Lịch sử Việt – Thăng trầm vận nước

 

 

- Con người th́ phải có quá khứ, cũng như lịch sử là cội nguồn của hôm nay và mai sau. Nhưng trải qua mấy ngàn năm lịch sử biết bao thăng trầm từng giai đoạn thời kỳ quân chủ qua quân chủ lập hiến tới hôm nay. Tới giai đoạn biến cố 1975, sách báo tư liệu lịch sử bị đốt bỏ hết. Để cai trị và nắm quyền độc tài lên dân tộc Việt. Đảng cộng sản đă xóa hết tất cả những trang sử hào hùng cũng như bi tráng nhứt của các tiền nhơn trước để viết sai lịch sử méo mó đến dị dạng. Dầu cướp chánh quyền từ chánh phủ Trần trọng Kim năm 1945. Với sự hậu thuẫn quan thầy Xô - Trung. Cộng sản Việt Nam đă tṛng lên đầu dân tộc một cảnh điêu tàn, tang tóc khắp cả nước. Khi làm tay sai cho đảng cộng sản Xô viết và Trung cộng.

 

(Và ngoài cướp phá từ khi thành lập đảng cộng sản năm 1930, tới khi cướp chánh quyền từ thủ tướng Trần trọng Kim năm 1945 tới nay. Đảng cộng sản chẳng có 1 tư ǵ công trạng kiến thiết đất nước ngoài cướp công trạng của người khác làm của ḿnh. Tới nay gần 1 thế kỷ ta nh́n nhận lại lịch sử xem sẽ thấy rơ ràng nhứt về điều đấy).

 

Và giờ đây không ít người trẻ thời nay được học sử: “Vua Bảo Đại vào tháng 3/1945 đổi sang gọi Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ v́ gọi Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ mang tính chất kỳ thị vùng miền” (?).

 

 

- I

 

- Phải nói về danh xưng “ba miền”, theo nghĩa địa lư hiện nay (Nam, Trung, Bắc) cho có đầu có đũa cái đă.

 

 - Hồi thời vua Lê Thánh Tôn, nước Việt mới tới Phú Yên, nghĩa là chỉ có miền Bắc, và miền Trung dở dang (chưa trọn miền Trung), thành thử không có “ba miền”.

 

Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Đàng Trong mở rộng đến Cà Mau nhưng hùng cứ một cơi, không ăn nhập với Đàng Ngoài, thành thử cũng không thành “ba miền”.

 

- Chỉ sau khi vua Gia Long thống nhứt sơn hà th́ lănh thổ chữ S mới xôm tụ, đề huề gồm đủ Nam / Trung/ Bắc.

 

- 1808, vua Gia Long định lại bờ cơi mà phân địa giới khu vực: ngoài khu vực Kinh thành ở miền trung, chia làm hai miền bắc nam: khu vực phía bắc gọi là “Bắc Thành”, khu vực phía Nam gọi là “Gia Định Thành” bao trùm toàn miền nam gồm 5 trấn (Biên Ḥa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, An Giang).

 

 

- II

 

Đến cột mốc “1834” mới thực đáng chú ư hơn.

 

Chú ư thứ nhứt:

-  Vua Minh Mệnh phân ranh địa giới thành các TỈNH, và khái niệm “tỉnh” được xài cho đến hiện nay (không c̣n xài cách gọi “đạo”, “dinh”, “trấn”... của bao nhiêu đời xửa xưa ǵ nữa)! Suốt 187 năm (tính cho đến năm 2023), địa giới mỗi tỉnh mỗi thời - dĩ nhiên - có thay đổi (nhập vào, tách ra)

 

- Chú ư thứ nh́:

-  Dưới thời vua Minh Mệnh xuất hiện cách gọi ba miền là Bắc Kỳ, Trung Kỳ (hồi đó gọi tỉ mỉ hơn: Hữu Kỳ, Trực Kỳ nằm nơi kinh đô, và Tả Kỳ - gộp chung lại là “Trung Kỳ”), và Nam Kỳ (toàn miền nam gồm 6 tỉnh, nên quen gọi “Nam Kỳ Lục tỉnh”: Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).

 

 

- III

 

 - Tây vào VN, họ định danh ba miền bằng tiếng Tây “Tonkin”, “Annam”, “Cochinchine”, làm ǵ có miếng ngôn ngữ Việt nào ở trỏng! Tây dựa theo cách phân chia địa giới sẵn có của triều đ́nh Nhà Nguyễn (thời vua Minh Mệnh) để áp cách đặt tên Tây: “Nam Kỳ” đổi thành “Cochinchine”, “Trung Kỳ” đổi thành “Annam”, Bắc Kỳ đổi thành “Tonkin”.

 

- Trong khi đó, người Việt vẫn giữ cách gọi chính thức của tiền nhơn chúng ta - bằng ngôn ngữ Việt rành rành là “Bắc Kỳ”, “Trung Kỳ”, “Nam Kỳ” - suốt hơn một thế kỷ, từ năm 1834 đến năm 1945.

 

 

- IV

 

- Cách gọi Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ là do tiền nhơn triều Nguyễn đặt ra, nói vua Bảo Đại “bỏ đi v́ nó mang tính kỳ thị vùng miền” th́ có khác nào vua Bảo Đại chửi tông tổ chính ḿnh?

 

- Theo hồi kư của cụ Trần Trọng Kim, vua Bảo Đại vào tháng 3/1945 có đổi sang gọi “Bộ” thay v́ “Kỳ”, nhưng không phải với lư do của giới “giết sử” bịa ra mà ch́u theo CÁCH GỌI “BỘ” CỦA QUÂN PHIỆT NHỰT BỔN!

 

Nhựt Bổn sau khi đảo chánh Pháp, cầm trịch, và thống sứ Nhựt Nashimura là người đổi cách gọi “Kỳ” (Nam, Trung, Bắc) truyền thống của người Việt sang cách gọi “Bộ” (Nam, Trung, Bắc).

 

- Chánh phủ của vua Bảo Đại, được Nhựt bảo trợ, nên “vuốt mặt phải nể mũi”: tạm thời không đổi “Bộ” (theo cách gọi của Nhựt Bổn) trở lại thành “Kỳ” của tiền nhơn, trong khi đó dồn công sức thực hiện một số cải cách, chẳng hạn, trong giáo dục...

 

- Điều cần chú ư ở đây là: cách gọi KỲ (Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ) ĐĂ CÓ TRƯỚC hơn một thế kỷ lận, những 111 năm (xuất hiện năm 1834) sau đó mới nảy ṇi cách gọi Bộ (Nam bộ, Trung bộ, Bắc bộ) (xuất hiện trong năm 1945).

 

 

- V

 

- Nhà nước VNDCCH, sau đó, xử dụng cách gọi “Bộ”, nghe riết thành quen. Quen đến mức nhiều người thời nay cứ tưởng “Nam Bộ” là cách gọi ... có từ thuở mở cơi miền Nam.

 

- Hai chữ “Nam Bộ” xuất hiện mới được mấy chục năm thôi giữa ḍng lịch sử dài HƠN 300 NĂM của đất phương Nam (với nhiều tên gọi về vùng đất này, trong đó danh xưng “Nam Kỳ lục tỉnh” có tuổi đời cách đây 187 năm, gần hai thế kỷ rồi đa).

 

- Thành thử nếu ghi như ri: “Nguyễn Đ́nh Chiểu viết Lục Vân Tiên phản ảnh khí chất con người Nam Bộ lúc bấy giờ”. Xét thiệt nghiêm túc th́ câu nói như vậy là... trật!

 

Cụ đồ Nguyễn Đ́nh Chiểu sống khôn thác thiêng, nếu cụ thử ghé về dương gian ắt cụ phải giựt ḿnh, “Bây viết Nam Bộ là cái giống ǵ? Thuở sanh tiền, ta chớ hề nghe nói tới chữ đó. Nó ... nằm ở đâu?”.

 

- Nên nhớ:

 

- Cụ đồ Chiểu qua đời năm 1888, bấy giờ là Nam Kỳ, măi 57 năm sau mới nảy ṇi ra tên gọi “Nam Bộ”.

 

- Viết cho đàng hoàng, cho tử tế, phải là: “Nguyễn Đ́nh Chiểu viết Lục Vân Tiên phản ảnh khí chất con người NAM KỲ lục tỉnh” (rồi chú thích “nay gọi là Nam Bộ”).

 

Đặt cách gọi của đời sau trùm lên đầu tiền nhơn, có khác nào con đ̣i đẻ ra cha, cháu đ̣i đẻ ra ông!

 

- Tỉnh Định Tường. (Mỹ Tho) 

    

- Vùng Đồng Nai Cửu Long là vùng đất bao gồm tất cả các tỉnh nằm trong vùng đất bao quanh hai hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Đó là các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam phần, từ B́nh Thuận vào đến Cà Mau. Dưới thời vua Gia Long và phần đầu của thời vua Minh Mạng, cả vùng này được gọi là Trấn Gia Định. Năm 1932 sau khi Tổng Trấn Lê Văn Duyệt mất, Gia Định Trấn mới bị băi bỏ, Miền Nam được chia thành 6 tỉnh là Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

 

- Địa danh Nam Kỳ Lục Tỉnh có từ đó.

 

Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp gọi vùng này là Cochinchine hay Nam Kỳ. Đây là vùng thuộc địa của Pháp, và lục tỉnh được chia làm 21 tỉnh với những chữ đầu ghép lại làm thành bài thơ như sau:

 

- Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà. Sa, Bến, Long, Tân, Sóc. Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà. Chợ, Vĩnh, G̣, Cần, Bạc, Cấp.

 

- Gia Định, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh. Sa Đéc,Kiến Ḥa, Kiến Phong, Ba Xuyên, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng. Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hoà, Mỹ Tho, Bà Rịa. Chợ Lớn, Vĩnh Long, G̣ Công, Phong Dinh, Bạc Liêu, Cap Saint Jacques.

 

-Thời Việt Nam Cộng Ḥa, vùng này là Miền Nam Việt Nam và bao gồm các tỉnh Miền Đông (Tây Ninh, B́nh Long, Phước Long, Sông Bé, Biên Ḥa, Long Khánh, B́nh Tuy, Phước Tuy, Gia Định), và các tỉnh Miền Tây Nam Phần (Châu Đốc, Kiến Phong, Kiến Tường, Kiến Phong, Hậu Nghĩa, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Định Tường, Long An, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh B́nh, Kiến Ḥa, G̣ Công, An Xuyên, Bạc Liêu, Ba Xuyên). Chánh phủ hiện thời dùng chữ Nam Bộ thay v́ Nam Phần và cũng phân biệt Miền Đông (hay vùng Đồng Nai với các tỉnh Sông Bé, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An) và Miền Tây (hay đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Cửu Long, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Minh Hải).

 

Đối với đa số người dân Miền Nam, Mỹ Tho (Định Tường) là vùng đất ở giữa hai hệ thống sông Đồng Nai (phía Bắc) và hệ thống sông Cửu Long (phía Nam), tức ở giữa các tỉnh Tân An và Kiến Ḥa thời Pháp thuộc, hay giữa các trấn Gia Định và Long Hồ (Vĩnh Long) xưa. Thời Pháp thuộc, tỉnh Mỹ Tho là tỉnh thứ 14 trong bảng liệt kê 21 tỉnh ghi trên. Thời Việt Nam Cộng Hoà tỉnh Mỹ Tho được đổi lại tên xưa là tỉnh Định Tường, và Mỹ Tho lúc ấy tương đương với thành phố hoặc thị xă bây giờ. Hiện nay, tỉnh Mỹ Tho và G̣ Công nhập chung lại thành tỉnh Tiền Giang.

 

- Mỹ Tho (Định Tường) rất gần với Sài G̣n, (đường bộ Sàig̣n – Mỹ Tho chỉ có 71 km), và là vùng đất nối liền giữa Sàig̣n với các tỉnh Miền Tây. Ngày xưa từ Sàig̣n Gia Định, muốn tiến xuống Miền Tây, người ta phải đi vào và đi qua Mỹ Tho (Định Tường). Quốc lộ 4 (đường về Hậu Giang) sau khi qua khỏi tỉnh Tân An th́ sẽ vào địa phận tỉnh Mỹ Tho (từ Tân Hương, Tân Hiệp, vào Ngă Ba Trung Lương qua Cai Lậy, Cái Bè, Giáo Đức của tỉnh Mỹ Tho, rồi mới qua Bắc Mỹ Thuận để vào địa phận tỉnh Vĩnh Long. Nếu không rẽ qua Trung Lương th́ đi vào thành phố Mỹ Tho, qua Bắc Rạch Miễu là qua địa phận tỉnh Kiến Ḥa, và nếu đi qua khỏi Mỹ Tho về phía Đông th́ sẽ qua cầu Chợ Gạo để về G̣ Công.

 

 

 

Bến Mỹ Tho xưa (nay là vườn hoa Lạc Hồng). Ảnh: sưu tầm.

 

Lịch sử khai khẩn đất hoang của triều đ́nh Nguyễn

 

- Khi Nguyễn Hoàng được cử vào cai quản Thuận Hóa (1558) th́ đất đai của nước Việt về phía Nam chỉ có đến Phú Yên. Từ đó đến B́nh Thuận c̣n là lănh thổ của Chiêm Thành hay Champa. Nhưng từ lúc xứ Đàng Trong (từ sông Giang trở vào Nam) của Chúa Nguyễn bắt đầu thành h́nh th́ cũng là lúc Chiêm Thành khởi sự suy yếu dần. Xứ Đàng Trong càng lớn mạnh lên bao nhiêu th́ xứ Chiêm Thành càng yếu đi và càng nhỏ lại bấy nhiêu. Cho đến cuối thế kỷ thứ XVIII th́ nước Chiêm Thành kể như không c̣n nữa và dân tộc Chăm trở thành người dân thiểu số trong cộng đồng người Việt. Biên giới phía Nam của nước Việt bấy giờ là vùng B́nh Thuận, và nước láng giềng về phía này của Việt Nam là nước Chân Lạp (tức Kampuchea hay Cao Miên) của người Khờ Me (tức người Miên như người trong Nam thường gọi). Vùng Đồng Nai Cửu Long lúc này thuộc về Chân Lạp.

 

Thực ra đất Đồng Nai Cửu Long chỉ có thuộc về Chân Lạp trên danh nghĩa thôi, trong thực tế người dân Khờ Me không có mặt nhiều trên phần đất này. Người dân Khờ Me chỉ sinh sống ở một vài nơi thưa thớt, rải rác trên vùng đất cao, hoang vu mênh mông ở vùng Hậu Giang của đồng bằng sông Cửu Long. Ở vùng Đồng Nai th́ có các bộ lạc người Mạ và người Xtiêng sinh sống, cũng rải rác, cũng thưa thớt trong vùng đất minh mông hoang vu vậy. Triều đ́nh Chân Lạp không hay chưa có thiết lập các cơ quan hành chánh cai trị, hoặc những đồn binh quân sự trấn đống để bảo vệ đất đai và dân chúng của họ trên vùng đất này. Chợ búa, thành thị cũng không có ǵ cả.

 

Theo Huỳnh Văn Lang th́: “Cuối thế kỷ XVII, các nhà truyền giáo và thương nhân Bồ Đào Nha ước lượng nước Chân-lạp lúc đó với một diện tích bằng Kampuchea, Nam-phần và phần Hạ-Lào hiện giờ mà chỉ có một dân số chưa đến 700 ngàn, đang khi đó th́ địa phận Đàng-trong , tức là thuộc địa của chúa Nguyễn, diện tích chỉ bằng ¼ Chân-lạp mà dân số đă trên 100 vạn hay là 1,000,000 người. Gần 250 năm sau, tức là năm 1836-37 khi vua Minh-mạng cho lệnh tổng kê dân đinh nước Chân-lạp, vừa bị sáp nhập vào địa đồ hay lănh thổ V.N. thành Trấn-Tây, th́ chỉ có 970,516 người, đang khi đó th́ ruộng đất lên đến 4,036,892 mẫu” (Minh-mạng chính yếu - Chuyện đường rừng, tr. 21-22).

 

Đối với người dân Việt, những đất đai minh mông hoang vu ở đây là đất vô chủ, không ai để ư tới, không ai ḍm ngó, kiểm soát. Vả lại ranh giới giữa hai nước (Việt – Chân Lạp) không có ǵ rơ ràng, ranh giới giữa các sắc tộc sinh sống rải rác trên vùng đất này (xem như vùng trái độn) lại càng mơ hồ, co dăn, biến thiên hơn. (Xem bài “Les données historiques de la limite territoriale au tracé frontalier” của Michel Blanchard trong Ḍng Việt số 17, tr. 109-137). Trong t́nh huống đó, và với bản năng sinh tồn mạnh mẽ, với máu mạo hiểm, nông nẩy làm việc để sinh sống, người Việt không ngần ngại ǵ mà không vào vùng đất hoang vu mới mẻ này để phá rừng, dọn đất, trồng trọt, mưu sinh, lập nghiệp.

 

- Mô Xoài là nơi mà người Việt đă đến khai phá, định cư sớm nhất. Mô Xoài tức là Bà Rịa bây giờ. Các sách Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam Nhứt Thống Chí triều Nguyễn cho rằng xứ Mô Xoài là vùng địa đầu của Biên Trấn, tức là vùng người lưu dân Việt đầu tiên đặt chân vào để khai phá mở mang Miền Nam nước Việt. Mô Xoài là nơi mà người Việt đă đến khai phá, định cư sớm nhứt so với các nơi khác ở Miền Nam. Đại Nam Nhứt Thống Chí triều Nguyễn cho rằng xứ Mô Xoài là vùng địa đầu của Biên Trấn, tức là vùng người lưu dân Việt đầu tiên đặt chân vào để khai phá mở mang Miền Nam nước Việt.

 

Trong Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức nói về Bà Rịa như sau: “Bà Rịa ấy là đầu địa giới trấn Biên Ḥa là đất danh tiếng, cho nên các phủ miền Bắc có ngạn ngữ rằng “Cơm Nai, Rịa, cá Rí, Rang”, là v́ lấy Đồng Nai – Bà Rịa là đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài G̣n, Mỹ Tho, Long Hồ ở cả trong đó. Đất ấy lưng ở dựa núi, mặt nh́n biển, rừng rậm tre dài, ở trên có trường tuần để vời gọi những người Man Mạch đến dỗi chác, ở dưới có cửa bến, để xét hỏi ghe thuyền ra biển, trạm thủy, trạm bộ giao tiếp nhau, việc cung nộp lâm sản chống trị người Đê, người Mọi, bắt bớ giặc cướp, th́ có huyện nha đạo thủ chia nhau làm việc, vốn là nơi bận rộn khó nhọc bậc nhất. Có nhiều cửa quan hiểm yếu, có thành tŕ xưa di chỉ hăy c̣n, như là quốc đô của vua nào vậy.”

 

-  Xét Bà Rịa là đất Lục Chân Lạp xư, Khảo sách Tân Đường thư nói: “Nước Bà Lỵ ở thẳng phía đông nam Chiêm Thành, từ cửa biển Giao Châu vượt biển trải qua các nước Xích Thổ, Đan Đan mới đến. Đất ấy có băi rộng, nhiều ngựa, cũng gọi tên là Mă Lễ. Tục hay xâm lỗ tai đeo ngọc, dùng một vảnh vải cát bối (vải bông g̣n) cuống ngang lưng. Phía Nam có nước Thù Nại, sau đời Vĩnh Huy bị nước Chân Lạp thôn tính”. Cứ đó mà nói, th́ ước lược cũng giống tục của người Cao Miên, người Đê, người Mọi ngày nay, mà đất cũng dáng như thế.

 

Đây chỉ là những bước đầu lẻ tẻ, chập chững của những người đi tiên phong trong công cuộc mạo hiểm vào vùng đất mới lạ. Phải đợi một cơ hội thuận tiện nào đó để việc mở rộng về phương Nam trở thành phong trào mạnh mẻ, có tính cách quy mô hơn. Cơ hội đó là sự cầu thân của vua Chân Lạp Chey Chetta II với Chúa Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 1620. Sử Khờ Me ghi là sau khi lên ngôi vua Chey Chetta II cho xây cung điện nguy nga tại Oudong rồi cử hành lễ cưới long trọng với một nàng công chúa xinh đẹp của Việt Nam. Hoàng hậu Sam Đát (tức công chúa Ngọc Vạn) có đem nhiều đồng hương sang Chân Lạp. Có người làm quan trong triều, có người làm thủ công, có người buôn bán, vận chuyển hàng hóa. Theo hồi kư của giáo sĩ Chistofo Borri, một người Ư đă sống gần Qui Nhơn từ 1618 đến 1622, th́ chúa Nguyễn đă viện trợ cho vua Chân Lạp cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại quân Xiêm. Borri cũng tả rơ phái đoàn quan quân Việt Nam đưa công chúa Ngọc Vạn về Oudong như sau: “Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bày trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh Oudong, th́ dân chúng Khờ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhựt Bổn, Trung Hoa đă tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh.”

 

 

H.A.

 

Mắc ǵ gọi “Bức xúc” (逼促), tiếng thuần Việt đâu mất rồi?

 

 

Hồi sau “tiếp quản” năm 1975, nhiều người trong Nam không khỏi lạ tai khi lần đầu nghe hai chữ “bức xúc”. Rồi, cho đến bây giờ, sau gần nửa thế kỷ, nghe và nói “bức xúc”.... quen tới mức QUÊN ! - ồ, quên mất chữ ǵ dùng để nói, thay cho “bức xúc”?

 

Đây là trường hợp từng dùng cách nói THUẦN VIỆT, rồi quên, rất nhiều người bị quên chỉ v́ bị ch́m trong âm Hán-Việt xứ “lạ”.

 

/1/ C̣n nhớ, một lúc rộ lên cái phong trào “làm trong sáng tiếng Việt”, tưởng hay, té ra... dọn băi trống để sau đó đưa vào những âm Hán-Việt nghe “lạ tai” hết sức (mà không hề bị ném đá bởi cái phong trào “trong sáng tiếng Việt”)!

 

Như cách nói “bức xúc” ra rả.

 

/2/ Ở vào chỗ không cựa quậy được, gọi là “bức” - là bắt buộc, buộc phải. Một sự thể cần kíp tới nơi rồi, gọi là “xúc” - mang nghĩa thúc giục nào đó.

 

Thành thử “bức xúc” 逼促 là để diễn tả tâm trạng, cảm giác rơi vào t́nh trạng khó chịu, không hài ḷng, khó xử.

 

Đó là cách dùng của người Tàu, họ nói: /bī cù/ (bức xúc).

 

/3/ Từ bao đời trước đây, người Việt có cách dùng chữ riêng cho ḿnh - là “BỨC BỐI”. Đây thuộc quốc âm (Nam âm), để diễn tả sự không hài ḷng, bực bội, bối rối, khó nghĩ.

 

[để ghi quốc âm, ngày trước dùng chữ Nôm: 𦁀 ]

 

/4/ Hai chữ “BỨC BỐI” và “bức xúc” cũng tương đối gần gũi về nghĩa. Nhưng người nước Nam dùng “BỨC BỐI” (quốc âm), c̣n người bên Tàu dùng /bī cù/ (“bức xúc”, âm Hán-Việt).

 

Mắc ǵ phải mượn cách nói “bức xúc” (/bī cù/), từ Tàu?

 

Xin cùng nhau nhớ lại, dùng lại cách nói thuần Việt ĐĂ CÓ SẴN từ tiền nhân chúng ta, là “BỨC BỐI”.

 

Ghi chú thêm: Để tôn “bức xúc”, trên mạng có những nơi giải thích “xúc” là “cảm xúc” (qua đó, để thuyết minh cách dùng “bức xúc” cũng... t́nh cảm lắm đa). Giải thích bừa, nói bừa!

 

“Xúc” (trong “bức xúc”) viết: ,”xúc” này mang nghĩa “o ép”, “thúc giục”, hoàn toàn KHÁC, không dính dáng ǵ với “xúc” (trong “cảm xúc”)!

 

 

Khẩn trương là ǵ?

 

 

- Sau 1975, khi khỉ trường sơn vượt vĩ tuyến 17 tràn vô Nam. Chúng biến dạng ngôn ngữ Việt một cách dị dạng.

 

- Xấu hay làm tốt - dốt hay nói chữ.

 

Rất nhiều từ ngữ bị lạm dụng gọi chung chung cho một sự việc không đúng tên gọi vốn dĩ đă có. Như chữ: Chế độ chẳng hạn người chỉ xài nói về chánh trị hay một chế độ của một nước nào đó.

 

C̣n lũ lớp 3 trường làng nó xài tất cả cho 2 chữ chế độ tắt/ mở hay chế độ chờ... ôi thôi...tả th́ cả ngày không hết.

 

Quay lại chữ - khẩn trương là ǵ nhé !

 

Ghi chú chút đỉnh chơi...

 

“KHẨN TRƯƠNG”

 

Đó là âm Hán-Việt của hai chữ . Việc ǵ cần kíp lắm, đều gọi là “khẩn” ; c̣n ở t́nh thế căng thẳng, tức “trương” . “Khẩn trương” là cấp bách tới mức CĂNG THẲNG, là “tension”!

 

Nhưng, hiện nay quí bạn ắt cứ phải nghe hoài kiểu nói như “đề nghị khẩn trương bước lên sân khấu”, “khẩn trương lên”... - tưởng báo động một t́nh huống căng thẳng ǵ đó, té ra không phải, mà chỉ là “hăy làm (việc ǵ đó) nhanh lên”. Vậy thôi.

 

Để thúc đẩy việc ǵ cần làm cho mau lẹ, ta nói “khẩn cấp” (“cấp” là gấp gáp), là “urgent”. Làm cho nhanh, “khẩn cấp” là đủ, c̣n “khẩn trương” là căng thẳng ghê gớm lắm, là xảy ra một sự biến ǵ nghiêm trọng!?

 

Hay nhứt, là dùng sẵn cách nói thuần Việt: “nhanh / lẹ / mau” - “xin nhanh chóng lên sân khấu”... Mắc ǵ phải “khẩn trương lên sân khấu”, làm quái ǵ tới mức căng thẳng ở đây?

 

* Ta thường nghe, phong trào “làm trong sáng tiếng Việt” một thời:  “ném đá”, trục xuất những âm Hán-Việt đă đi vào lối nói, lối viết thông dụng hàng trăm năm. Sau đó, thấy ǵ? Là... đưa những âm Hán-Việt, cỡ như “khẩn trương” thay vào, thiếu tinh tế, dốt chữ quá sức!

 

(cái phong trào gọi là “làm trong sáng tiếng Việt” th́ im thin thít, không phê phán “khẩn trương”)./.

 

 

Mich Long

 

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính