỏ Thăng Long với thành không, nhà trống. Chờ khi quân Mông cạn lương thực, ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân Nam đă thần tốc vượt sông Hồng phản công, đánh địch quân tan tác bỏ chạy về Vân Nam.

 

Cuộc xâm lăng lần thứ nh́: hai mươi sáu năm sau cuộc thảm bại lần thứ nhất, vào cuối năm 1284, lúc đó đă chiếm xong nhà Tống ở Trung Quốc (1279), vua Nguyên là Hốt Tất Liệt cử con trai là Thoát Hoan đem đại quân xâm lấn Đại Việt từ ba mặt: một đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Lạng Sơn đánh xuống; một đạo quân do Nạp Tốc Lạt Đinh từ Vân Nam tràn vào Tuyên Quang; và đạo quân thứ ba do Toa Đô đánh từ Bắc Champa và sườn nam của Đại Việt. Cũng như lần trước, đại quân Nam cố gắng làm chậm bước tiến của địch bằng các lực lượng dân quân địa phương, bảo toàn chủ lực quân, rút lui và bỏ trống kinh thành Thăng Long. Quân Mông bị phân tán mỏng, lương thực khan hiếm, thời tiết nóng nực, bệnh dịch lan tràn. Chờ thời cơ đă chín mùi, tháng 5 năm 1285, Hưng Đạo Vương tức tốc dẫn đại quân đầy nhuệ khí tiến ra bắc phản công quyết liệt: đạo quân của Trần Quang Khải tấn công địch trên mạn sông Hồng vào giải tỏa Thăng Long; Trần Hưng Đạo chặn đường rút của địch tại Vạn Kiếp. Quân địch bị thua to tại các mặt trận:

 

Hàm Tử (Hưng Yên): Trần Nhật Duật đánh tan chiến thuyền của Toa Đô.

 

Chương Dương: Trần Quang Khải và Trần Quốc Toản tấn công đại quân Nguyên khôi phục thành Thăng Long. Trong bữa tiệc khao quân mừng chiến thắng, Trần Quang Khải ngâm bài thơ Ṭng Giá Hoàn Kinh“:

 

Đoạt giáo Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử Quan

Thái B́nh ta nỗ lực

Vạn cổ thử giang san.

 

Có thơ dịch là:

 

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân hồ

Thái B́nh nên gắng sức

Non nước ấy muôn thu.

 

Tây Kết: quân ta đánh tan và chém chết Toa Đô; Ô Mă Nhi xuống thuyền nhỏ chạy về Tầu.

 

Vạn Kiếp: Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lăo được điều động phục binh tại bên sông Vạn Kiếp chặn tàn quân của Thoát Hoan sau khi bị quân của Hưng Đạo Vương đánh tan tại Bắc Giang.

 

Cuộc xâm lăng lần thứ ba: hai năm sau lần thảm bại thứ nh́, tháng 12 năm 1287, đại quân Nguyên lại chia làm nhiều ngả qua xâm chiếm Đại Việt. Đoàn chiến thuyền do Ô Mă Nhi chỉ huy hung hăng tiến vào vùng biển Quảng Ninh nhắm hướng cửa sông Bạch Đằng không hay biết đoàn thuyền lương ở phía sau đă bị Trần Khánh Dư phục đánh tan tại vùng đảo Vân Đồn. Lúc đó Thoát Hoan đă tiến vào Lạng Sơn hội với cánh quân của Ô Mă Nhi và cùng tiến về Thăng Long vào cuối tháng 1 năm 1288. Thành Thăng Long lại bỏ trống. Tại đây, đại quân Mông lại lâm vào t́nh trạng thiếu lương thực nên lại phải rút về Vạn Kiếp và bị chặn đánh tại cửa sông vùng Phả Lại. Biết quân địch sẽ rút đại quân về ngả sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương đă chuẩn bị cho đóng cọc đẽo mũi nhọn tại ḷng sông. Sáng ngày 9/4/1288, Ô mă Nhi dẫn đoàn chiến thuyền vào sông Bạch Đằng. Đoàn chiến thuyền của Nam Quan ào ra tấn công. Gặp lúc thủy triều xuống, thuyền giặc nghiêng đổ, thế giặc tan vỡ, quân sĩ tử trận vô vàn, Ô Mă Nhi bị bắt sống. Đạo quân của Thoát Hoan rút theo đường bộ th́ bị bị phục kích tại cửa ải Nội Bàng. Măi tới ngày 19/4/1288, Thoát Hoan và tàn quân mới chạy thoát về tới Tư Minh. Mộng xâm lược của Quân Nguyên hoàn toàn tan vỡ.

Trong cuộc chiến chống quân Nguyên, có những sự kiện nổi bật là:

 

Hội Nghị B́nh Than: các tướng sĩ trao đổi ư kiến và bày tỏ quyết liều thân cứu nước.

 

Hội Diên Hồng: các bô lăo được triệu tập để cho ư kiến và mọi người đều tỏ một ḷng quyết chiến; có thơ:

 

Họp B́nh Than: tướng, quân bàn mưu phá giặc

Hội Diên Hồng: Bô lăo quyết chống xâm lăng

 

Trần B́nh Trọng bị quân Nguyên bắt và Thoát Hoan dụ hàng, đă khẳng khái trả lời:

 

“Ta thà làm quỷ nước Nam c̣n hơn làm Vương đất Bắc.”

 

Hịch Tướng Sĩ của Đại Nguyên Súy Trần Hưng Đạo: “… Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết nghẹn; trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn; thân làm tướng, phải hầu giặc mà không biết uất; tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm tiêu khiển; … Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận nơi củi lửa, giữ ǵn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, th́ mới có thể dẹp tan được giặc mà lập nên được công danh …”

 

* * *

 

Kết luận: Một câu hỏi đặt ra là “Làm thế nào mà một nước nhỏ như nước ta lại có thể, trong ṿng 30 năm, ba lần đánh bại đạo kỵ binh bách chiến bách thắng của Mông Cổ đă từng chiếm gần hết cả Âu lẫn Á? Các nhà nghiên cứu sử học đă nêu ra những yếu tố chính sau đây, không kể đến yếu tố ngạo mạn, khinh địch của quân Nguyên.

 

Ư chí đấu tranh kiên cường của ṇi Việt thể hiện qua các cuộc chiến đấu liên tục chống xâm lăng của Hai Bà Trưng (năm 40); Bà Triệu (249); Lư Bí (542); Mai Thúc Loan (722); Phùng Hưng (791); Dương Diên Nghệ (931); Ngô Quyền (938); và Lư Thường Kiệt (1077).

 

Chính sách “Dân (chủ) Làm Gốc” của Vua Trần Thái Tông (1218- 1277), tức Trần Cảnh [một nhà Thiền Học, tác giả sách Khóa Hư Lục, một tài liệu cổ nhất ghi chép phép tu dưỡng đạo hư tịch (Thiền), trong đó có bài Tựa Thiền Tông Chỉ Nam của chính vua Thái Tông viết kể lại câu chuyện nhà vua lẳng lặng bỏ ngôi báu lên núi Yên Tử tu; sau v́ lời mời thống thiết của Thái Sư Trần Thủ Độ "Bệ Hạ v́ mục đích tu cho riêng ḿnh mà làm như thế th́ được, nhưng c̣n quốc gia, xă tắc th́ sao? Ví để lời nói suông mà răn bảo đời sau th́ sao bằng lấy chính thân ḿnh làm người dẫn đạo cho thiên hạ?" Sau đó nhà vua lại gắng quay về cung.] Chính sách lấy dân làm gốc đă được Trần Hưng Đạo thể hiện trong câu nói “Thời b́nh phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ. Đó là thượng sách giữ nước.”

 

Chính sách đoàn kết: toàn dân hợp lực. Trong tinh thần đó, Đức Trần Hưng Đạo kêu gọi: “Vua tôi một ḷng, anh em ḥa thuận, nước nhà chung sức, trăm họ là binh.”

 

Các yếu tố trên đă nói lên sự ưu việt của nghệ thuật lănh đạo chỉ huy của B́nh Bắc Đại Nguyên Soái Hưng Đạo Đại Vương thể hiện ở (1) sử dụng những người tài giỏi, biết địch, biết ta, khai thác thiên thời, địa lợi, và nhân ḥa: đó là Trí; (2) kích động tinh thần quyết tâm hy sinh cho tổ quốc: đó là Dũng; (3) yêu thương quân dân như người trong nhà: đó là Nhân. Với những nét ấy Ngài quả là một thiên tài về lănh đạo chỉ huy cổ kim hiếm thấy.

 

Công đức của nhà Trần nói chung và của Đức Thánh Trần Hưng Đạo nói riêng thật là vô cùng to lớn, đời trước và đời sau, ít có người sánh kịp. Vậy mà trong thời đại cộng sản loạn động, Hồ Chí Minh đă “bác bác, tôi tôi” tự ví ḿnh có công lao như Ngài bằng những câu thơ hết sức xấc xược:

 

Bác tôi, tôi bác, thật anh hùng

Cũng bậc mày râu, phận kiếm cung

Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc

Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng

Bác đưa dân nước qua nguy biến

Tôi dắt năm châu đến đại đồng

Bác có linh thiêng cười một tiếng

Mừng tôi cách mạng đă thành công.

 

Hành động bất kính của họ Hồ đă nói lên tinh thần hết sức ngạo mạn, thể hiện bản chất của hạng người bất nhân, bất nghĩa, và bán nước cầu vinh rất đúng với thực tế v́ họ Hồ đă hoàn toàn dựa vào sự huấn luyện và yểm trợ của Liên Xô, Trung Quốc, và nhiều nước CS khác, nên mới thắng được Pháp. Đời nay có bài thơ xuất xứ từ một vị ẩn danh tại B́nh Định ghi và được ông Hoài Việt (Camden, N J) viết cho báo Văn Nghê Tiền Phong (số 512) đăng như sau:

 

Giáng Bút của Đức Trần Hưng Đạo

 

Sao đem thành bại luận anh hùng

Ta khác hơn ngươi bút kiếm cung

Ta đuổi quân Nguyên trừ bá mộng

Ngươi pḥ quỷ đỏ diệt ṇi Hồng

Ta giành độc lập cho dân tộc

Ngươi dẫn non sông đến hăi hùng

Ta chết đi rồi hồn hiển hách

Ngươi c̣n bêu xác để khoe công.

 

* * *

 

Tội ác của họ Hồ nói riêng và của tập đoàn cộng sản nói chung, không bút nào tả cho hết, chỉ tạm tóm tắt như sau:

 

Tội Ác Cộng Sản

 

Tội Hồ cộng sản ngập non sông

Đất nước nơi nơi máu nhuộm hồng

Cờ đỏ sao vàng lừa trí, phú

Búa liềm vô sản mị công, nông

Ải quan + hải đảo: Mao chiếm cả

Lăng tẩm + thánh đường: Hồ phá không

Văn hiến + nhân quyền: chà đạp hết

Đất nào dung lũ phản Tiên Rồng!

Hải Bằng.HDB

 

* * *

 

 

Tóm lại chiến công hiển hách nhất trong sử Việt phải là chiến công của vị tướng tài đức vẹn toàn là Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Nêu lên công đức của Ngài không phải chỉ là để hănh diện mà là để tỏ ḷng biết ơn và tôn kính. Ước mong những công đức của Ngài soi rọi con đường sáng cho con cháu Lạc Hồng noi theo trên con đường phục vụ dân tộc và nhân loại.

 

* * *

 

Hải Bằng. HDB

 

TRAN HUNG DAO'S PROCLAMATION TO HIS OFFICERS

Translated and adapted by George F. Schultz 
 
I have often read the story of Ky Tin who replaced the Emperor Cao to save him from death, of Do Vu who took a blow in his back to spare King Chieu, of Du Nhuong who swallowed burning charcoal to avenge his leader, of Than Khoai who cut off an arm to save his country, of young Kinh Duc who rescued the Emperor Thai Tong besieged by The Sung, and of Cao Khanh, a subject living far from the Court, who insulted the rebel Loc Son to his face. Every century has produced heroes who have sacrificed their lives for their country. If they had remained at home to die by the fire, would their names have been inscribed on bamboo and silk to live eternally in Heaven and on the Earth? 
 
But as descendants of warrior families, you are not well-versed in letters; on hearing about these deeds of the past, you may have some doubts. Let us speak of them no more. I shall tell you instead of several more recent events that have taken place during the years of the Tong and Nguyen dynasties. 
 
Who was Vuong Cong Kien? And who was his lieutenant Nguyen Van Lap? They were the ones who defended the great citadel of Dieu Ngu against Mong Kha's immense army; Therefore, the Tong people will be eternally grateful to them.
 
Who was Cot-Ngai Ngot-Lang? And who was his lieutenant Xich Tu Tu? They were the ones who drove deep into an unhealthful country in order to put down the Nam-Chieu bandits and they did it within the space of a few weeks; therefore, their names have remained rooted in the minds of the Mongol military chieftains.
 
You and I were born in a period of troubles and have grown up at a time when the Fatherland is in danger. We have seen the enemy ambassadors haughtily traveling over our roads and wagging their owlish tongues to insult the Court. Despicable as dogs and goats, they boldly humiliate our high officials. Supported by the Mongol emperor, they incessantly demand the payment of pearls, silks, gold and silver. Our wealth is limited but their cupidity is infinite. To yield to their exactions would be to feed their insatiable appetites and would set a dangerous precedent for the future.
 
In the face of these dangers to the Fatherland, I fail to eat during the day and to sleep at night. Tears roll down my cheeks and my heart bleeds as if it were being cut to shreds. I tremble with anger because I cannot eat our enemy's flesh, lie down in his skin, chew up his liver, and drink his blood. I would gladly surrender my life a thousand times on the field of battle if I could do these things. 
 
You have served in the army under my orders for a long time. When you needed clothing, I clothed you; when you lacked rice, I fed you; when your rank was too low, I promoted you; when your pay was insufficient, I increased it. If you had to travel by water, I supplied you with vessels; if you had to travel by land, I supplied you with horses. In time of war, we shared the same dangers; at the banquet table our laughter resounded in unison. Indeed, even Cong-Kien and Ngot-Lang did not show more solicitude for their officers than I have displayed for you. 
 
And now, you remain calm when your emperor is humiliated; you remain indifferent when your country is threatened! You, officers, are forced to serve the barbarians and you feel no shame! You hear the music played for their ambassadors and you do not leap up in anger. No, you amuse yourselves at the cockfights, in gambling, in the possession of your gardens and rice fields, and in the tranquility of family life. The exploitation of your personal affairs makes you forget your duties to the State; the distractions of the fields and of the hunt make you neglect military exercises; you are seduced by liquor and music. If the enemy comes, will your cocks' spurs be able to pierce his armor? Will the ruses you use in your games of chance be of use in repulsing him? Will the love of your wives and children be of any use in the Army? Your money would neither suffice to buy the enemy's death, your alcohol to besot him, nor your music to deafen him. 
 
All of us, you and I together, would then be taken prisoner. What grief! And not only would I lose my fief, but your property too would fall into enemy hands. It would not be my family alone that would be driven out, but your wives and children would also be reduced to slavery. It would not be only the graves of my ancestors that would be trampled under the invader's heel, but those of your ancestors would also be violated. I would be humiliated in this life and in a hundred others to come, and my name would be ignominiously tarnished. Your family's honor would also be sullied forever with the shame of your defeat. Tell me: Could you then indulge yourselves in pleasures? 
 
I say to you in all frankness: Take care as if you were piling wood by the fire or about to imbibe a hot liquid. Exercise your soldiers in the skills of archery until they are the equals of Bang Mong and Hau Nghe, those famous archers of olden times. Then we will display Tat-Liet's head at the gates of the Imperial Palace and send the King of Yunnan to the gallows. 
 
After that, not only my fief will be safe forever, but your privileges too will be assured for the future. Not only my family will enjoy the comforts of life, but you too will be able to spend your old age with your wives and children. Not only the memory of my ancestors will be venerated from generation to generation, but yours too will be worshipped in the spring and autumn of every year. Not only will I have accomplished my aspirations in this life, but your fame too will endure for a hundred centuries to come. Not only will my name be immortalized, but yours too will find a place in our nation's history. At that moment, would you not be perfectly happy even if you did not expect to be? 
 
I have studied every military treatise in order to write my manual entitled "Principles of Military Strategy". If you will make an effort to study it conscientiously, to instruct yourselves in its teachings, and to follow my directions, you will become my true companions-in- arms. On the other hand, if you fail to study it and ignore my advice, you will become my enemies. Why? Because the Mongols are our mortal enemies; we cannot live under the same sky with them. 
 
If you refuse to fight the Mongols in order to wash away the national shame, if you do not train your soldiers to drive out these barbarians, it would be to surrender to them. If that is what you want, your names will be dishonored forever. And when the enemy has finally been defeated, how will you be able to hold your head high between Heaven and Earth? 
 
The purpose of this proclamation is to let you know my deepest thoughts.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính