Nước Mỹ sau khi Việt Nam Cộng Ḥa “chết”

 

- Bài 3 -

 

Hà Minh Thảo

 

 

II* QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP.

 

A.- Quốc trưởng Bảo Đại cử Thủ tướng toàn quyền Ngô Đ́nh Diệm.

 

 

Trong hồi kư ‘Le Dragon d’Annam’ (Con Rồng Việt Nam’, Quốc trưởng Bảo Đại cho thấy ông rất quư trọng ông Ngô Đ́nh Diệm và đă mời ông này lập chính phủ tới 4 lần và ông chỉ nhận 2 lần:

 

1.- Lần đầu năm 1933, v́ muốn thực hiện chương tŕnh cải cách hầu khôi phục dần Chủ quyền Việt Nam, tôi đă đặt ông Diệm vào chức vụ Thượng thư bộ Lại, đứng đầu nội các kiêm Tổng thư kư Hội đồng hỗn hợp Việt Pháp về ‘Canh Tân’ do nhận thấy ông là một viên quan tỉnh trẻ tuổi nhất, Tuần vũ tỉnh Phan Thiết, chỉ mới 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh liêm khiết. Đây là một người quốc gia bảo thủ…. V́ thấy người Pháp không đáp ứng những yêu cầu của ông về canh tân nên chỉ vài tháng sau, ông Diệm đă từ chức để phản đối, dù vua cố thuyết phục ông tiếp tục. Bất đắc dĩ, vua phải chấp thuận sự từ chức… Lúc đó, Bảo Đại đă chỉ kỳ vọng ở ông Diệm khi viết ‘Ngô Đ́nh Diệm đi rồi, tôi hoàn toàn thất vọng’.

 

2.- Lần thứ tư và cũng là lần chót ngày 18.06.1954 khi hội nghị Genève đang khai diễn, Quân đội Pháp thất thủ Điện Biên Phủ gây viễn ảnh đen tối, nếu không nói là tuyệt vọng, cho giải pháp Bảo Đại và phe Quốc Gia, Quốc Trưởng lại một lần nữa t́m đến ‘người mà tôi tin cẩn’. Ông đă thuật lại đầu đuôi câu chuyện như sau:

 

«   …Tôi cho vời Ngô Đ́nh Diệm và bảo ông ta:

 

– Cứ mỗi khi tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông th́ lúc nào cũng từ chối. Nay t́nh thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lănh đạo chính phủ.

 

– Thưa Hoàng thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin tŕnh Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đă quyết định. Tôi định đi tu…

 

– Tôi kính trọng ư định của ông. Nhưng hiện nay tôi kêu gọi đến ḷng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của ḿnh. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.

 

Sau một hồi yên lặng cuối cùng ông ta đáp:

 

– Thưa Hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó.

 

Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một pḥng bên cạnh, trong đó có cây Thánh Giá. Trước Thánh Giá, tôi bảo ông ta:

 

– Đây Chúa của ông đây, ông hăy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đă trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn Cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.

 

Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nh́n tôi, sau nh́n lên Thánh Giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:

 

– Tôi xin thề. »

 

Như vậy, thật rơ ràng, Quốc trưởng đă ủy nhiệm cho ông Diệm chức vụ Thủ tướng toàn quyền v́ sự thông minh và liêm khiết của ông Diệm, một Kitô hữu đạo đức, dự định đi tu. Nhưng, do ḷng ái quốc và xác tín khả năng ḿnh, ông Diệm đă chấp nhận trách nhiệm ḿnh v́ sự tồn vong của Việt Nam. Sự toàn quyền đó là để ông Diệm bảo vệ Quê hương và Dân tộc hầu chống lại Cộng sản, tức ‘chống cộng’, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp, tức ‘chống thực dân’. Để ‘chống và thắng cộng’ cùng ‘đă thực’, chỉ duy nhất có Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm mới quyết tâm ‘bài phong.

 

3.- Hai lần ông Ngô Đ́nh Diệm đă từ chối sứ vụ.

 

Không có bằng cớ nào chứng tỏ ông Ngô Đ́nh Diệm được bổ nhiệm nhờ áp lực với Bảo Đại do những quan chức Hoa Kỳ.

 

Năm 1954, việc Ngô Đ́nh Diệm chấp chính là một chọn lựa dân chủ của Bảo Đại, với sự đồng thuận của tất cả các tôn giáo, các phong trào chính trị và đảng phái quốc gia tại Việt Nam. Đến chết, Bảo Đại vẫn tin rằng đây là một quyết định đúng lúc và đúng đắn, mặc dù sự chọn lựa này dẫn đến việc trưng cầu dân ư để ‘truất phế Bảo Đại, khai sinh Đệ nhất Cộng ḥa’.

 

Theo hoà ước Giáp Tuất (1874), miền Nam đă trở thành đất Pháp. Theo Hoà ước Giáp Thân (1884), miền Bắc và miền Trung vẫn thuộc chủ quyền nhà Nguyễn và dưới sự bảo hộ của Pháp. Trên thực tế, Pháp đặt ra Phủ Toàn quyền, lần hồi tước hết chủ quyền của vua. Năm 1893, Pháp đă buộc Triều đ́nh Huế chấp thuận cho Pháp toàn quyền giữ ǵn an ninh và cai trị vùng cao nguyên miền Trung.

 

Người Kinh không được phép lên làm ăn buôn bán và sinh sống ở đây. Nhà vua cũng không c̣n được thu thuế ở vùng này nữa. Đến năm 1897, Pháp băi bỏ chức Kinh lược sứ Bắc kỳ, giao quyền cho viên Thống sứ Pháp. Từ đó, ở Bắc kỳ, quan lại Việt Nam chỉ biết có Thống sứ chứ không c̣n biết đến triều đ́nh nữa. Để dễ bề thống trị, Pháp đặt luật lệ riêng cho mỗi miền và cao nguyên. Đó là thời gian khi Bảo Đại vừa chấp chính.

 

Trong thời gian Bảo Đại học ở Pháp, khâm sứ Pháp chủ toạ Hội đồng Nội các. Pháp đảm trách thu thuế và kiểm soát tài chính. Từ đó, triều đ́nh không c̣n ngân sách riêng. Mọi quyết định chi tiêu của nhà vua phải được phê chuẩn bởi các công chức Pháp…”.

 

Sau khi tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris, về nước, Bảo Đại đă bắt tay ngay vào việc cải cách Đất nước, từng bước khôi phục lại Chủ quyền quốc gia. Ngày 10.12.1932, Vua công bố một Đạo Dụ, theo đó, nước ta theo chế độ quân chủ lập hiến. Vua sẽ trực tiếp điều khiển nội các, và cho cải cách hành chính, giáo dục, tư pháp, cũng như muốn người Pháp thực thi đúng đắn Hoà ước 1884, để cho Triều đ́nh một ít quyền hành trong khuôn khổ nền bảo hộ Pháp. Theo đó, một nội các mới đă được thành lập gồm những người trẻ như Phạm Quỳnh, Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Đệ…

 

Những dự định cải cách này đă được ông Phạm Quỳnh, nguyên chủ bút Nam Phong, đề nghị từ trước qua bốn bài xă luận đăng trên báo France-Indochine ở Hà Nội, mà bài thứ ba nhan đề là “Tiến tới một Hiến pháp”. V́ đề nghị Phạm Quỳnh phù hợp với ước muốn cải cách, vua đă chọn Phạm Quỳnh làm Thượng thư Nội các mới thay thế Nguyễn Hữu Bài. Bảo Đại biết có thể theo chỉ thị của chính phủ Pháp, đă đề nghị Phạm Quỳnh vào chức vụ này.

Bảo Đại chọn Ngô Đ́nh Diệm v́: ‘… lúc ấy ông là tuần vũ tỉnh Phan Thiết, để đảm trách Bộ Lại. Vốn ḍng dơi quan lại, ông Diệm năm ấy mới 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh, liêm khiết. Đây là một người quốc gia bảo thủ. Ngoài chức vụ Thượng thư Nội các, ông Diệm c̣n là Tổng thư kư Hội đồng Hỗn hợp về Canh tân đă được ban bố năm trước bao gồm các thượng thư Việt Nam và hàng công chức cao cấp Pháp. Ngô Đ́nh Diệm đă được Nguyễn Hữu Bài trước khi về hưu, tiến cử ».

 

Bảo Đại đặt hết niềm tin vào hai ông Phạm Quỳnh và Ngô Đ́nh Diệm. Ông Quỳnh đầy viễn kiến lại được người Pháp hỗ trợ. C̣n ông Diệm th́ kinh nghiệm, uy tín và ước mong cải tổ xă hội Việt Nam. Những cải tổ kể trên bị các phần tử bảo thủ, lạc hậu, thực dân trong chính phủ Pháp kịch liệt chống đối nên nỗ lực của Bảo Đại và hai ông Quỳnh và Diệm bị tê liệt hoàn toàn.

 

Chỉ sau bốn tháng, ông Diệm xin Bảo Đại được từ chức. Vua đă khuyên ông Diệm như sau: « Quan Thượng, trẫm hiểu tinh thần trách nhiệm của quan Thượng. Sự liêm khiết ấy đă tôn vinh ông lên rất nhiều, nhưng cần phải chờ thời. Đất nước ta chưa sẵn sàng. Sau nữa, những năm sắp tới đây c̣n dành cho chúng ta nhiều biến chuyển. Trẫm biết ông và quan Thượng Nguyễn Hữu Bài vẫn có liên lạc chặt chẽ. Như thế, hẳn cụ Bài không quên nhắn nhủ ông những điều lo ngại của cụ. Chiến tranh khó có thể tránh được ở Âu châu, và như thế, sẽ có những hậu quả đối với Á châu mà Nhật Bản có thể là vai tṛ chủ chốt ». Cũng cần biết, năm 1907, vua Thành Thái bị Pháp bắt v́ liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để đang ở Nhật. Pháp buộc nhà vua thoái vị và đày sang đảo Réunion. Ngô Đ́nh Khả, thân phụ Ngô Đ́nh Diệm, lại là Thượng thư Bộ Lễ và tận trung không chịu cùng với các đại thần trong triều đ́nh theo lệnh Pháp kư tên vào tờ biểu yêu cầu vua Thành Thái thoái vị. V́ thế đă bị người Pháp giáng chức và bắt về hưu không cho lănh tiền hưu liễm.

 

a.  Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại đích thân mời và Cường Để đă nhận lời hồi hương giúp nước. Ngày 30.07.1945, tại Tokyo, cơ quan thông tấn Domei loan tin Cường Để đang trên đường về Việt Nam, do lời mời của Bảo Đại. Cường Để sẽ nắm chức Cơ mật Viện trưởng. Báo Hưng Việt, ngày 03.08.1945, đă viết: « … Theo ông Cường Để, mục đích của ông là khôi phục lại Độc lập cho Tổ Quốc, mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc chứ không v́ ngôi đế vương ».

 

Hai ông Nguyễn Hữu Bài và Ngô Đ́nh Diệm đều có liên lạc mật thiết với Cường Để. Cả hai vẫn tiếp tục được Bảo Đại tin dùng. Có phải hai ông Bài và Diệm đă được Bảo Đại giao phó trọng trách (hay ngầm thu xếp) liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để, nói riêng, và Nhật, nói chung?

 

Bảo Đại đă từng giao trách nhiệm liên lạc các đảng phái quốc gia và Việt Minh cho nhóm các ông Trần Trọng Kim, … để kêu gọi cộng tác hay kết hợp. Kỳ Ngoại hầu Cường Để là chú của Bảo Đại. Cho nên không có ǵ là lạ nếu hai ông Bài và Diệm đă được Bảo Đại giao phó trọng trách liên lạc với Kỳ Ngoại hầu.

 

Ông Nguyễn Đệ là bí thư của Bảo Đại. Một chuyên viên kinh tế, có thể đă được Từ Cung Thái hậu giới thiệu. Nguyễn Đệ cũng quen biết Nguyễn Hữu Bài và là bạn thân của Ngô Đ́nh Diệm. Sau khi ông Diệm từ chức, ông Đệ cũng xin từ chức. Sau này khi Bảo Đại làm Quốc trưởng, ông lại tiếp tục làm bí thư của Bảo Đại và được Bảo Đại hết mực tin dùng. Mặc dù có lúc Bảo Đại đă lo ngại Nguyễn Đệ là người của Toà thánh Vatican v́ ông đă được Toà thánh giới thiệu.

 

Trong hồi kư của ḿnh, Bảo Đại cũng nhắc đến việc Bùi Bằng Đoàn được giao nắm Bộ H́nh (tức Bộ Tư pháp). Ông này vốn là quan, có bằng luật khoa và đă 51 tuổi. Qua nội các đầu tiên, Bảo Đại đă cho thấy ông là người sẵn sàng tham khảo ư kiến và dung ḥa những quan điểm hoặc khuynh hướng khác nhau nhằm xây dựng nền tảng dân chủ, trong một thể chế quân chủ lập hiến.

 

 

Nhật đảo chính Pháp

 

Năm 1940, Nhật đánh Lạng Sơn, Pháp thua phải kư hiệp ước cho quân Nhật sang đóng trên lănh thổ Việt Nam. Năm 1945, phe Đức – Nhật yếu thế, khối Đồng minh nắm chắc phần thắng. Quân Pháp ở Việt Nam bắt liên lạc với quân Đồng minh. Nhật biết được, đêm 09.03.1945, Nhật cho nổ súng tấn công quân Pháp. Chỉ trong ṿng một đêm, cơ đồ thực dân Pháp xây dựng trong ṿng trăm năm đă hoàn toàn sụp đổ.

 

Ngày 11.03.1945, Đại sứ Nhật Marc Masayuki Yokoyama yết kiến Bảo Đại tường tŕnh việc Nhật chấm dứt chủ quyền Pháp ở Việt Nam và nhiệm vụ của ông là trao lại nền độc lập Việt Nam. Bảo Đại rất ngạc nhiên đặt thẳng vấn đề Nhật công khai bảo trợ Hoàng thân Cường Để rồi kết luận: « … C̣n tôi, tôi quan tâm đến dân tộc tôi hơn là quan tâm đến ngai vàng… » Việc Bảo Đại tự ư thoái vị (25.08.1945), và chấp nhận bị truất phế (23.10.1955) đă chứng minh Bảo Đại là lănh tụ ‘thờ ơ’ quyền lực.

 

Ngay chiều hôm đó, Bảo Đại cho triệu tập Hội đồng Cơ mật để thông báo, phân tích và thảo luận về t́nh h́nh mới. Bảo Đại yêu cầu tất cả các thượng thư đồng kư bản Tuyên ngôn Độc lập, do Phạm Quỳnh soạn từ gợi ư của Yokoyama, trong đó xác định « … kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ kư với Pháp được băi bỏ, và đất nước thu hồi Chủ quyền độc lập quốc gia…». Ngày 19.03.945, vua Bảo Đại báo cho thượng thư Phạm Quỳnh biết là từ nay, nhà vua tự tay đảm trách quyền lănh đạo quốc gia. Phạm Quỳnh ư thức được t́nh thế mới, đă cùng toàn thể thượng thư lục bộ xin từ chức. Bảo Đại cho lập nội các mới. Như đă nói ở trên có thể Ngô Đ́nh Diệm đă được Bảo Đaị giao phó trọng trách liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để và Nhật. Do đó Bảo Đại đă coi Ngô Đ́nh Diệm là ứng cử viên số một để lănh đạo chính phủ Việt Nam mới, và v́ vậy, Bảo Đại đă hai lần đích thân nhờ Đại sứ Nhật Yokoyama triệu hồi Ngô Đ́nh Diệm từ Sài G̣n về Huế thành lập chính phủ.

 

Ngô Đ́nh Diệm đă từ chối v́ lư do sức khỏe. Nhưng ít lâu sau Bảo Đại biết ông Diệm đă từ chối v́ hai lư do: thứ nhất, ông đă thề trung thành với Kỳ Ngoại hầu Cường Để và không muốn phục vụ Bảo Đại mà ông cho là thân Pháp; thứ hai là ông muốn lấy lại Nam Bộ và ba thành phố Hà Nội, Hải Pḥng và Đà Nẵng mà lúc này Nhật chưa trả lại cho Việt Nam.

 

Trong khi đó, trong hồi kư, Bảo Đại viết rất rơ: « …Trong óc tôi, người tiêu biểu nhất trong số này là Ngô Đ́nh Diệm… Ba tuần lễ trôi qua, mà chẳng thấy tăm hơi Ngô Đ́nh Diệm ở đâu. Trước thúc dục ngày càng khẩn thiết của tôi. Đại sứ Yokoyama trả lời là chưa t́m thấy vị Thủ tướng dự trù này. Sự chậm trễ ấy làm tôi suy nghĩ. Người Nhật rất thành thạo trong sự kiện xảy ra ở Việt Nam. Cơ quan t́nh báo của họ rất đắc lực, và họ biết chỗ và biết cách để t́m thấy nhân vật này. Về sau, tôi biết được qua lời nói của Đại sứ Yokoyama là ông Ngô Đ́nh Diệm không được cảm t́nh của chính phủ Nhật ».

 

Cuối cùng, chính phủ Trần Trọng Kim đă được thành lập và chỉ cầm quyền không quá 4 tháng (17.04 tới 05.08.1945).

 

 

Cách mạng tháng Tám 1945.

 

Sáng ngày 19.08.1945, nhiều chục vạn người dân Hà Nội và các tỉnh lân cận kéo đến quảng trường Nhà Hát Lớn. Lúc 10 giờ 30, cuộc tập hợp quần chúng cách mạng được bảo vệ bởi Thanh niên tự vệ và tổ chức bởi Việt Minh để tuyên bố: Tổng khởi nghĩa!

 

Ngày 23.08.1945, cuộc khởi nghĩa ở Huế giành thắng lợi nhờ sự đóng góp của lực lượng Thanh niên tiền tuyến, vốn là để bảo vệ trị an cho chính phủ Trần Trọng Kim đă quay sang ủng hộ Việt Minh. Trong những ngày cuối cùng, ông Trần Trọng Kim vẫn ra sức giữ ngôi báu cho nhà Nguyễn nhưng bất thành v́ các thành viên nội các đều từ chức và ủng hộ Việt Minh. Ngày 25.08.1945, Việt Minh và Thanh niên Tiền phong tổ chức biểu t́nh và giành chính quyền tại Sài G̣n, đang chịu sự cai trị trực tiếp của Nhật. Đến ngày 28.08.1945, Việt Minh cướp được chính quyền toàn quốc.

 

Ngày 22.08.1945, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đă giành được chính quyền trên khắp cả nước. Vua chấp nhận thoái vị và trở thành công dân Vĩnh Thụy. Ngày 25.08.1945, nhiều ngàn dân tụ tập trước cửa Ngọ Môn xem Vua đọc Tuyên ngôn Thoái vị, ông tuyên bố ‘muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị’.

 

Ngày 02.09.1945, nhiều gia đ́nh đă dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị đốt pháo để ăn mừng buổi lễ. Về đồng bào Công Giáo, v́ hôm đó rơi đúng vào ngày ‘Lễ mừng kính các Á Thánh tử v́ đạo Việt Nam’ (Phụng vụ lúc đó cử hành trọng thể Lễ vào Chúa Nhật đầu tháng 9), nên các nhà thờ ở Hà Nội sáng đó tràn ngập người tham dự Thánh Lễ. Việc chọn ngày này của Hồ Chí Minh c̣n nhằm gắn kết chính quyền mới với Giáo hội Công giáo? Các linh mục, sau khi cử hành tác vụ Đức Kitô cho dân Chúa, đă cùng giáo dân hướng về Quảng trường Ba Đ́nh để tham dự lễ ‘Tuyên bố Độc lập’, Bản Tuyên ngôn được chép từ bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, bắt đầu bằng câu: ‘Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền b́nh đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’. Suốt ḍng lịch sử, điều đó chỉ được hưởng bởi những đảng viên cộng sản chóp bu. Bởi thế, bịnh t́nh của họ cũng là điều ‘bí mật quốc gia’.

b.  Một mặt, v́ không thể thương lượng với Việt Minh, một tổ chức cộng sản; mặt khác, v́ cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để có phương tiện tài chính đối phó với cộng sản, Pháp phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ là từng bước nh́n nhận nền độc lập của Việt Nam. Ngày 20.03.1947, Pháp công bố Quyết nghị về chính sách mới của Pháp tại Việt Nam. Theo đó, chính phủ Pháp hướng về Bảo Đại như một giải pháp nhằm chấm dứt chiến tranh và từng bước trao trả độc lập thống nhất cho Việt Nam.

 

Nhân sĩơ và lănh đạo các tổ chức Quốc gia đă nhanh chóng hướng về Bảo Đại như tâm điểm, vừa chống Pháp, vừa chống Cộng sản, từng bước giành lại độc lập thống nhất cho Việt Nam. Tại Hồng Kông, Bảo Đại lắng nghe quan điểm chánh trị từng cá nhân và từng tổ chức trong nước để dung hoà các quan điểm khác nhau và tạo thế đoàn kết cho những người Việt quốc gia.

 

Ngày 05.07.1947, Bảo Đại chấp nhận vai tṛ Lănh đạo nếu được dân chúng Việt Nam tín nhiệm. Ngày 18.09.1947, nhà vua gởi lời kêu gọi đồng bào với mong muốn: « … đạt được độc lập và thống nhất, đúng như nguyện vọng của mọi người, đạt tới những thoả hiệp do sự bảo đảm hỗ tương, và có thể xác định với đồng bào là lư tưởng mà chúng ta từng dũng cảm chiến đấu trong cuộc kháng chiến gian lao, sẽ đạt được toàn diện… ». Ngày 07.12.1947, Cao ủy Bollaert kư Tuyên Ngôn Chung trên Vịnh Hạ Long với Bảo Đại, để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Sau đó, Bảo Đại sang Pháp xem xét t́nh h́nh rồi quay về Hồng Kông để tham khảo ư kiến Ngô Đ́nh Diệm, Trần văn Lư, Nguyễn văn Xuân, Phan văn Giáo… rồi cân nhắc nước cờ tới, từng bước đấu trí với người Pháp.

 

Ngô Đ́nh Diệm là một trong những người đă luôn sát cánh bên Bảo Đại trong thời gian này. Điều quan trọng là kế hoạch Ngô Đ́nh Diệm cổ vũ trong những cuộc gặp gỡ này phản ánh nhận thức về nền Cộng hoà trong ông: kế hoạch nhằm xây dựng một Hội đồng Việt Nam mới, trong đó ủy nhiệm Bảo Đại làm Đại diện trong các cuộc thương lượng với Pháp, và kế hoạch cũng quy định là cựu hoàng có nghĩa vụ phải hội ư với Hội đồng trước khi thực hiện bất cứ thỏa thuận nào về vấn đề độc lập.

 

Ngày 22.03.1948, Bảo Đại đă cử Ngô Đ́nh Diệm về Sài G̣n gặp Cao ủy Bollaert để t́m hiểu thái độ Pháp về việc thành lập một chính phủ trung ương lâm thời. Nhưng không mấy kết quả. Bảo Đaiï đề nghị tập hợp một Hội nghị vào ngày 26.03.1948 ở Hồng Kông, để ra một thông báo, thành lập một chính phủ trung ương lâm thời, không phải để điều đ́nh mà để dùng làm “Tạm ước sống c̣n” với nước Pháp, có tầm trách nhiệm hạn chế, nhưng thực hiện được tức khắc, hầu giúp cho hai bên cơ hội hiểu biết nhau và thoả hiệp bằng những sự việc cụ thể…

 

Trong hồi kư, Bảo Đại cho biết rơ ràng ‘Ngô Đ́nh Diệm vẫn là nhân vật đầu tiên mà ông nghĩ tới trong chức vụ Thủ tướng. Ông Diệm được mời, nhưng lại từ chối. Cuối cùng Tướng Nguyễn Văn Xuân đă được chọn. Ông là một người miền Nam, một công dân Pháp và đương kim Thủ tướng Nam Kỳ Cộng hoà quốc. Mục đích chính Bảo Đại chọn ông Xuân chỉ để người Pháp chấp nhận hai từ độc lập, thống nhất trong các văn kiện sẽ kư sau này với Pháp.

 

 

B.- Thủ Tướng nhậm chức.

 

Ngày 16.06.1954, họp báo ở Paris, ông Diệm tuyên bố: « Một nền ḥa b́nh lâu dài và trù phú đặt trên một nền tảng Quốc gia Độc lập và Dân tộc Tự do. Chỉ có một cuộc chuyển hướng chính trị mới mẻ, mới có thể đưa đến mục đích đó ». Ngày 25.06.1954, khi đặt chân xuống Sài G̣n, ông Diệm nói ông về là để ‘cứu văn t́nh thế, thực hiện ḥa b́nh với sự Thống nhất Lănh thổ và Chủ quyền Quốc gia, hoàn bị một nền ḥa b́nh trong Tự do, trong sự tôn trọng Nhân phẩm và Gia đ́nh. V́ chỉ nền ḥa b́nh ấy mới phù hợp với nguyện vọng của đồng bào là an cư lạc nghiệp trong một xă hội Công b́nh và Dân chủ’.

 

Tại sân bay Tân Sơn Nhất, khi ông Ngô Đ́nh Diệm xuống máy bay, đă có khoảng 500 người đón tiếp ông, phần đông thuộc giới Công giáo và các thành viên Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam. Hoàn cảnh cực kỳ bấp bênh và rối loạn bên bờ vực thẳm về chính trị, quân sự, kinh tế và xă hội. Thủ tướng Diệm lấy làm lo lắng và sót sa khi thấy Quốc gia đang bị băng hoại, tham ô, và quan lại. Ông phải phấn đấu và giữ sáng suốt để đương đầu trước một hoàn cảnh đầy khó khăn, phức tạp và tế nhị khi hai cường quốc Pháp và Mỹ đang tranh giành xa xé ảnh hưởng tại Việt Nam.

 

Lúc bấy giờ, ai có thể ổn định được t́nh thế th́ đă xứng đáng là một vị cứu tinh rồi.

Ngày 01.10.1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower viết cho ông Diệm một lá thư và được Đặc sứ Mỹ Donald R. Heath trao ngày 23.10.1954 với nội dung Mỹ cam kết ủng hộ kinh tế và quân sự cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.

 

Chánh phủ Bửu Lộc chỉ bàn giao lại dinh Gia Long và sở Nội dịch với năm bảy chiếc xe cũ kỹ, cùng một tiểu đội cảnh sát canh gác. Vài hôm sau, Thủ tướng bay ra Hà nội để xem xét t́nh h́nh và tiếp xúc chánh khách miền Bắc để mời tham gia chính phủ và Nội các được tŕnh diện quốc dân đồng bào ngày 07.07.1954. Trong đó, ông Ngô Đ́nh Diệm là Thủ tướng kiêm Tổng trưởng bộ Quốc pḥng và bộ Nội vụ. Tuy nhiên, ông không có trong tay Quân đội (Tướng Nguyễn văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng, nắm giữ) và Công an Cảnh sát do B́nh Xuyên chỉ huy.

 

Sau đó, Thủû tướng Ngô Đ́nh Diệm đáp phi cơ đi kinh lư Bắc Việt và mời Nhân tài tham gia Chính phủ.

 

 

C.- Những Biến cố Đáng Ghi trong năm 1954.

 

Vào năm 1954, khi có triệu chứng Pháp thua tại Đông Dương và Cộng sản có cơ hội chiếm Việt Nam, Hoa Kỳ quyết định can thiệp để thay Pháp và đểá bảo vệ Quốc gia Việt Nam. Chính phủ Mỹ muốn t́m người để ủng hộ. Lúc đó Ngoại Trưởng Mỹ John Foster Dulles biết được ông Diệm. Với tài quản trị, ái quốc, và chống Cộng triệt để, ông Diệm lấy được cảm t́nh của nhân dân Mỹ.

 

1.- Điện Biên Phủ thất thủ.

 

Tin Điện Biên Phủ mất vào ngày 07.05.1954, chẳng những làm thất vọng nhiều người Pháp mà c̣n tạo một bầu không khí tuyệt vọng nơi những người Việt quốc gia, trong đó có Bảo Đại, và cả người Mỹ.

 

2.- Hội nghị Genève 1954

 

Hội nghị Genève 1954 được khai mạc ngày 26.04.1954 tại Thành phố Genève (Thụy Sỹ) để bàn về vấn đề khôi phục hoà b́nh tại Triều Tiên và Đông Dương. Nhưng vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 08.05.1954, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận, dưới sự đồng chủ tọa của Anthony Eden (trưởng đoàn Anh) và Viacheslav Molotov (trưởng đoàn Liên bang Xô viết) với các phái đoàn: Pháp, Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa, Lào, Campuchia, Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

 

Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự này được kư bởi đại diện hai lực lượng quân sự chính có liên quan, là Thiếu tướng Delteil (Pháp) và Tạ Quang Bửu (Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa) có nội dung chính như sau:

 

-   Ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.

 

-   Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. - 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa 2 miền.

 

-   Mỗi bên quản lư lănh thổ Hiệp định chia cho ḿnh chờ đến khi tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam.

 

-   Thành lập hai cơ quan kiểm soát: Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến (tiếng Anh: International Control Commission, ICC; tiếng Pháp: Commission Internationale pour la Surveillance et le Contrôle, CISC) gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch và Ban Liên hợp (tiếng Anh: Joint Commission; tiếng Pháp: Commission Mixte) gồm Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

 

Trưởng đoàn Quốc gia Việt Nam, Trần Văn Đỗ, phản đối sự chia cắt đất nước bất cứ ở đâu và đă không kư vào bản hiệp định. Hoa Kỳ cũng không kư.

 

Cuối cùng, v́ tranh căi và mặc cả vào buổi chiều ngày 20.07.1954, Hiệp ước đ́nh chiến chỉ được soạn thảo xong và kư kết sau 12 giờ đêm, tức qua sáng 21.07.1954, nên đồng hồ ở trụ sở nơi họp vẫn giữ nguyên ở 12 giờ đêm 20.07.1954. Ngày 21.07.1954, khi Tổng thống Eisenhower họp báo để giải thích hiệp định Genève cho quốc dân Mỹ, th́ bên ngoài đă có một nhóm sinh viên Việt Nam biểu t́nh lên án các cường quốc chia đôi đất nước của họ.

 

3.- Cuộc di cư từ Bắc vào Nam.

  

Trong khi chính phủ Pháp đưa 36.000 quân viễn chinh Pháp vào Nam th́ chính phủ Việt Nam, với sự trợ giúp phương tiện của Hoa kỳ và Pháp, phụ trách việc tiếp đón và t́m nơi tạm trú cho trên 800 ngàn đồng bào di cư từ Bắc vào Nam. Nếu công an và bộ đội cộng sản không ngăn chận bằng vơ lực, th́ số người di cư chắc chắn đă c̣n tăng cao hơn. Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm cho lập phủ Tổng Uỷ Di Cư.

 

Bản thân chúng tôi nhớ lại, lúc đó, được nghỉ Hè một thời gian dài hơn b́nh thường v́ trường được dùng làm nơi tạm trú và, khi đi học lại, các lớp học phải đón ba nhóm học sinh khác nhau: sáng, trưa và chiều. Tại các nhà thờ, v́ lúc đó chưa thể dâng lễ đồng tế, nên chỉ một Linh mục dâng Thánh Lễ tại bàn thờ chính và, đồng thời, có thể có Linh mục khác dâng Thánh Lễ tại bàn thờ phụ với người giúp lễ bắt buộc.

 

Ngày 07.07.1954, Chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm chấp chánh Thủ tướng và tŕnh diện Chính phủ,

 

D.- Đem lại Độc Lập cho Tổ Quốc.

 

Để cho Toàn Dân được Dân Chủ th́, trước hết, Tổ Quốc phải được Độc Lập tức Chủ quyền Quốc gia phải nằm trong tay Quốc Dân Việt Tự Do và được ngoại bang tôn trọng. Khi đó, mỗi Công Dân mới có thể tham gia bầu người đại diện cho ḿnh Lănh đạo Xă Hội. Bởi thế, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm phải tiến hành:

 

a./ Tiếp thu Dinh Norodom.

 

Khi từ Pháp về nước, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm cư ngụ và làm việc tại dinh Gia Long như các Thủ tướng tiền nhiệm trong khi Cao ủy Đông dương (Haut-commissaire de France en Indochine đại diện chính phủ Pháp để ‘cai trị’ vùng đất thuộc địa. Trước 1945, chức này có tên là Toàn quyền Đông dương (Gouverneur-général de l'Indochine Française với nhiều quyền hành hơn) ở tại Dinh Norodom, rộng lớn hơn, biểu hiện quyền người Pháp ở Việt Nam. Do đó, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm phải dành cho được nơi này.

 

Ngày 07.09.1954, Dinh Norodom được bàn giao giữa Cao ủy Pháp, Thống tướng 5 sao Paul Ely và Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm. Khi đó, quốc kỳ Pháp được hạ xuống và cờ Việt Nam được kéo lên. Thủ tướng Diệm cho đổi tên thành Dinh Độc Lập.

 

=   > {Trí nhớ trẻ lúc 10 tuổi c̣n nhắc tôi: những fromage và bánh ngọt do Mỹ Quốc viện trợ dều có dán nhản hiệu này với cờ Mỹ và Việt. Dưới chữ ‘Mỹ Quốc Viện trợ’ có h́nh bán nguyệt, trong đó có cờ Pháp. Ư nghĩa: v́ chưa có độc lâp nên Việt Nam phải qua trung gian Pháp. Sau đó, ḍng chữ ‘viện trợ’ biến mất thay thế bằng h́nh ảnh ‘hai bàn tay bắt nhau’ và cờ tam săt cũng không c̣n, quà biếu được trao thẳng giữa hai quốc gia độc lập.}

 

b./ Dành quyền chỉ huy Quân đội.

 

Ngày Song thất (7 tháng 7) năm 1954, khi Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm thành lập Nội các, giới quan sát chánh trị quốc tế nhận định chánh phủ không thọ quá 6 tháng v́ ông Diệm, tuy kiêm nhiệm Tổng trưởng Quốc pḥng lẫn Nội vụ, nhưng không nắm được Quân đội và Cảnh sát. Các lực lượng này đặt dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng, và ông Lê văn Viễn, tức Bảy Viễn, thủ lănh B́nh Xuyên, đều là đàn em của Tướng Ely, Cao ủy Pháp.

 

Ngày 09.09.1954, Tướng Hinh dùng đài phát thanh Pháp Á để chỉ trích Thủ tướng và đ̣i cải tổ chánh phủ. Ngày 11.09.1954, Thủ tướng Diệm ra lệnh tướng Hinh phải đi Pháp trong ṿng 24 tiếng, với nhiệm vụ khảo sát tổ chức quân đội Pháp trong ṿng 6 tuần. Tướng Hinh từ chối và phản đối bằng cho một tiểu đội thiết giáp chạy quanh dinh Độc lập và dùng đài phát thanh chống chánh phủ. Tướng Hinh gởi thư yêu cầu sự can thiệp của Bảo Đại.

 

Ngày 20.09.1954, 9 trên 18 Tổng, Bộ trưởng lo sợ t́nh h́nh, đệ đơn xin từ chức. Nhưng Đại tá Landsdale (CIA) và Ṭa Đại sứ Hoa kỳ đă giúp ông Diệm giải quyết được cuộc khủng hoảng. Đại sứ Heath nói với tướng Hinh Hoa kỳ sẽ ngưng viện trợ quân sự và Đại tá Landsdale tặng hai vé phi cơ đi Manila cho hai sĩ quan tham mưu của tướng Hinh. Sau đó, Thủ tướng cử tướng Lê văn Tỵ thay tướng Hinh trong chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội.

 

Sự khó khăn khác lại đến với Thủ tướng Diệm v́ ông từ chối đề nghị của Đại sứ Heath và tướng O’Daniel, trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ, yêu cầu ông giữ tướng Hinh lại trong Quân đội. Do đó, Đại sứ Heath thay đổi thái độ, gửi điện tín về Washington để tố cáo Thủ tướng Diệm bất tài và cần thay đổi.

 

=> Bộ mặt ‘thực dân Mỹ’ bắt đầu lộ diện. Ông Diệm nhận nhiệm vụ Thủ tướng toàn quyền từ tay Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.

 

Tuy nhiên, Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Hội đồng an ninh Quốc gia cùng Lưỡng viện Quốc hội lại thấy ông Diệm có thể lănh đạo mặt trận chống Cộng ở Đông nam Á châu, nên bác bỏ đề nghị của đại sứ Heath và Tổng thống gửi tướng Lawton Collins, đặc sứ sang Sài g̣n với thư của Tổng thống Mỹ xác nhận ủng hộ Thủ tướng Diệm và đề nghị thảo luận với ông một chương tŕnh viện trợ kinh tế và quân sự quy mô hơn.

 

Chuyện lại chẳng may, hai tướng Collins và Ely, Cao ủy Pháp, quen nhau từ Đệ nhị Thế chiến và Ely đă chi phối được Collins. Nên, ngày 08.12.1954, hai ông vào hội kiến Thủ tướng Diệm tại dinh Độc lập và yêu cầu bổ nhiệm ông Phan huy Quát làm Tổng trưởng Quốc pḥng và Bảy Viễn làm Tổng trưởng Nội vụ. Ông Diệm từ chối, tướng Collins nổi giận và đề nghị chính phủ Hoa kỳ đưa Bảo Đại về và ủng hộ Phan huy Quát làm Thủ tướng thay ông Diệm. Nếu không thực hiện được điều này, th́ Mỹ nên rút ra khỏi Việt Nam.

 

[Tại đây cũng vậy, nếu là người có tài và đức, muốn giúp Nước th́ phải biết, muốn được chấp thuận, chỉ có thể hội ư với Thủ tướng toàn quyền Ngô Đ́nh Diệm hay nhờ sự can thiệp từ Quốc trưởng Bảo Đại. Nhờ đến hai tướng cựu và tân thực dân nói lên sự khinh khi Chủ quyền Quốc gia. Rất tiếc, bác sĩ Phan Huy Quát, trong thời Quân quản đệ nhị Cộng ḥa đă được cho làm Thủ tướng đă bị Johnson đổ bộ lính tác chiến Mỹ vào VNCH không phép Chánh phủ VNCH và, sau đó, phải giao Chính phủ dân sự cho Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Chúng tôi xót thương cho bác sĩ đă qua đời v́ không có thuốc trong ngục tù cộng sản.]

 

Đọc xong tường tŕnh này, Tổng thống Eisenhower và Bộ trưởng Ngoại giao Foster Dulles thật hoang mang, lưỡng lự. Hai ông mời Thượng nghị sĩ Mike Mansfield (Dân chủ, đối lập) đến ṭa Bạch ốc để hội ư và ông nầy bác thỉnh cầu của tướng Collins v́ Thủ tướng Diệm đang hành động tích cực. Ngày 14.12.1954. Tổng thống Eisenhower chỉ thị cho tướng Collins tiếp tục viện trợ cho Việt Nam và ủng hộ Thủ tướng Diệm.

 

c. Độc lập về tài chính. 

 

Ngày 30.12.1954, chánh phủ Pháp và đại diện 3 nước Việt-Miên-Lào kư Hiệp định Paris, theo đó, Pháp nh́n nhận toàn vẹn chủ quyền tài chánh và tiền tệ của 3 nước Việt-Miên-Lào và có hiệu lực kể từ ngày 02.01.1955. Kết quả là từ nay, ngân khoản viện trợ của các nước được chuyển thẳng vào trương mục của Việt Nam, chứ không phải qua Ngân hàng Pháp quốc (Banque de France) như trước đó. Từ đây, chánh phủ Việt Nam toàn quyền quản lư ngân sách quốc gia.

 

Mặc dù c̣n nhiều khó khăn trước mắt, nhưng những thành quả đạt được trong 6 tháng qua thật đáng khích lệ, Thủ tướng Ngô đ́nh Diệm cho tổ chức Thánh Lễ đêm Giáng sinh ngày 24.12.1954 ngoài sân sau dinh Độc lập, để tạ ơn Thiên Chúa.

 

(C̣n tiếp)

 

 

Vietcatholic, ngày 11.11.2021

Hà Minh Thảo

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính