Nước Mỹ sau khi Việt Nam Cộng Ḥa “chết”

 

- Bài 2 -

 

Hà Minh Thảo 

 

 

1.7/ Gia Đ́nh trị hay sự hợp tác từ những thân nhân tài và đức.

 

Trước khi ĺa đời năm 1923, cụ Ngô Đ́nh Khả trăn trối với các con ‘Hăy cộng tác với Diệm tận lực đem lại Độc Lập cho Tổ Quốc và Tự Do cùng Dân Chủ cho Quốc Dân Đồng Bào’.

 

Gia Đ́nh gồm những ai?

 

i/ Đức cha Phêrô Martinô Ngô Đ́nh Thục. Sau khi ông Ngô Đ́nh Khôi* qua đời năm 1945, Đức cha được trọng kính bởi các em v́ ‘quyền huynh thế phụ’ và ‘Giáo sĩ trong Đạo’

 

đ {* Tháng 03/1945, ông khuyên Vua Bảo Đại đừng thoái vị v́ ông đă tính trữ một số vũ khí và con là Ngô Đ́nh Huân giữ vai tṛ liên lạc giữa Triều đ́nh Huế và Nhật Bản. Mùa thu 1945, hai ông Khôi và Huân cùng bị Việt Minh bắt với ông Phạm Quỳnh và bị đem đi xử bắn ở rừng Hắc Thú. Khi ông Khôi bị dẫn đi bắn, ông Huân nắm áo cha kéo lại. Những cán bộ Việt Minh quát mắng và đánh anh ta, anh nói chẳng thà anh ta chết với cha, và họ xử bắn cả hai cha con.}

 

Ngày 20.12.1925, tại Roma, Thầy Ngô Đ́nh Thục thụ phong linh mục. Ngày 04.05.1938, tại nhà thờ Chính ṭa Phủ Cam (Huế), Đức cha Antonin Drapier, Khâm sứ Ṭa Thánh, chủ lễ tấn phong Đức cha cho Cha Ngô Đ́nh Thục. Đây là vị Giám mục người Việt thứ ba và là Giám quản tiên khởi Địa phận Vĩnh Long. Năm 1960, Giáo hội Công giáo tại Việt Nam được Ṭa Thánh thiết lập Hàng giáo phẩm chính ṭa. Đức cha Ngô Đ́nh Thục được thăng Tổng Giám mục Huế và nhậm chức ngày 12.04.1961.

 

Năm 1963, đa phần chính quyền VNCH bị cho rằng liên hệ tổ chức ‘Lễ Bạc’ kỷ niệm 25 năm Giám mục cho Đức cha bị cho là kéo dài từ tháng 3 với một Ủy ban Ngân khánh do Chủ tịch Quốc hội đứng đầu và nhều Bộ trưởng là Ủy viên. Tuy đă có những than văn tới tai Tổng thống, nhưng do nể Đức cha, rất tiếc ông Diệm không nhắc nhở.

 

Ngày 05.05.1963, thành phố Huế treo đầy cờ và khẩu hiệu để mừng lễ này. Trong số cờ đó, có cờ Ṭa Thánh nửa vàng nửa trắng và h́nh Đức Giáo Hoàng (xin lưu ư: Đó không phải là cờ Giáo hội Công giáo, chỉ có Thánh Giá mới là biểu tượng cho Đạo Công giáo.

 

Rất tiếc khi người ta tuyên bố ‘không sân si’, nhưng vẫn luôn phân b́. Do đó, xin Giáo sĩ nên lưu ư.

 

Người ta c̣n đồn thổi Đức cha loan truyền Đạo để có thêm người Công giáo để Ngài được phong Hồng y. Hơn nữa, khi học ở Rôma, Đức cha đă có đến 4 bằng tiến sĩ, và cả trường ai cũng ngợi khen Ngài. Nay Đức cha quá thâm niên và nhiều Đức cha bạn của ngài đang là Hồng y. Nhưng Việt Nam bị chia cắt, và Toà Thánh cũng khôn ngoan khi bên đời em là Tổng Thống và anh làm Hồng y coi sao được?

 

Không đúng vậy. Việc truyền đạo là nhiệm vụ của mọi Kitô hữu, đặc biết đối với các Giáo sĩ. Hồng y là cố vấn của Đức Thánh Cha và Ngài muốn chọn ai là quyền của Ngài như trường hợp dưới đây.

 

Sau khi tin Kennedy qua đời đến Vatican, đúng khóa Công đồng chung Vatican 2 đang họp, nên có đề nghị cầu nguyện cho linh hồn Tổng thống Mỹ. Đức cha Ngô Đ́nh Thục phiền trách v́ không ai đề nghị cầu nguyện cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị Mỹ thuê người thảm sát.

 

Chúng tôi xin góp ư. Cả hai đều đúng. Đức cha Ngô Đ́nh Thục đau ḷng v́ hai người em bị thảm sát khi đă đầu hàng và ông Diệm cũng là Tổng thống như Kennedy. Thật một bất công.

 

Nhưng khi suy nghĩ sâu hơn, chúng có thể tự an ủi. Chúng tôi xác tín ông Diệm đă được gặp Linh mục Jean, MEP., hành xử quyền Đức Kitô để xóa tôäi và ban Của Ăn đi đường về Nhà Cha. Điều này đă được Cha xác nhận với Hồng y Đáng Kính P.X. Nguyễn Văn Thuận. Do đó, linh hồn Gioan Baotixita đă thẳng về Thiên Đàng hưởng Nhan Thánh Chúa.

 

Hưởng ứng lời mời cầu nguyện cho linh hồn ông Kennedy, Linh mục ERNEST SIMONI, Ḍng Phanxicô Albanie đă chủ tọa Thánh Lễ Giáng Sinh ngày 24.12.1963, có cầu nguyện cho Kennedy. Lễ xong, công an cộng sản đă bắt giữ và tuyên án tử h́nh. Sau đó, cải thành chung thân khổ sai Cha trong hầm mỏ chrome. Cha vẫn lần chuổi và dâng Thánh Lễ bí mật.

 

Tuy được tuyên bố trả tự do năm 1981, nhưng vẫn bị buộc lao động vét cống rănh cho đến năm 1991 khi cộng sản tan ră. Khi đó, Cha mới tự do thi hành Sứ vụ Linh mục ḥa giải 60 gia đ́nh chia rẽ v́ chế độ dă man.

 

Ngày 21.09.2014, Cha đă gặp Đức Thánh Cha Phanxicô khi Người viếng thăm Mục vụ Albanie. Người rất cảm động khi nghe chứng tích của Cha Simoni.

 

Ngày 09.10.2016, trong sự ngạc nhiên hoàn toàn, Đức Thánh Cha tuyên bố chọn Cha vào Hồng y đoàn. Ngày 19.11.2016, Đức Phanxicô trao Mũ Hồng y cho Cha, đẳng Phó tế và nhận Nhà thờ Hiệu ṭa là ‘Đức Mẹ Cầu Thang’ (Santa Maria della Scala) nơi Đức Hồng y PX. Nguyễn Văn Thuận nhận khi sinh thời và đă được cải táng tại đây ngày 08.06.2012.

 

 

ii/ Ngô Đ́nh Nhu.

 

Năm 1938, ông tốt nghiệp ngành lưu trữ tài liệu cổ Trường pháp điển quốc gia (École nationale des chartres) ở ParisPháp. Năm 1938, về nước với hai bằng Lưu trữ – Cổ tự và cử nhân khoa học, ông vào làm việc tại Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (Hà Nội) với chức Quản thủ viên phó hạng ba.

 

Ngay năm đó, ông đă được Giám đốc Sở này Paul Boudet đánh giá là một ‘lưu trữ viên cổ tự trẻ đầy triển vọng’ v́ ‘hội tụ được cùng một lúc văn hóa truyền thống không thể thiếu trong vai tṛ một Quản thủ viên Lưu trữ Hoàng triều và một khả năng hoàn hảo về nghề nghiệp nhờ có học thức uyên bác và vững chắc cho tổ chức Lưu trữ và Thư viện An và Lưu trữ của Hoàng triều’. Năm 1942, ông được đề bạt làm người thành lập cơ quan Lưu trữ và thư viện Trung Kỳ ở Huế nhằm tổ chức lại tài liệu của nhà Nguyễn.

 

Trong thời gian làm công tác lưu trữ văn thư (1938-1944), ông Nhu đă có những đóng góp đối với hoạt động lưu trữ ở Việt Nam, một công tác vẫn c̣n mới mẻ ở thời bấy giờ. Oâng tỏ ra là một con người có khả năng và chăm chú vào việc chuyên môn một cách ‘thuần túy’, không màng tới chính trị. Với năng lực và sự đam mê nghề nghiệp, cùng sự hậu thuẫn từ gia đ́nh có quan hệ mật thiết với người Pháp và Triều đ́nh nhà Nguyễn, con đường công danh ông Nhu liên tục phát triển mạnh. Chỉ trong 6 năm, ông ta được thăng hạng từ Cố vấn quản thủ hạng Ba lên hạng Nhất. Từ cố vấn quản thủ trở thành Quản thủ Sở Lưu trữ và Thư viện Ṭa Khâm sứ Trung kỳ ở Huế năm 1943.

 

Con đường công danh ông Nhu liên tục phát triển mạnh. Chỉ trong 6 năm, ông được thăng hạng từ Cố vấn quản thủ hạng Ba lên hạng Nhất. Từ Cố vấn quản thủ trở thành Quản thủ Sở Lưu trữ và Thư viện Ṭa Khâm sứ Trung kỳ ở Huế năm 1943, một tốc độ thăng tiến rất nhanh.

 

Ngày 02.09.1954, đảng Cần lao được thành lập với ṇng cốt là các tổ chức chính trị được thành lập sau cách mạng tháng 8/1945. Thành phần đảng là các tín đồ Công giáo di cư và công chức cùng sĩ quan trung cao cấp. với số đảng viên tới 70.000. Ông Nhu làm Tổng bí thư. Cương lĩnh và Tuyên ngôn của Đảng cho thấy rơ vai tṛ đảng và của ông đối với chính quyền VNCH. Nhờ sự giúp đỡ của Mỹ, đảng Cần lao phát triển nhanh chóng, nhờ hàng ngũ quân đội, công chức, trí thức và cả giới kinh doanh và trở thành chính đảng lớn nhất thời đó. Vấn đề chính là các đảng viên có thành tâm như chúng ta đă thấy vào ngày 01.11.1963 không?

 

 

iii.  Trần Lệ Xuân.

 

Hồi kư của Bà Ngô Đ́nh Nhu, do thứ nam Ngô Đ́nh Quỳnh phổ biến ngày 02.11.2013 tại Giáo xứ Việt Nam Paris, sách tiếng Pháp ‘La République du Việt Nam et les Ngô Đ́nh’ (Nền Cộng ḥa Việt Nam và Gia đ́nh Ngô Đ́nh) mà hơn một nửa là hồi kư của mẹ ông. Ông cho biết lư do ra đời quyển sách này như sau: “Sách có một phần hồi kư của Mẹ tôi được viết từ năm

 

1963. Chúng tôi muốn làm rơ một phần lịch sử hăy c̣n mù mờ. Một số sai lầm về h́nh ảnh của hai anh em họ Ngô mà cả bên Tây Phương lẫn đảng Cộng sản Việt Nam đă loan truyền. Từ quyển sách này, chúng tôi muốn đem lại cái nh́n đúng đắn hơn, đồng thời có phần đóng góp của Mẹ tôi với nhăn quan có phần huyền bí của Bà. Thế thôi!»

 

Bà Nhu cho người đọc hiểu rằng bao nhiêu biến cố, đảo chánh, ám sát, v.v. thời Việt Nam Cộng ḥa đều là do bàn tay của thực dân và đế quốc chủ động hết, do đó bà không nói nhiều đến những tay sai người Việt của chúng. Bà cho rằng với những ǵ bà viết ra, chỉ có đám thực dân là phải tự vấn lương tâm (tr. 190)!

 

Bà Ngô Đ́nh Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân viết xong tập hồi kư ngày 22.08.2010 tại nhà ở ngoại ô Rome nước Ư, do sự thôi thúc của cô gái út Lệ Quyên và con rể Olindo Borsoi (mà bà xem là do Chúa sắp đặt v́ bà đă muốn giữ im lặng, tr. 190), và 6 tháng sau, ngày 24.04.2011, bà qua đời tại bệnh viện ở La-Mă, tên thánh Maria, thọ 87 tuổi, sau 48 năm sống lưu vong.

 

Bà sinh năm 1924 tại Hà Nội, thân phụ là Trần Văn Chương, con Tổng đốc Nam Định, mẹ là Thân Thị Nam-Trân. Bà là cháu ngoại vua Đồng Khánh và là cháu họ vua Bảo Đại. Bà học Albert Sarrault, thi đậu tú tài Pháp. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với ông Ngô Đ́nh Nhu ở Hà Nội ngày 30.04.1943, sau đó ông bà về sống ở Huế.

 

Không biết khi đặt tựa ‘Viên Sỏi Trắng’/ ‘Le Caillou blanc’ cho cuốn hồi kư, bà muốn nói thân phận bà bị lịch sử đối xử như vậy mà vẫn trắng trong, nhỏ bé, hay muốn tả nỗi ḷng trơ như đá, bất nhẫn trước thời cuộc? Thật vậy, trong hơn nửa tập hồi kư, bà nói đến chuyện tâm linh, những chuyện cao xa hơn chuyện thế tục thường t́nh, về sự hiện hữu của Thượng Đế và của con người. Mở đầu hồi-kư, bà Nhu ghi lại lời sách Khải Huyền ‘Ai có tai, th́ hăy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh: Ai thắng, Ta sẽ ban cho man-na đă được giấu kỹ; Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên sỏi đó có khắc một tên mới; chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lănh nhận’ (Apocalyse 2, 17). Và thêm lời Thánh Thư Luca: ‘Ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, th́ kẻ ấy là người lớn nhất’ (Luc 9, 48).

 

Bà bắt đầu hồi kư ở chương 1, ‘Lư lẽ của định mệnh’ như sau: ‘Vào cuối cuộc đời tôi, sau nửa thế kỷ im lặng, và v́ ư nghĩa đơn thuần của nhiệm vụ, tôi ghi lại những ǵ cần phải được biết. Đó là sự giải thoát cho tất cả. Không phải để thỏa măn ṭ ṃ nào đó, nhưng để trả lại những ǵ mà định mệnh đă đ̣i hỏi ‘kẻ nhỏ nhất’ của Thiên Chúa, vào thời điểm của kẻ đó. Tôi bắt đầu cuốn kư ức này, nếu tôi có thể viết xong được, cốt để làm cho người khác hiểu được những đ̣i hỏi của một chuỗi dài đời sống đă được định sẵn trước, nhận ra rằng cuộc sống không bao giờ có hành động trái với ư muốn của ḿnh, mà trái lại, luôn luôn như là phải như vậy” (tr. 112).

 

Như vậy, bà xem thân phận bà như viên sỏi trắng ‘nhỏ bé’ mà định mệnh đă đặt vào thời đó, nơi đó. Từ suy nghĩ về cuộc đời ḿnh, bà khám phá ra được Thiên Chúa một cách bất chợt và khủng khiếp. Cái ǵ thuộc về Tạo Hóa sẽ trả lại cho Tạo Hóa để thực hiện đầy đủ và tột cùng chương tŕnh của con người. Định mệnh, đó là cắt nghĩa đơn giản của bà lúc này là lúc bà đă bắt đầu cảm nhận sống những ngày tháng cuối đời, và trước nay bà sống một cuộc sống mà bà không bao giờ nghi ngờ ǵ.

 

Bà ra đời do một bác sĩ người Pháp đỡ đẻ thay v́ là một cô mụ người Việt, ông ta nắm 2 chân trẻ sơ sinh và đánh vào mông thật mạnh cho đến khi đứa bé khóc ré lên phản đối. Đó là khung cách bạo lực mà bà đến với cuộc đời này, đă vậy mẹ bà lại thất vọng v́ bà là cô con gái thứ hai. Sau bà là một em trai sẽ khiến mẹ bà càng hất hủi bà - khi cha mẹ bà vào Sài G̣n, đă để một ḿnh bà lại cho bà nội nhưng sinh hoạt chung với người làm, khiến bà bị bệnh nặng. Được về sống lại với gia đ́nh, bà lớn lên trong tự tin một cách tự nhiên, dễ chấp nhận nhưng cũng sẵn sàng đối đầu với thực tại, ở trường cũng như trong gia đ́nh, nhưng bà không được yêu thương như chị và em trai, trở thành đứa trẻ không thể động đến (Intouchable). Khiến về sau bà biết lúc cần xuất hiện và lánh mặt khi không c̣n cần thiết, cho đến khi bà phải đối đầu với Tây phương, thực dân và đế quốc, bà vốn dè dặt một cách đặc biệt. Đối đầu đ̣i hỏi sự tôn trọng tha nhân, nhưng ở đời không phải lúc nào cũng vậy, bà thường rút lui, không muốn tấn công ra mặt, cuối cùng bà chịu sự bất cảm thông hoặc ác ư của kẻ kia.

 

Năm 17 tuổi, bà gặp ông quản thủ thư viện Ngô Đ́nh Nhu, lần đầu khi đến thăm gia đ́nh bà vốn là chỗ thân giao từ kinh thành Huế. Hai người mến nhau từ việc ông Nhu đến mà cô Trần Lệ Xuân chưa chưng xong hoa vừa đi mua về theo lệnh mẹ; cô gái đẩy ông Nhu vào pḥng đợi nhỏ và dặn chỉ được đi ra khi cô xong chậu hoa. Sau đó th́ chàng tặng sách, nàng hồi thư – được chàng tặng cho danh hiệu ‘Bà De Sévigné’ v́ thư nào cũng dài hơi và linh hoạt. Chính ông Ngô Đ́nh Diệm quyền huynh thế phụ (đă mất) đến xin hỏi cưới cô Xuân cho em ḿnh. Sau ngày cưới, cô Xuân hài ḷng thoát gia đ́nh, đưa theo bà vú, về nhà chồng ở Huế. Vai tṛ bà đă thay đổi, hết bị rẻ rúng như ở với cha mẹ, nhất là từ khi anh cả Ngô Đ́nh Khôi và con trai nối ḍng bị Việt minh giết, con cái bà sẽ nối dơi tông đường. Bà vú xin thôi việc sau đó v́ cảm thấy không thiết yếu trong khung cảnh sống mới, điều mà bà Nhu sau này tiếc nuối, nhất là thời gian bị Việt minh bắt lên rừng và sống ở Đà Lạt.

 

Bà cảm nhận rằng rừng núi Nam Giao, một nơi thiêng liêng độc nhất ở Việt Nam, tượng trưng cho sự đợi chờ Thần Thánh Vạn Năng không tên, của cả một dân tộc, trăi qua nhiều tôn giáo. Bà đă du lịch nhiều nơi nhưng chỉ có Nam Giao là đă cho bà ấn tượng mănh liệt rằng thần linh đă chúc phúc cho dân tộc Việt. Bà không thể lường trước cuộc sống đầy bất trắc với chồng và gia đ́nh chồng, nhiều lúc bà trách chồng ‘dối’ bà (không tiết lộ ǵ) khi làm chính trị, bí mật. Ban đầu ông Nhu thường sang nhà các người anh để tṛ chuyện, đến bữa ăn ông bà sang nhà từ đường phía bên kia kinh An Cựu để dùng bữa. Một năm làm quen với Huế và đại gia đ́nh nhà chồng, th́ bất hạnh xảy đến cho người anh cả Ngô Đ́nh Khôi và con trai ngày 22.08.1944. Sau đó chồng bà biến mất, sợ rơi vào t́nh huống của ông anh cả và ông Ngô Đ́nh Diệm, người anh thứ ba, cũng đă bị Việt minh bắt trên xe lửa từ Sài G̣n về Huế và đưa ra nhốt ở miền thượng du Bắc Việt từ tháng 9/1945 đến 12/1946. Ông Diệm được thả ở Hà Nội nhờ chồng bà đă gặp ông Hồ, vả lại họ Hồ bí không trả lời ông Diệm được tại sao lại giết anh cả và cháu của ông. Ông Nhu đă ra Hà Nội lúc đó, ở nhà cha mẹ bà và không ai biết ông làm ǵ lúc đó (bà Nhu không hay biết ǵ, mà ông Nhu cũng không hề kể). 20 tuổi, một ḿnh ở Huế dù có người làm, bà dần dà thấy chồng bà không những không bảo vệ bà mà c̣n là một mối nguy cơ đe dọa bà và tiểu gia đ́nh bà (tr. 135) – may mà bà c̣n có an ủi: ngày 27-8-1945, bà hạ sinh cô con gái đầu Lệ-Thủy.

 

Ông bà Trần Văn Chương cuối cùng bỏ Hà Nội (villa bị tịch thu) vào ở Huế, ông Nhu cũng trở về Huế, nhưng cán bộ cộng sản đến nhà t́m, bà Nhu đă khéo léo lần lữa bắt tên này chờ đến phải bỏ về và hẹn trở lại, nhưng đêm đó ông Nhu phải bỏ trốn, và bà Nhu không có tin tức chồng trong một thời-gian dài sau đó. Sau ngày 19-12-1946, chiến-tranh lại bùng nổ, bộ đội Việt minh cưỡng bách gia-đ́nh bà Nhu phải bỏ nhà cửa sơ tán khỏi thành phố Huế theo vào vùng họ kiểm soát, trăi qua suốt mùa đông lạnh lẽo. Cuối cùng mẹ con bà được một linh mục Ḍng Chúa Cứu Thế đem thuyền đến giúp trốn về Nhà Ḍng, ở nhà kho nơi ông Cẩn đang tạm trú, nhưng hôm sau bà ôm con 3 tuối theo xe vào Đà Nẵng và mua vé máy bay quân sự vào Sài G̣n. Tạm trú ở nhà người chị, bà Nhu vô cùng ngạc nhiên gặp lại chồng bí mật ở nhà Ḍng Chúa Cứu Thế. Sau đó ông bà lên sống ở Đà Lạt, ở nhà người chị của bà, theo bà là ‘thời gian hạnh phúc nhất’, bà sinh thêm hai người con trai, Ngô Đ́nh Trác 1947 và Ngô Đ́nh Quỳnh 1952, và cuộc sống của gia đ́nh bà tại Đà Lạt tuy giản dị, trong khung cảnh hoang dă nhưng an ninh, lúc đầu xa rời chính trị. Nhưng rồi bà thừa nhận bà đă cô độc khi ở đây và viết: ‘Chồng tôi thường biến mất mà chẳng nhắn lại ǵ’ (tr. 152).

 

Từ khi ông Ngô Đ́nh Diệm, anh chồng bà, được cử làm Thủ tướng từ Pháp về nhận chức (07.07.1954), ông bà Nhu xuống Sài G̣n để phụ tá. Ông bà Nhu và 3 con sống tạm nhiều nơi trước khi về ở trong Dinh Độc Lập. Oâng Nhu làm báo Xă-Hộ iṭa soạn ngay trong căn nhà nhỏ hẹp. Trong lúc thủ đô Sài G̣n t́nh h́nh chưa ổn định, phe B́nh Xuyên và tay chân của Pháp liên tục quấy phá, bà Nhu đă thành công một việc ngoài sức tưởng tượng: nhân dịp tướng Nguyễn Văn Xuân mời ông bà Nhu ăn ở một nhà hàng trong Chợ Lớn, bà Nhu đă hỏi thẳng ông Xuân tại sao không cách chức tướng Nguyễn Văn Hinh tổng tư lệnh quân đội, ông Xuân đă thách thức bà Nhu t́m cho được 5 chữ kư th́ ông sẽ thuận theo yêu cầu đó. Bà Nhu t́nh cờ gặp những người từ Bắc mới di cư vào, cùng họ vận động những người di cư kín đáo tụ tập rồi giơ cao biểu ngữ trước nhà thờ Chánh ṭa Sài G̣n ngày 21.09.1954. Dù cảnh sát B́nh Xuyên được mật báo nên đă có mặt ở trại di cư trước với 2 xe tăng, bà lái chiếc xe hiệu Panhard đến và tra hỏi tại sao cảnh sát lại cấm cản người dân đi chợ. Đám cảnh sát bỏ đi, xong trở lại, bà lên xe rồ máy bỏ chạy đến trước nhà thờ nơi mà những người di cư đang chờ, và họ đă giương cao biểu ngữ ủng hộ kiến nghị của bà Nhu (đ̣i hỏi tướng Hinh phải từ chức). H́nh ảnh và thông tin được gởi cho tờ báo tiếng Pháp duy nhất ở Sài G̣n.

 

Ông Trần Chánh Thành bộ trưởng Thông tin đă kiểm duyệt không cho báo-chí VN đăng tin đó, nhưng báo tiếng Pháp đă đăng tải phổ biến thông tin và h́nh ảnh vụ biểu dương mà không được phép của chính phủ. Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Quốc pḥng Nguyễn Văn Xuân đă phải từ chức 3 ngày sau đó, trở thành “nạn nhân” đầu tiên của bà Nhu (tr. 165). Nội các Ngô Đ́nh Diệm phải cải tổ, bà Nhu bị người Pháp với sự giúp đỡ của người Mỹ, ép đưa đi ra ngoại quốc 3 tháng để Nội các cải tổ được ổn định, và để bà Nhu không thể ra ứng cử dân biểu Quốc hội lập hiến và lập pháp sau đó. Nhưng vô ích, v́ dù ở xa, bà sẽ vẫn đắc cử, với sự ủng hộ của tập thể người di cư. Bà sang Hoa-Thịnh-Đốn nơi ông thân bà làm đại sứ ở Hoa Kỳ, ông đưa bà đến ăn sáng do thượng nghị sĩ J.F. Kennedy (về sau đắc cử Tổng thống) mời, sau đó bà ở lâu hơn ở tu viện nữ người Ư ở Hương Cảng. Bà tận dụng thời gian ở đó để học thêm tiếng Anh.

 

Bà Nhu trở về miền Nam và vào ở trong Dinh Độc Lập. Sau Trưng cầu dân ư 23-10-1955, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm trở thành Tổng thống, mở đầu cho nền Đệ nhất Cộng ḥa, và cử ông Ngô Đ́nh Nhu chính thức làm Cố vấn chính trị – với chức này, ông Nhu đề ra thuyết Nhân Vị đề cao tính siêu việt của con người, tức sự tái sinh bởi khả năng con người hành xử đức độ như Thiên Chúa đă dạy (Mt. 19, 28). Theo bà Nhu, thực dân Pháp chưa buông tha, rút người về Cam Bốt, từ nơi đó tổ chức gây rối ở miền Nam.

 

Vụ tiếp theo là vụ ám sát Tổng thống Diệm ở Ban Mê Thuột, có liên quan đến Lê Văn Kim người của Pháp đào tạo và từng là tùy viên của Thierry d'Argenlieu, đang là chỉ huy Trường Vơ bị Đà Lạt. Rồi đến vụ đảo chánh 11.11.1960 và vai tṛ của tướng Nguyễn Khánh từng là tùy viên của thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và từng tổ chức những buổi pique-nique ở Đà Lạt có bà Nhu và Bảo Đại, Nguyễn Khánh xưng là đại diện cho nhóm đảo chánh. Bà Nhu tin là do Pháp giật dây. Bà Nhu đă can thiệp khi thấy tướng Khánh dùng thủ đoạn đánh điểm yếu của Tổng thống Diệm là thương người và sợ đổ máu. Bà Nhu hối chồng hất cẳng tướng Khánh và kêu gọi quân lính trung thành về chiếm lại đài phát thanh. Tướng Khánh do đó bị đám đảo chánh kết tội phản bội, nhưng đă thua nên phần lớn bỏ trốn sang Nam Vang. Đại diện CIA gặp anh em Tổng thống Diệm cam đoan là Hoa-Kỳ đă đứng ngoài vụ đảo chánh, bà Nhu có mặt ở đó đă trách móc người Mỹ “Tôi không mong chờ các ông đồng minh, tức là bạn, giữ trung lập trong vụ này!”.

 

Thái độ của bà Nhu gây chú ư của Hoa Thịnh Đốn. Vụ tiếp theo là chuyến viếng thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Lyndon B. Jonhson ngày 12.05.1961. Ông xuống máy bay, bất chấp nghi thức ngoại giao, thay v́ đến chào Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ trước, ông đă đến thẳng bà Nhu, khiến ông Thơ phải chạy theo sau lưng Phó Tổng thống Mỹ. Trong buổi điểm tâm sau đó do ông Thơ mời, có cả ngoại giao đoàn và các dân biểu, ông Johnson thêm một lần gây bối rối khi mời bà Nhu sang thăm trang trại của ông ở Texas mà bà Nhu lại từ chối với lư do là chưa có dự tính. Vô t́nh bà Nhu nói dí dỏm sẽ sang thăm nếu ông trở thành Tổng thống. Không ngờ lời nói đó khích động Johnson, ông kéo bà Nhu ra bao lơn nhưng vô t́nh sức mạnh kéo tay bà Nhu lại kéo luôn phu nhân Chủ tịch Quốc hội, ông nh́n thấy hớ hênh bèn chữa thẹn rằng muốn bà Nhu giới thiệu thắng cảnh Sài G̣n từ bao lơn. Không ngờ lời nói cho qua chuyện lại thành sự thật hơn 2 năm sau đó. Năm 1964, ông Ngô Đ́nh Cẩn - thành viên cuối cùng của ḍng họ Ngô Đ́nh c̣n ở Việt Nam, bị xử tử sau khi đă xin tị nạn chính trị với lănh sự Hoa Kỳ ở Huế lại bị giao cho nhóm đảo chánh dựng ṭa án kêu án tử h́nh. Bà Nhu đă viết thư yêu cầu Johnson can thiệp, nhưng ông đă tỏ ra ‘hèn hạ’ (tr. 177) 

 

-   Bà Nhu từng khen ông Cẩn phụ trách cả miền Trung khiến nơi đó yên b́nh mà không tốn kém ǵ cho chính quyền Sài G̣n (tr. 182). Trước đó, vào mùa Thu 1963 khi sang Hoa-Kỳ ‘giải độc’, bà Nhu đă nhận lời mời đến thăm trang trại của hàng xóm của Johnson, Johnson đă không có hành động ǵ và trong một lá thư duy nhất trả lời thư bà Nhu hỏi tại sao ông ta có vẻ sợ bà, ông viết “Làm sao tôi có thể sợ một phụ nữ tuyệt vời như bà?”. Lá thư này về sau bà gởi lại một người bạn đồng môn của ông Nhu ở Paris nhờ giữ khi bà Nhu dọn về Rome, đă bị một người đánh tiếng với con trai trưởng của bà Nhu là sắp chết nên muốn nh́n thấy nó trước khi chết, nhưng lá thư không bao giờ trở lại - về sau bà Nhu mới biết người này làm cho t́nh báo Pháp.

 

Đắc cử dân biểu, đến năm 1958, bà đề nghị Luật Gia-Đ́nh có mục-đích giải phóng phụ nữ về mặt pháp lư (một vợ một chồng, nam nữ b́nh quyền cả trong quản trị, sử-dụng và phân chia gia sản, thừa kế di sản, v.v.), đă bị đa số vẫn c̣n tinh thần gia trưởng, gia tộc hoặc đa thê, phản đối; dù Hiến pháp 26. 10.1956 đă nêu cao nam nữ b́nh quyền nhưng trong thực tế, người phụ nữ vẫn phải phục-tùng chồng là người vẫn được xă-hội xem là giám-hộ. Bà tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới (với h́nh biểu tượng Ngọn đèn dầu của những cô trinh nữ trong Thánh Kinh) kêu gọi và giúp đỡ người phụ nữ ra đời làm việc xă-hội, thiện nguyện. Bà Nhu kêu gọi tinh thần tái dựng ḷng yêu nước. Cùng lúc, bà tổ chức lực lượng Phụ nữ bán quân sự (10/1961) tự nguyện, được huấn luyện tự vệ, sử-dụng vũ khí và y tế thường thức. Trưởng nữ Lệ Thủy cũng gia nhập lực lượng này từ khi 16 tuổi.

 

Sáng sớm ngày 27.02.1962, thêm một vụ chính biến do 2 phi công bắn phá Dinh Tổng thống. Con cái bà bị thương và bà phải vào bệnh viện v́ muốn cứu con với bà vú của cô út Lệ Quyên. Biến cố khiến bà thêm ghê tởm bọn thực dân (tr. 180) - bà ghi rơ vụ bắn phá Dinh Tổng thống là do thực dân (‘colon’), sau đó là căn nhà từ đường bằng gỗ của gia-đ́nh Ngô Đ́nh ở Huế cũng bị phá hủy, do ‘la rage francaise contre le Việt Nam que nous représentions...’(tr. 181).

 

Xảy ra vụ Phật giáo, bà Nhu muốn có đại diện các đảng phái và các nhóm xă-hội trong Ủy Ban Liên Phái, nhưng Tổng thống Diệm không thuận v́ không muốn có bà. Nhưng khi xong Thông cáo chung và bên Phật giáo đă kư, ông Nhu lại hỏi ư kiến bà trước khi cố vấn Tổng thống kư. Bà thấy lạ v́ các đ̣i hỏi của Phật giáo đều là những thứ chưa bao giờ cấm, bà đề nghị kư nhưng ghi tay thêm mấy chữ là những đ̣i hỏi trong đây chưa bao giờ cấm. Ông Cố vấn đem Thông cáo chung đến buổi họp sau đó và nói lại ư vừa kể, ngoại trưởng Phật giáo Vũ Văn Mẫu yên lặng không nói ǵ, nhưng Phó Tổng thống Thơ phát biểu: « Họ uống trà sâm c̣n ḿnh uống trà thường khiến ḿnh thành người ngu ». V́ câu nói này mà ông Mẫu cạo đầu từ chức. Theo bà Nhu cũng ông Mẫu này đến cận ngày 30.04.1975 nghe lời thực dân ủng hộ và theo tướng Big Minh (lực lượng thứ 3), nhưng đế quốc mạnh hơn muốn chấm chấm dứt chiến-tranh (tr. 188)! 

 

Trước ngày đảo chánh, từ ngày 12.09.1963, bà Nhu và cô trưởng nữ Ngô-Đ́nh Lệ-Thủy lên đường đi ‘giải độc’ ở Âu châu và Hoa Kỳ; trước khi xảy ra vụ ám sát anh em Tổng thống, bà và con gái được đông đảo cảnh sát bảo vệ, nhưng sau đó th́ bị bỏ rơi, may có một gia-đ́nh người Mỹ do mọt linh-mục giới thiệu, đă giúp đỡ mẹ con bà cho đến khi rời nước Mỹ đi Rome. Phần ông Cô vấn Ngô Đ́nh Nhu, vài ngày trước đảo chánh đă gọi cậu Ngô Đ́nh Trác đưa 2 em lên Đà-Lạt và dặn ḍ khi có biến hoặc ông Nhu chết, th́ phải đưa 2 em trốn vào rừng. Khi xảy ra tiếng súng đảo chánh, các cô cậu đă chạy trốn vào rừng phía sau nhà, trăi qua một đêm trong mưa lạnh. Cả ngày hôm sau đi xuyên qua sông rạch để tránh để lại dấu vết, và cuối cùng đến một nơi trực thăng có thể đáp và chờ đợi. Chỉ trong ṿng ba ngày, mấy đứa trẻ đă thoát khỏi sự nguy hại và tới được Rome trước khi mẹ và chị cũng đến đó. 

 

Ngày 15.11.1963, bà và con gái rời Los Angeles để đi Roma sinh sống. Bị đế quốc bỏ rơi, nhưng ở phi trường đầy phóng viên báo-chí và truyền h́nh. Rồi lúc ghé Paris, bà cũng được đông đảo báo-chí phóng viên đón như vậy, ông đại sứ Mỹ ở Paris bí không biết phải trả lời báo-chí ra sao bèn nói ‘Chúng tôi có làm ǵ th́ cũng vẫn bị nguyền rủa!’. Nhưng ít có nhà báo nào dám nói lên hết sự thật, bà Nhu được ông nhà báo Georged Mazoyer dám bênh phía bà, nhưng ông ta vừa được thăng chức giám đốc một nhật báo ở Paris ra ban chiều th́ liền bị xe đụng chết khi đi bộ. Bà Nhu thấy những ai đứng về phía bà đều bị biến mất (tr. 189-190): kế đó là bà Suzanne Labin và Marguerite Higgins (03.01.1966) – được Tổng thống Kennedy gửi sang Việt Nam điều tra riêng, bà là tác-giả cuốn Our Việt-Nam Nightmare (1965), trong đó bà cho rằng biến cố Phật giáo chỉ là một tṛ đánh lừa (leurre), mục-đích không v́ Phật giáo mà v́ muốn lấy đầu ông Diệm và thay v́ bỏ lên mâm bạc như Thánh Jean-Baptiste tử đạo, th́ nay phải quấn cờ Mỹ; và bà nhận xét các sư săi rất rành tên các phóng viên ngoại quốc, gọi họ bằng tên/prénom!

 

Vào tháng 6/1964, hiệp hội báo chí Hoa-Kỳ tổ chức mời bà Nhu và con gái Lệ Thủy sang Mỹ làm một ṿng để các cơ quan thông tin báo-chí t́m hiểu sự thật (Truth Rally) về thực trạng Việt-Nam v́ các cơ quan này không tin giải thích của Hoa-Thịnh-Đốn (tr. 71). Lúc đó nước Mỹ chuẩn bị bầu cử Tổng thống thay thế Jonhson, chính phủ Mỹ đă từ chối cấp visa cho 2 mẹ con bà Nhu lấy ‘lư do an ninh quốc-gia’. Ngày 09.05.1975, khi trả lời phỏng vấn của đài truyền h́nh, bà Nhu đă tố cáo chính quyền Kennedy can thiệp vào Nam Việt Nam là ‘nhằm tạo thanh thế và sự ủng hộ cho Đảng Dân chủ Hoa Kỳ’. Bà cũng b́nh luận cảnh đại sứ Mỹ Martin chờ trực thăng tới đón trên nóc nhà, cờ Mỹ cuộn dưới nách: ‘Cường quốc Mỹ dùng để làm ǵ, nếu không phải là để phải trốn chạy theo họ?’.

 

Năm 1985 khi báo chí Hoa Kỳ làm kiểm điểm 10 năm Hà Nội chiếm miền Nam, bà Nhu đă nhận trả lời phỏng vấn cho Newsweek, nhưng các cơ quan thông tin này đồng lơa với nhau để không ai liên lạc được với bà (tr. 71). Bà sống lúc tại vùng Riviera nước Pháp, lúc ở nhà bên Roma, bà trả lời phỏng vấn một lần khác để lấy tiền và vé máy bay khứ hồi cho con gái út qua thăm ông bà ngoại ở Mỹ. Bà Monique Brinson Demery phỏng vấn bà Nhu năm 2005 đánh dấu lần đầu tiên bà trả lời báo chí phương Tây sau một thời-gian khá lâu, phỏng vấn để thực hiện cuốn sách về bà Nhu, Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu (New York: Public Affairs, 2013), nội-dung cuốn sách cho thấy bà Nhu đă nói chuyện với bà Demery với nội-dung cuốn hồi-kư. 

 

Suốt tập hồi-kư, bà Nhu cho người đọc thấy và hiểu rằng bà căm ghét thực dân Pháp và đế quốc Hoa-Kỳ (bà gọi chung là ‘Occident criminel’). Bà có thắc mắc là ngoài Thánh lễ khai mạc Cộng đồng Vatican II ngày 02.12.1963 có nhắc ư lễ cầu cho anh em Tổng thống Diệm, Ṭa thánh Vatican đă không lên tiếng và không làm ǵ về cái chết của anh em chồng bà (và người mà Ṭa thánh giới thiệu giúp làm giấy tờ cho căn nhà mà Đức cha Thục mua cho mẹ con bà ở Roma lại lừa dối cướp hết tiền gia-đ́nh bà).

 

Bà cho rằng sau ngày 02.11.1963 anh em Tổng thống bị giết, nước Việt-Nam rơi vào địa ngục là do các đế quốc thực dân và cộng-sản (tr. 201). Bà thêm, cái chết của Lệ Thủy con gái bà vẫn chưa được điều tra đến cùng! Về phần người Pháp, bà gọi là ‘tên thực dân’ và so sánh với quỷ Satan khi dùng lời Chúa Jesus cảnh báo Thánh Phê-Rô: « Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, v́ tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của con người” (Mt 16, 23) – v́ thực dân đă lợi dụng danh nghĩa Giáo hội để làm chuyện Ác đă khá lâu rồi ở Việt-Nam. Bà Nhu cho người đọc hiểu rằng bao nhiêu biến cố, đảo chánh, ám sát, v.v. thời VNCH đều là do bàn tay của thực dân và đế quốc chủ động hết, do đó bà không nói nhiều đến những tay sai người Việt của chúng. Bà cho rằng với những ǵ bà viết ra, chỉ có đám thực dân là phải tự vấn lương tâm (tr. 190)!

 

Cuối cùng là những suy niệm tâm linh cuối đời của bà; bà tạ ơn Chúa đă đoái nh́n con chiên Việt-Nam qua việc đức Hồng Y tân cử Hoa-Kỳ đă đến La-Vang ngày 21-08-2009 dâng lời cầu nguyện ‘Đức Mẹ La-Vang cũng là Đức Mẹ của quốc-gia Hoa-Kỳ và của Giáo Hội Công-giáo’. Bà cảm ơn và hiểu Chúa đă trao phó cho bà trọng trách làm mẹ và bà đă làm hết ḿnh cho đến cuối đời!

 

Trong Phần Phụ lục, trong lá thư đề ngày 02.09.1963, 2 tháng trước ngày bị giết, ông Ngô Đ́nh Nhu tŕnh bày lập trường Việt-Nam chính-trực của chính phủ Tổng thống anh ông (Việt-Nam của người Việt Nam!) trước âm mưu của Hoa-Kỳ đi chung với Liên Xô cộng-sản, âm mưu đưa đến phương-tiện thôi miên, tuyên truyền, huyền-hoặc các sư săi rồi đẩy những kẻ này vào lửa thiêu sau khi báo cho thông tín viên quốc tế biết để đến quay phim, chụp h́nh (và cản cứu người ‘tự thiêu’! (1). Từ ngày ra thiết quân luật 20.08.1963 th́ hết c̣n tự thiêu, nhưng 2 thế lực kia lại xúi sinh viên học sinh xuống đường như đă làm ở Đại Hàn và Thổ-nhĩ-kỳ, nhưng ông Nhu cho là thất bại v́ chính quyền bắt đi học quân sự và tẩy năo chúng. Ông Nhu biết 2 thế lực đó chưa ngừng tay v́ phải biện minh với cấp trên về việc chi 20 triệu đô Mỹ (2) cho âm mưu này!

 

 

Chú thích:

1- Sau ngày đảo chánh 1-11-1963, c̣n có 6 vụ tự thiêu Phật tử khác, nhưng không báo chí Tây phương nào để ư đến nữa! Và sau ngày 30-4-1975, đă có biết bao nhiêu kỳ thị, kiểm soát, khủng bố tôn giáo và toàn dân, tù đày, cướp của dân,... nhưng thượng tọa Trí Quang không có hành động nào, trở thành câm, lặng, đồng lơa với cộng-sản Hà-Nội! C̣n vụPhái đoàn Liên Hiệp Quốc đến VN điều tra về vụ gọi là «đàn áp Phật giáo», Báo cáo được dịch ra Việt ngữ - Vi Phạm Nhân Quyền Tại Miền Nam Việt-Nam, do Vơ Đ́nh Cường dịch, 1 nhóm Phật giáo xuất-bản năm 1966, từ tay Thích Trí Quang người đề tựa, nhưng đă bỏ đi phần kết luận (1 thứ lừa dư luận từ cái thật, lộng giả thành như

 

... thật!) Đây là Báo cáo 234 trang tŕnh ngày 7-12-1963 của Phái đoàn với kết luận không có đàn áp lẫn kỳ thị tôn giáo, và những đụng độ với chính quyền chỉ là do 1 nhóm nhỏ, và có tính cách chính-trị, không phải tôn giáo. Bản báo cáo bị giấu kín, đến tháng 2-1964, văn bản này đă được Thượng Viện Hoa-Kỳ xuất-bản.

 

2- Ông Nhu tiên đoán đúng, tiếp đó là chi tiền mua chuộc mấy ông tướng Việt-Nam làm đảo chánh và giết anh em ông ngày 2-11-1963 và sau đó là ông Cẩn, người em khác! Lou Conein đưa 3 triệu đồng tương đương 42 ngàn đô la Mỹ cho nhóm tướng lănh đảo chánh để chia chác cho nhau, thật ra chỉ là những đồng bạc lẽ từ 20 triệu đô!

 

 

iv. Ngô Đ́nh Luyện.

 

Ông Luyện và vua Bảo Đại là bạn thân từ thuở nhỏ, cùng học với nhau thời thơ ấu ở Pháp, v́ vậy hai người thân thiết với nhau như anh em ruột. Bảo Đại có nhiều người bạn Pháp cũng như ông Luyện, nhưng đối với ông Luyện th́ Bảo Đại thân hơn, v́ hai người cùng học một thầy người Việt Nam do triều đ́nh cử sang dạy về lễ nghi, lịch sử và cách xưng hô cùng luật lệ của triều đ́nh Việt Nam, hầu khi Hoàng Đế về chấp chánh th́ đă sẵn sàng.

 

Vị thầy này là người cao lớn, đen, và mắt trông hơi dữ dằn. Triều đ́nh hy vọng nhờ vị thầy học này, Hoàng Đế sẽ nể nang hơn.

 

Lúc ấy Hoàng Đế đă khá lớn, rất thông minh và thích thú khi học về lịch sử và quyền hạn của vua. Mỗi lần ông đến học, thầy giáo phải quỳ để đón và cách xưng hô rất là kính cẩn, luôn miệng phải thưa là “Tâu Ngài”. Ngoài ra, triều đ́nh cũng cử thêm một số thị vệ để hầu hạ Hoàng Đế nữa.

 

V́ được trọng vọng như vậy, đôi khi Hoàng Đế măi chơi tennis hay cưỡi ngựa mà bỏ học, ông Luyện lại được thầy sai đi mời Hoàng Đế về. Khi ông đi mời Hoàng Đế, bao giờ ngài cũng về ngay, và xin lỗi thầy. Ông Luyện và Hoàng Đế nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, xưng “mày tao” (tu-toi) với nhau.

 

Nhưng ở trong lớp thầy Việt Nam th́ nói với nhau bằng tiếng Việt, ông Luyện cũng thưa là “Tâu Ngài”. Thầy bao giờ cũng để sẵn bánh kẹo, nhất là chocolat, để Hoàng Đế và ông Luyện ăn, ngoài ra thị vệ phải hầu trà.

 

Ông Luyện kể thêm: “Khi Hoàng Đế hồi loan, Ngài nhiều lần căn dặn ông Luyện khi về nước phải đến gặp ngài. Khi ấy ông Luyện c̣n phải ở lại để học thêm một thời gian nữa. Sau đó, ông đậu kỹ sư và về Việt Nam được bổ đi coi điền địa của hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, ăn lương ngạch Tây nên khá giàu. Có lần Hoàng Đế đi kinh lư các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, Qui Nhơn, có khâm sứ đi theo, các quan đi đón đông lắm, trong số đó có ông Luyện. Khi gặp ông, Vua ôm chầm lấy và la ông bằng tiếng Pháp: “Tại sao khi về không đến thăm tôi?” Và vẫn “tu, toi” với ông như khi ở Pháp. Ngài giới thiệu ông với ông khâm sứ rằng “Hai chúng tôi là amis d’enfance”. Và ngài bắt ông Luyện tuần tới phải về thăm ngài.

 

Khi ông Luyện đến thăm, ngài đón tiếp rất niềm nở và mời Hoàng Hậu Nam Phương ra giới thiệu, cùng giữ lại ăn cơm gia đ́nh. Hoàng Đế cũng muốn giữ ông Luyện làm việc gần ngài, nhưng ông từ chối.

 

Sau đó, mỗi lần Hoàng Đế có bạn người Pháp sang thăm, Ngài đều mời ông Luyện về Huế chơi cùng các bạn cũ, và ôn lại những ngày thơ ấu ở Pháp một cách vui vẻ lắm. Sau này, Quốc Trưởng và ông Luyện thường gặp nhau ở Pháp.

 

Khi hội nghị Gènève bắt đầu, ông được Quốc Trưởng mời đến, và được giao cho chức vụ đặc phái viên của Quốc Trưởng, để theo dơi hội nghị và tŕnh thẳng với Quốc Trưởng các diễn tiến của hội nghị. Ông chối, viện lư là không có quần áo sẵn sàng và phương tiện di chuyển. Quốc Trưởng nói:

“Đây là việc nước và của người bạn than, ông phải giúp tôi. C̣n việc quần áo và phương tiện sẽ có người khác lo cho ông”. Nói rồi ngài gọi ông Quang và ra lệnh ông lo cho ông Luyện tất cả những ǵ ông cần. Ngoài ra, ông cũng lưu ư ông Luyện thông báo các diễn tiến hội nghị cho ông Diệm hay để ông Diệm rơ t́nh h́nh.

 

Ông Luyện cũng kể rằng, Quốc Trưởng có vẻ hận người Pháp lắm, v́ họ đă đặt Ngài vào sự việc đă rồi, và không hề có giới chức cao cấp nào của Pháp bàn với Quốc Trưởng điều ǵ trước đó cả. Quốc Trưởng cũng lưu ư ông Luyện, là phải giao thiệp mật thiết với phái đoàn Mỹ ở hội nghị.

 

Khi hội nghị sắp kết thúc, chỉ c̣n bàn căi về việc chia cắt ở vĩ tuyến nào th́ ông Luyện được lệnh Quốc Trưởng liên lạc với phái đoàn Mỹ, để nhờ họ giúp cách nào giữ được Huế cho phía quốc gia.

 

Sau đó, Quốc Trưởng mời ông Diệm đến để giao cho chức vụ Thủ tướng. Ông Diệm từ chối, nhưng Quốc Trưởng cố ép, và nói ngài rất lo lắng cho số phận của những người di cư và cán bộ trung kiên của người quốc gia. Ngài thêm một điều kiện là cho ông Diệm được toàn quyền về hành chánh và quân đội. Thêm nữa, do sự thúc giục của ông Luyện, ông Cẩn cùng Đức cha Thục và các cán bộ ở trong nước, nên ông Diệm nhận lời.

 

Về vấn đề ông Diệm có thề hết ḷng trung thành với Quốc Trưởng, ông Luyện cho biết “không rơ lắm, ông Diệm chỉ thề là hết ḷng phục vụ và giữ vững nền độc lập của Việt Nam dưới sự lănh đạo của Quốc Trưởng”.

 

Quốc Trưởng nhắc ông Diệm rằng bất cứ trong trường hợp nào, cũng phải đặt Tổ quốc Việt Nam trên hết.

 

Việc đối phó với tướng Nguyễn Văn Hinh và các giáo phái cũng rất khó khăn. Miền Trung th́ coi như ủng hộ Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm 100%, nhưng trong Nam th́ các giáo phái luôn luôn đ̣i hỏi Thủ Tướng mọi điều. Ngay như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, là người ủng hộ và quư mến Ông Diệm, cũng nghe người Pháp mà phá chính phủ. Tuy nhiên, các đơn vị ở Bắc rút vào th́ ủng hộ Thủ Tướng hết ḷng.

 

Ông Luyện kể sư đoàn Nùng lúc đó đóng ở sông Mao, ông có ra gặp Đại tá Ẉng A Sáng để nhờ đưa hai tiểu đoàn bí mật vào bảo vệ dinh Thủ tướng. Đại tá Sáng nhận lời ngay, và hứa nếu cần ông sẽ đem hết lực lượng Nùng vào bảo vệ Thủ tướng. Phương tiện di chuyển không có, Đại tá Sáng phải trưng dụng xe đ̣, xe lửa để đưa quân vào. Ngoài ra ông Luyện c̣n gặp Trung tá Thái Quang Hoàng, là người đă rút quân ra lập chiến khu để phản đối tướng Hinh.

 

Trung cộng muốn có liên lạc ngoại giao với miền Nam Việt Nam.

 

Khi Thủ tướng Chu Ân Lai viếng Anh quốc, phái đoàn Chu Ân Lai đông lắm, hơn 100 người và được chính phủ Anh đón tiếp rất long trọng. Ông Luyện được một tham vụ ngoại giao Toà Đại sứ Trung quốc đem biếu hai ṿ rượu – ‘Mao Thái’, kèm thiệp của Thủ tướng Chu Ân Lai mời dự tiếp tân ở Toà Đại sứ Trung quốc với sự hiện diện của Nữ Hoàng Anh.

 

Khi ông được Đại sứ Trung quốc giới thiệu với Thủ tướng Chu Ân Lai, ông rất niềm nở, nói đă biết ông là em của Tổng thống Việt Nam, là người ông rất kính trọng và ngưỡng mộ, xin ông Luyện chuyển lời thăm của Mao chủ tịch đến Ngô Tổng Thống. Ông Chu nói ông không có cơ hội để nói nhiều với Đại sứ Luyện nhưng đă chỉ thị Đại sứ Trung quốc đến gặp Đại sứ Luyện tŕnh bày chi tiết sau.

 

Sau đó, Đại sứ Trung quốc đến thăm ông Luyện ở Toà Đại sứ Việt Nam. Đại sứ Trung quốc nói với ông Luyện rằng Chủ tịch Mao rất cảm phục ḷng yêu nước và những ǵ Ngô Tổng thống đă làm cho miền Nam Việt Nam được phồn thịnh như ngày nay. Ư Chủ tịch Mao muốn có liên lạc ngoại giao với miền Nam Việt Nam.

 

Theo ư Mao Trạch Đông, trước tiên hai bên sẽ đặt liên lạc trên cấp tổng lănh sự, sau đó sẽ nâng lên cấp Đại sứ nếu t́nh thế cho phép. Theo Mao Trạch Đông hai bên sẽ có liên lạc chặt chẽ về văn hóa và b́nh thường hóa việc buôn bán giữa hai quốc gia, Trung quốc sẽ dàn xếp để hai miền Nam Bắc Việt Nam có đại diện giữa hai miền, sau đó sẽ đi đến việc liên lạc, tiếp tế và buôn bán giữa hai miền v.v… Ông Luyện trả lời là sẽ về tŕnh Tổng thống và sẽ trả lời ông Đại sứ Trung quốc sau.

 

Ông Luyện đă đích thân về tŕnh Tổng thống Diệm việc này. Sau đó gần hai tháng, ông được Tổng thống triệu về và cho biết là sau khi đă nhờ Đại sứ Trung Hoa Quốc gia về tham khảo ư kiến Tổng thống Tưởng Giới Thạch. Tổng thống cũng tham khảo ư kiến với Đại sứ Hoa Kỳ th́ đi đến kết luận là việc này chưa thể đồng ư trong giai đoạn này được.

 

Tổng thống Diệm cũng cho ông Luyện rơ là khi ông sang thăm Đài Loan, ông và Tổng thống Tưởng Giới Thạch đă giao ước với nhau rằng sẽ hết ḷng giúp đỡ nhau trong việc chống Cộng và hai nước coi nhau như anh em. Tổng thống bảo ông Luyện về trả lời Đại sứ Trung quốc rằng chính phủ Việt Nam rất cảm ơn Mao chủ tịch và xin một thời gian để sắp xếp.

 

 

Như ông Diệm và ông Nhu bị khảo của, ông Luyện cũng gặp như vậy.

 

Đó là chuyện ‘người ta tưởng anh em Ngô Đ́nh đều là những Triệu Phú’, nên ông Luyện cũng tôi suưt chết đấy! Ông kể:

 

“Tôi đông con, các cháu lớn đều học ở Pháp và khi đi tị nạn chỉ có nhà tôi và mấy cháu nhỏ theo sang Maroc. Đến phi trường, tôi được ông hoàng đệ, em vua Maroc đón ở phi trường và đưa về ở tạm tại dinh quốc khách, to và đẹp. Gia nhân hơn chục người, có lính gác rất trang trọng.

 

Tôi bối rối vô cùng và nghĩ riêng tiền thưởng cho đám gia nhân này cũng sạt nghiệp ḿnh, nên tôi tŕnh với ông hoàng đệ rằng tôi đang gặp cơn bối rối, v́ vậy tôi chỉ mong được ở một căn nhà nhỏ và đi dạy học ở đây để qua lúc này mà thôi”. Ông Hoàng đệ nói cứ ở tạm đó rồi sẽ tính sau.

 

Khi ở đó, ông Luyện và gia đ́nh được phục vụ rất chu đáo và ông hoàng đệ đến thăm luôn. Độ mấy ngày sau, ông đến gặp ông Luyện, có mấy người tùy tùng đi theo và mang cả bản đồ. Ông hoàng giới thiệu mấy người đi theo toàn là tổng giám đốc mấy công ty lớn ở Maroc và là kỹ sư cả.

 

Ông ta muốn giúp ông Luyện có việc làm cho khuây khỏa khi ở đây, và muốn ông Luyện đầu tư vào công ty khai thác mỏ vàng ở Maroc. Ông ta nói sơ khởi, ông Luyện chỉ cần bỏ 10 triệu đô la, sau đó sẽ bỏ thêm sau, và hy vọng mỏ vàng này sẽ đem lại lợi tức hàng năm cho ông Luyện độ nửa triệu để sinh sống và có thể nhiều hơn nếu bỏ thêm vốn.

 

Ông Luyện nghe nói, sợ hết hồn. Nhưng nếu từ chối ngay, sợ bị hại mà khó ḷng ra khỏi Maroc, nên ông vờ hỏi thêm địa điểm và cách điều hành, làm như chú ư đến việc này lắm. Sau đó ông trả lời là cho ông suy nghĩ ít lâu và cần phải bàn với bà Nhu là chị dâu ông đă. Sở dĩ ông phải mang tên bà Nhu ra là bởi trước đó, ông Nhu đă từng đại diện Tổng thống sang thăm Maroc để đáp lễ lại việc thái tử Maroc sang thăm Việt Nam.

 

Ông Luyện nói: “Ḿnh đă nghèo mà họ cứ nghĩ là ḿnh giàu có! Thiên hạ cầm quyền th́ giàu có đến mức nào mà anh em tôi th́ có ǵ đâu! Tôi đang lo muốn chết để làm sao có tiền cho các con ăn học mà họ nói chuyện toàn bạc triệu, mà lại triệu đô la nữa chứ!”

 

Sau đó, ông Luyện phải bí mật gặp Đại sứ Anh và Pháp ở Maroc, xin giúp đỡ bằng cách nào để đi khỏi Maroc về Pháp dạy học. Ông Luyện phải lấy cớ về Pháp gặp bà Nhu để bàn việc. Các Đại sứ Pháp và Anh đưa ông ra tận phi trường để về Pháp.

 

 

v. Ngô Đ́nh Cẩn.

 

Thời c̣n trẻ, Ngô Đ́nh Cẩn là một người ủng hộ tư tưởng của nhà cách mạng Phan Bội Châu. Cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, vào thời điểm mà nhiều phe nhóm trong nước cũng như các thế lực quốc tế đang cố gắng giành quyền kiểm soát Việt Nam, ông đă t́m cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng dành cho bào huynh Ngô Đ́nh Diệm. Sau khi thắng thế các phe dân tộc chủ nghĩa đối lập ở miền Trung, ông Cẩn đă trở thành ‘lănh đạo Miền Trung’ sau khi ông Diệm trở thành Tổng thống. Trong thời gian đó, ông thay mặt các anh để phụng dưỡng Mẹ già. Rất tiếc, các tướng và công chức cao cấp sùng bái ông một cách quá đáng. Các hoạt động chống Cộng và trị an của ông tỏ rơ sự hiệu quả khi lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ở miền Trung yếu hẳn đi so với các vùng khác. V́ vậy nên Lực lượng Dân vệ của ông được các quan chức Mỹ ở miền Trung khi đó đánh giá là lực lượng chống Cộng hiệu quả.

 

Khi bị bắt, ông Cẩn có chỉ cho tướng Đỗ Cao Trí tịch thu tại nhà ông ở Phú Cam, dưới gầm giường, một bao bố và một va-li đựng quư kim.

 

Khi ông đến xin tị nạn tại Lănh sự quán Mỹ ở Huế, viên lănh sự Helble không cho Cẩn và thân mẫu được tị nạn chánh trị v́ chỉ Ṭa Đại sứ mới có thể. Quyết định đó trái với cơ quan USAID Sài G̣n chứa chấp sư Thích Trí Quang nhiều ngày năm 1963.

 

Ban đầu, ông Cẩn được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị cho phép tị nạn, nhưng đại sứ Henry C. Lodge đă sai nhân viên CIA, Lucien Conein, bắt giam ông Cẩn ở thủ đô Sài G̣n. Sau khi được bàn giao cho quân đội, ông đă bị ṭa án chính phủ quân quản dưới trướng Dương Văn Minh kết án tử h́nh.

 

Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ ǵ không th́ ông Ngô Đ́nh Cẩn xin rằng được quyền mặc quần trắng, áo dài đen v́ ông muốn được chết trong bộ "quốc phục" Việt Nam. Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là v́ chiếc áo được thân mẫu may cho khi c̣n ở Huế.

 

Ngày hôm sau, đơn xin ân xá của Ngô Đ́nh Cẩn đă được chuyển đến tướng Dương Văn Minh, Quốc trưởng. Đức cha Nguyễn Văn B́nh, Tổng giám mục Sài G̣n gửi Thư tới Dương Văn Minh xin ân xá cho tử tội Cẩn với lư do là Cẩn đang bị bệnh rất nặng, ngày sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên không cần thiết phải hành quyết Cẩn. Nhưng tất cả đều bị Dương Văn Minh bác thẳng thừng. Ṭa án báo cho thân nhân ông là bà Ngô Đ́nh Thị Hiệp, bà Ngô Đ́nh Thị Hoàng làm đơn xin ân xá cho ông Cẩn, nhưng đă bị Quốc trưởng bác bỏ. Ngô Đ́nh Cẩn sẽ bị hành quyết vào lúc 17 giờ ngày 09.05.1964 tại Khám Chí Ḥa.

 

Tại Sài G̣n, ngày giờ xử bắn Ngô Đ́nh Cẩn được giữ rất kín. Có hai người được biết trước là luật sư Vơ Văn Quan và linh mục Jean Baptiste Lê Văn Thí.

 

Ngày 08.05.1964, linh mục Thí vào gặp và cho ông Cẩn rước Ḿnh Thánh Chúa an ủi người sắp chết. Khi Cha Thí vừa vào, chào hỏi xong th́ ông Cẩn đă hỏi ngay: « Ngày mai, họ đem con đi bắn phải không cha? ». Linh mục im lặng và khẽ gật đầu rồi hỏi lại: "Cậu có sợ không?". Ngô Đ́nh Cẩn gượng cười, trả lời khá b́nh thản: "Con không sợ chút mô hết cha à!".

 

Cha Thí hỏi tiếp: "Cậu có tha thứ cho những người đă làm khổ cậu và gia đ́nh cậu không?". Ngô Đ́nh Cẩn nói lớn, và rành rẽ: "Con tha thứ". Rồi Cẩn nói tiếp: "Con cũng mang tên Thánh là Jean Baptiste và cha cũng mang tên Thánh Jean Baptiste. Xin cha nhớ cầu nguyện cho con sớm lên Thiên đàng chầu Chúa và xin mọi người có đạo chứng kiến con chịu chết, xin đọc cho con một kinh lạy cha "Xin cho chúng tôi hàng ngày đủ dùng và tha tội cho chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi".

 

Lúc 10 giờ ngày 09.05.1964, Luật sư Vơ Văn Quan vào thăm ông Cẩn và kể: "Sáng sớm hôm nay, cháu Ngô Đ́nh Cẩn là Trần Trung Dung vào thăm. Ông Cẩn nói chuyện một cách thản nhiên, không hề biểu lộ thái độ lo lắng, sợ sệt. Người cháu gái th́ ngồi cạnh giường, khóc và nguyền rủa những kẻ phản phúc nhà họ Ngô. Nhưng ông Cẩn điềm tĩnh nói: "Không có ǵ đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có ǵ oán thán hết".

 

Khi gặp luật sư, ông Cẩn cũng vẫn tỏ thái độ b́nh thản. Ông Quan cũng không hề biết là chính Ngô Đ́nh Cẩn cũng đă biết rơ ngày giờ thi hành án. Lúc đầu, hai bên chỉ nói chuyện có tính chất xă giao nhưng rồi đột nhiên ông Cẩn tâm sự về thân thế của ông và tiết lộ một số câu chuyện bí mật. Lời nói của ông như là một sự trăn trối khiến luật sư Quan giật ḿnh và thầm nghĩ: "Có lẽ ông Cẩn biết rồi".

 

Sáng ngày 09.05.1964, các nhà báo sau khi dự buổi hành quyết Phan Quang Đông tại Huế th́ vội vàng ra máy bay về Sài G̣n. Cuộc hành quyết tử h́nh Phan Quang Đông diễn ra rất ghê rợn. Hiền thê Phan Quang Đông đang bụng mang dạ chửa sắp đến tháng đẻ, đă ngất lịm ngay tại pháp trường khi chứng kiến cảnh chồng bị trói vào cọc...

 

Sau khi làm các thủ tục về giấy tờ, các nhà báo có mặt ở Bộ Thông tin từ lúc 14 giờ. Tất cả được đưa bằng xe 18 chỗ đi vào Khám Chí Ḥa. Tới cổng khám, nhân viên yêu cầu khám xét hành lư và giữ lại tất cả máy ảnh. Chụp ảnh do 3 người Bộ Thông tin và nhân viên an ninh quân đội. Sau đó, họ được dẫn ra một sân rộng đầy cỏ cây hoang dại và có chôn sẵn một chiếc cột gỗ và trường bắn nằm gần một ngôi chùa nhỏ.

 

17 giờ, các thủ tục cho buổi hành quyết bắt đầu tại pḥng làm việc của trung tá Phạm Văn Luyện, Quản đốc Khám Chí Ḥa. Những người có mặt tại đây là đại tá Trang Văn Chính, Giám đốc cảnh sát đô thành Sài G̣n; thiếu tá Nguyễn Văn Đức, Chưởng lư Ṭa án quân sự; bà Ngô Đ́nh Thị Hoàng, chị ruột ông Cẩn; luật sư Vơ Văn Quan và một số người khác nữa. Đoàn người đến thẳng pḥng giam ông Cẩn và lặng lẽ bước vào.

 

Nghe tiếng giày, ông Cẩn đang nằm trên giường hé mắt nh́n rồi khép lại, miệng lầm rầm cầu nguyện cùng với một vị linh mục đứng cạnh giường đọc kinh. Bóng đèn điện từ trên trần nhà tỏa sáng một màu ánh sáng vàng vọt, thê lương. Thiếu tá Đức đến bên giường, đọc bản bác đơn xin ân xá. Khi ông Đức đọc xong, luật sư Quan đến bên ông Cẩn nắm lấy hai bàn tay. Tay ông Cẩn nóng hổi, mặt ửng hồng và rơ ràng đang sốt rất cao.

 

Luật sư Quan nói: "Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn. Trên cơi đời này dù sớm hay muộn rồi ai cũng phải ra đi”. Ngô Đ́nh Cẩn điềm tĩnh: "Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi không sợ chết đâu. Nhưng tôi lo cho luật sư, lúc căi cho tôi, luật sư có đụng chạm tới họ. Không biết luật sư ở lại có bị họ làm khó dễ hay không". Luật sư Quan ứa nước mắt: "Không sao đâu, ông cố vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa".

 

Thủ tục tiếp theo là vị linh mục ban cac Bí tích sau cùng và cầu nguyện cùng ông Cẩn. Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ ǵ không th́ ông Cẩn xin được mặc quần trắng, áo dài đen v́ ông muốn được chết trong bộ "quốc phục" Việt Nam (ngày ấy chính quyền Ngô Đ́nh Diệm quy định "quốc phục" của Việt Nam Cộng ḥa là quần trắng, áo dài đen, đội khăn xếp). Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là v́ chiếc áo được thân mẫu may cho khi c̣n ở Huế. Rồi cho ông cũng nói với mọi người là ông tha thứ những người đă giết ông. 

 

Yêu cầu của ông được đáp ứng, những viên cai ngục giúp ông thay quần áo. Rồi thiếu tá Đức ra lệnh cho 2 nhân viên xốc nách d́u ông Cẩn ra khỏi pḥng giam và xuống cầu thang. V́ ông Cẩn không thể đi được, nên người ta phải đặt ông lên một chiếc băng ca và đẩy đi suốt hành lang này qua hành lang khác. Ra khỏi khu "ḷ bát quái", ông được chuyển sang một băng ca khác do 4 người cai ngục khiêng giữa sân có cắm một chiếc cọc th́ cả đoàn người dừng lại...

 

Thiếu tá Đức ra lệnh cho đám cai tù xốc nách đỡ ông Cẩn dậy, d́u ra cột. Khi ông được d́u tới cột gỗ th́ một người lính trong đội hành quyết nói nhỏ với ông là xin phép được trói hai tay ra đằng sau, hai tay được đặt lên một thanh ngang giống như cây thánh giá mục đích là để người bị tử h́nh không tụt được xuống. Một người lính cai ngục lấy chiếc khăn đen bịt mắt tử tội th́ ông Cẩn lắc đầu liên tục và nói: "Tôi không chịu bịt mắt. Tôi không sợ chết". Nhưng người ta vẫn buộc khăn vào một cách vụng về, v́ vậy không chỉ bịt mắt mà bịt gần hết khuôn mặt ông Cẩn.

 

Đội hành quyết có 10 người và đội mũ lính quân cảnh có in 2 chữ QC, chia làm 2 hàng. Hàng trước 5 người quỳ, hàng sau 5 người đứng. Trong 10 người th́ có 1 người được sử dụng khẩu súng mà trong đó lắp 1 viên đạn mă tử (không có đầu đạn mà chỉ bịt giấy). Đúng 18 giờ 20, phút hành quyết đă tới, ông Đức giơ tay ra lệnh thi hành. Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết hô lớn: “Bắn!". Một loạt súng nổ, Ngô Đ́nh Cẩn giũ người xuống ngay lập tức. Máu từ trên ngực chảy loang xuống chiếc quần trắng. Ngay sau đó viên chỉ huy đội hành quyết chạy đến gí khẩu súng colt 12 ly vào tai Ngô Đ́nh Cẩn và bắn phát ân huệ. Bác sĩ pháp y chạy ra dùng ống nghe gí vào ngực Ngô Đ́nh Cẩn nghe ngóng, vạch mắt ra xem, rồi quay lại gật gật đầu ra ư là Ngô Đ́nh Cẩn đă chết.

 

Trung tá Luyện ra lệnh cho mấy viên cai ngục cởi trói hạ xác Ngô Đ́nh Cẩn đặt vào băng ca rồi khiêng vào Khám Chí Ḥa để khâm liệm và cho thân nhân nhận xác mang về chôn cất. Xác Ngô Đ́nh Cẩn được đưa về an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang, tức nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế gần sân bay Tân Sân Nhất.

Sở sĩ gia đ́nh an táng Ngô Đ́nh Cẩn tại đây là v́ Thượng tọa Thích Chí Dũng là người thân quen với gia đ́nh. Sau năm 1975, khi quy hoạch lại TP HCM nghĩa trang này được di dời về Lái Thiêu. Mộ Ngô Đ́nh Cẩn cũng được đưa về đó nằm cạnh mộ của thân mẫu và 2 người anh là Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu.

 

 

v. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận.

  

Ngày 05.07.2013, tại Vương cung Thánh đường Thánh Antôn Padua ở Rôma (Ư-đại-lợi), Đức Hồng y Agostino Vallini, Giám quản Tổng Giáo phận Rôma đă chủ tọa Thánh Lễ đánh dấu thời điểm kết thúc tiến tŕnh điều tra cấp Giáo phận án phong Chân phước cho Hồng Y Tôi tớ Chúa P.X. Nguyễn Văn Thuận. Tiến tŕnh này đă được bắt đầu từ gần ba năm, ngày 22.10.2010, tám năm ngày Đức nguyên Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài G̣n từ trần.

 

Sau Thánh Lễ, một buổi thuyết tŕnh đă được tổ chức về sáu lá thư mục vụ mà Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đă viết từ năm 1968 đến năm 1973. Sáu lá thư này đă được chuyển ngữ sang tiếng Ư và được xuất bản bởi thư viện Vatican cùng Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Ḥa b́nh.

 

Xin nhắc lại:

 

i. - Năm 1968 là năm của Thảm sát Tết Mậu Thân: Lợi dụng thời gian hưu chiến dịp Tết Nguyên đán, ngày 30.01.1968, Bắc Việt đă mở cuộc tổng công kích vào thủ đô và các thị xă. Tại Sàig̣n, cộng quân đă đánh vào cửa sau Dinh Độc lập và xâm nhập Ṭa Đại sứ Mỹ. Quân lực VNCH, tuy bị bất ngờ, nhưng đă anh dũng đánh bật cộng sản ra khỏi các nơi bị chiếm đóng.

 

- Năm 1973 là năm kư Hiệp định Paris ngày 27.01.1973 để quân Mỹ tháo chạy khỏi Việt Nam ‘trong danh dự’. Để chắc thắng cử nhiệm kỳ II, Tổng thống Richard Nixon giao cho Henry Kissinger làm mọi cách để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, dù chống đối mănh liệt và không có dấu hiệu ‘bán nước’, vẫn phải kư. Ông Nixon đă thành công trong cuộc bầu cử ngày 07.11.1972, nhưng đă phải từ chức khi lưỡng viện Lập pháp bắt đầu tiến tŕnh luận tội ngày 09.08.1974.

 

Ngày 06.07.2013, lúc 12 giờ, Đức Thánh Cha Phanxicô đă dành cho khoảng 400 tham dự viên nhân dịp kết thúc giai đoạn Giáo phận trong tiến tŕnh điều tra phong chân phước cho Đức Hồng Y Tôi Tớ Chúa P.X. Nguyễn Văn Thuận một cuộc triều. Người nói (xin trích):

 

“… nhiều người làm chứng là đă được khích lệ nhờ được gặp gỡ với Vị Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, qua những giai đoạn khác nhau trong cuộc sống của Người. Kinh nghiệm ấy chứng tỏ tiếng tăm thánh thiện của Người được phổ biến qua chứng tá của bao nhiêu người đă gặp Đức Hồng Y và vẫn c̣n giữ trong tâm hồn nụ cười hiền ḥa và tâm hồn cao thượng của Người.

 

Nhiều người biết Đức Hồng y qua các tác phẩm của Người, đơn sơ và sâu xa, chứng tỏ tâm hồn tư tế Người được kết hiệp sâu xa với Đấng đă mời gọi Người trở thành thừa tác viên ḷng từ bi và t́nh thương của Chúa.

 

Bao nhiêu người đă viết, kể lại những ơn lành và dấu lạ mà họ tin là nhờ lời chuyển cầu của Hồng Y Tôi Tớ Chúa Văn Thuận. Chúng ta cảm tạ Chúa v́ Người Anh đáng kính này, người con của Phương Đông, đă kết thúc hành tŕnh trần thế Người trong việc phục vụ Vị Kế Vị Thánh Phêrô.

 

Chúng ta hăy phó thác cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria sự tiếp tục án phong này, cũng như tất cả các án phong đang tiến hành…”

 

Lúc 16 giờ ngày 06.07.2013, Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành tại Nhà thờ Đức Mẹ Cầu Thang của Ḍng Camêlô Nhặt Phép ở Roma, nơi có mộ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.

 

Rất tiếc vô cùng, sáng sớm ngày 16.09.2021, chúng tôi mong được dâng Thánh Lễ trực tuyến từ Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài G̣n để hiệp dâng Thánh Lễ kỷ niệm ngày qua đời của Đức Phó Tổng Giám mục với Quyền kế vị mà phải bị 13 năm tù, rồi bị quản chế và, cuối cùng, bị cấm về nước cho đến chết v́ trung thành với Bài Sai và v́ là cháu ông Diệm. Sau khi dâng Thánh Lễ tại Giáo xứ, chúng tôi lại t́m Thánh Lễ trực tuyến cầu cho Đức Hồng y Đáng Kính tại Giáo phận Nha Trang. Ôi cũng là an ủi.

 

 

v. Ngô Đ́nh Lệ Quyên.

  

Sau khi nhận hung tin hai ông Diệm và Nhu bị thảm sát, bà Nhu liền nhờ sự trợ giúp của một nữ phóng viên thân tín Mỹ để can thiệp cho Lệ Quyên, sinh ngày 26.07.1959, và hai anh Trác và Quỳnh, được thoát khỏi tay các kẻ bạo tàn ngày 04.11.1963. Cả ba được đưa đến Rôma (Ư đại lợi), để sum hợp với Mẹ và chị Lệ Thủy cũng rời Hoa Kỳ đến đây với qui chế tị nạn.

 

Tốt nghiệp Đại học Rôma với văn bằng Tiến sĩ Luật, chuyên về Công pháp, Lệ Quyên ghi danh hành nghề tại Luật sư đoàn Rôma. Phân khoa Luật ngỏ lời mời bà nhận chức Giáo sư, nhưng v́ bà vẫn muốn giữ qui chế tị nạn với quốc tịch Việt Nam, nên bà không thể là Giáo sư thực thụ mà chỉ được mời để thuyết giảng. Bà kết hôn với một người Ư và hạ sinh một con trai tên Ngô Đ́nh Sơn, tức mang họ mẹ. Bà Nhu rất hănh diện khi nhắc đến tên cháu ngoại Ngô Đ́nh Sơn, niềm tự hào ḍng họ, sự giữ gốc rễ dân tộc, chứa chan t́nh yêu nước.

 

V́ thành tích hoạt động xuất sắc phục vụ Cộng ḥa Ư, năm 2008, theo đề nghị của Tổng trưởng Bộ Nội vụ, Tổng thống Federica Cifelli đă ban hành nghị định ban cấp Quốc tịch Ư cho Bà với lư do « có những phục vụ đặc sắc cho nước Ư ». Lệ Quyên là người nữ đầu tiên hưởng đặc cách này.

 

Từ tháng 12/1992 đến tháng 11/1996, Lệ Quyên phụ trách Trung tâm lắng nghe người di dân và tị nạn tại Caritas Rôma, cơ quan quan sát lớn nhất về nhập cư, có cấu trúc hoàn bị nhất, một hoạt động t́nh nguyện tại Ư, với hơn 200.000 hồ sơ người ngoại quốc, khởi đầu từ năm 1981, đến từ khoảng 150 quốc gia.

 

Từ tháng 12/1996, bà đảm trách sự phối hợp và giám sát các dịch vụ và lập dự án cho công dân ngoại quốc di dân, tị nạn và các nạn nhân bị buôn bán gồm việc lắng nghe, can thiệp, thông tin và tiếp nhận các gia đ́nh cùng chăm sóc trẻ em không cha mẹ đi kèm.

 

Tháng 07/2000 đến 12/2007, bà đảm nhận thêm trách nhiệm phối hợp ‘Dự án quốc gia Caritas Ư về người tị nạn’ để hoạt động tại 46 Caritas Giáo phận. Từ tháng 06.2009, bà c̣n là thành viên Ủy ban Di cư Caritas Europa, sau đó, kiêm nhiệm Chủ tịch và đă chủ tŕ phần tiếng Ư của Hiệp hội nghiên cứu các vấn đề toàn cầu về người tị nạn, một tổ chức phi chính phủ quốc tế có tư cách tư vấn cho Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Âu châu.

 

Lệ Quyên đă có vài lời nói đáng lưu ư như: 

 

- “Chúng tôi cố gắng hỗ trợ những người không thể tự lo cho chính ḿnh. Mặc dù chúng tôi muốn giúp những người dễ bị tổn thương, nhưng chúng tôi không muốn tạo ra một sự phụ thuộc hay ỷ lại. Ai cũng phải có một ư thức trách nhiệm và tự lập”.

 

-   “Phụ nữ đi sống và làm việc tại các gia đ́nh có thể gặp nguy cơ bạo lực t́nh dục. Nhưng họ cũng có thể tạo ra những hành vi và thái độ nào đó bởi v́ họ sợ mất việc làm”.

 

Caritas không nói nhiều về thân thế cá nhân Lệ Quyên, người ta chỉ biết bà thuộc một gia đ́nh đạo đức và được chăm sóc bởi một Đức Hồng y (P.X Nguyễn Văn Thuận).

 

Lối 8 giờ 30 ngày 16.04.2012, tại cây số thứ 12 trên đường Pontina, gần Mostacciano, cửa vào Thủ đô Ư, bà Ngô Đ́nh Lệ Quyên đă tử nạn khi té moto, do mặt đường trơn trợt sau những cơn mưa trong các ngày qua, và bị gia chạm vào bus chở 23 trẻ mồ côi và những nhân viên xă hội đến trường học. Lúc đó, bà đang trên đường đến văn pḥng làm việc Caritas Rôma.

 

Caritas.org loan bản tin: “Caritas tôn vinh nhà vô địch phụ trách người di cư ở Rôma thiệt mạng trong tai nạn giao thông”. Bè bạn và đồng nghiệp Caritas Rôma của vị đặc trách phần vụ di cư, bà Ngô Đ́nh Lệ Quyên, vô cùng xúc động trước thảm trạng đă khiến bà qua đời. Đức ông Enrico Feroci, Giám đốc cơ quan bác ái viết: « Lệ Quyên là một gương mẫu cho tất cả chúng tôi. Trong bao nhiêu năm trời, bà hăng say chu toàn công việc bênh vực những người nghèo khổ và rốt cùng, với tất cả niềm tin. Hoạt động của bà đối với chúng tôi là một động lực giúp phát triển về mặt nhân bản và chuyên nghiệp. Bà biết liên kết những năng khiếu cá nhân, kinh nghiệm của một người tị nạn, với niềm tin sâu xa nơi Thiên Chúa, và ḷng tôn trọng con người. Với những lời khuyên giúp và làm việc không biết mệt, bà nhắc nhở chúng tôi rằng hoạt động của chúng ta là đem lại niềm vui cho người nghèo và những người kém may mắn. Trong lúc đau buồn này, chúng tôi muốn gần gũi với gia đ́nh bà và cộng đoàn giáo xứ thánh Gregorio Barbarigo, nơi bà Lệ Quyên vẫn siêng năng tham dự Thánh Lễ Chúa nhật ». 

 

“Caritas Europa tỏ ḷng tôn kính với cựu chủ tịch ủy ban di cư. Chúng tôi sẽ nhớ bà ấy như một chuyên gia đặc biệt, không chỉ là một người có thẩm quyền, mà c̣n rất vui vẻ để mọi người khác thích làm việc chung”, ông Peter Verhaeghe, phụ tá Giám đốc điều hành Caritas Europa, đă nói.

 

Ngày 18.04.2012, Đức Hồng y Agostino Vallini, Giám quản Tổng Giáo phận Rôma, đă công bố Thông điệp: “Sáng nay, tôi đă dâng Thánh Lễ để tưởng nhớ bà Ngô Đ́nh Lệ Quyên và cầu nguyện Thiên Chúa cho linh hồn Lucia được hưởng B́nh an và niềm Vui vĩnh cửu… Giáo hội Rôma tạ ơn Thiên Chúa đă ban tặng món quà là người nữ khiêm tốn này. Bà đă thực hiện lời Chúa Giêsu dạy ‘Tôi là một khách lạ, và bạn đă tiếp đón tôi’ (Mt 25:35). Trong cuộc sống, qua các dịch vụ hàng ngày, bà lắng nghe và an ủi cho những người bị buộc phải rời bỏ quê hương của họ… Tôi bày tỏ với gia đ́nh Ngô Đ́nh sự cảm thông sâu xa về nỗi đau buồn lớn lao này và mời tín hữu giáo phận cầu nguyện cho người chị em chúng ta đă sống quảng đại cho Tin Mừng”.

 

(C̣n tiếp)

 

 

Vietcatholic, ngày 06.11.2021

Hà Minh Thảo

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính