“Tiên học lễ, hậu học văn”

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Trong nền văn hóa truyền thống Việt Nam, từ xưa trong mỗi lớp học đă có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ nghĩa, phép xă giao, tôn ti trật tự trong giao tiếp là nền tảng trước khi học chữ nghĩa, tri thức hay khoa học.

 

Ở miền Nam trước năm 1975, phép xưng hô là một trong những biểu hiện rơ nhất của văn hóa và học thức.

 

Ngày nay, khi mạng xă hội tràn ngập những ḍng trạng thái, comment và chat, việc xưng hô đúng phép không chỉ là dấu hiệu của người có học, mà c̣n là thước đo của tự trọng và lễ nghĩa.

 

 

1. Phép xưng hô kiểu VNCH.

 

Trước 1975, ở miền Nam, cách xưng hô được coi là nghệ thuật tinh tế trong giao tiếp.

 

Một vài nguyên tắc căn bản:

 

Ngôi thứ nhất số ít:

 

“Tôi”: dùng trong văn viết trang trọng hoặc khi nói với người ít quen, người lớn tuổi, người trên. Chứng tỏ kính trọng và lễ phép.

 

“Ḿnh”: dùng trong môi trường thân mật như vợ chồng, bạn bè thân thiết, hoặc trong văn chương phiếm luận.Ví dụ: nhà báo Nguyễn Vỹ, bút hiệu Diệu Huyền, viết: “ḿnh ơi”, “ḿnh à” trên tuần báo Phổ Thông trước năm 1971 — vừa dịu dàng, vừa tế nhị.

 

Ngôi thứ hai số ít. "Anh, chị, em, ông, bà, bác, cô, chú cậu, d́…": thể hiện thứ bậc, tuổi tác và vai tṛ trong xă hội. Ví dụ: gọi “anh Tín” thay v́ chỉ “Tín” vừa lịch sự, vừa thân thiện.

 

Xưng hô vợ-chồng:

 

Truyền thống miền Nam thường dùng cách t́nh cảm nhưng vẫn giữ lễ nghi, như ḿnh ơi” thay v́ mày”, “tao".

 

Đây là biểu hiện văn hóa học thức, vừa t́nh cảm vừa lễ phép.

 

 

2. Thói quen xưng hô trên Facebook và sự bất kính

 

Một ví dụ điển h́nh hiện nay: “Ḿnh tên là Uy muốn t́m người bạn tên Tín.”

 

Xét về mặt văn phạm, không hoàn toàn sai, nhưng xét về văn hóa và lễ nghĩa, câu này phản ảnh những điểm bất cập:

 

1. Ngôi thứ nhất số ít “ḿnh” dùng công khai:

 

Trên Facebook, môi trường đa dạng và công khai, dùng “ḿnh” thay cho “tôi” trở nên **thiếu trang trọng và thiếu tự trọng.

 

Trong giao tiếp nghiêm túc, người Việt miền Nam cũ sẽ viết: “Tôi tên là Uy”* — thể hiện học thức, lễ phép và sự đứng đắn.

 

2. Cách gọi “người bạn Tín”:

 

Nghe giản lược, thiếu tế nhị, không có sự tôn trọng thứ bậc.

 

Lẽ ra nên viết: “Tôi muốn t́m anh Tín” hoặc “Tôi muốn t́m bạn Tín”, tùy mức thân mật nhưng vẫn đúng phép xă giao.

 

Những thói quen này không chỉ là vấn đề ngữ pháp, ngữ vựng mà c̣n là biểu hiện thái độ ngang ngược, thiếu lễ phép, đặc biệt với lớp trẻ được giáo dục trong môi trường CS, nơi tự do ngôn luận suồng sả được đề cao quá mức, nhưng các chuẩn mực lễ nghĩa truyền thống lại bị chúng bỏ quên.

 

3. Phê phán cái lễ của nền giáo dục CS.

 

Trong giáo dục miền Bắc và hệ thống CS nói chung, “b́nh đẳng” và “tự do” được dạy triệt để một cách bậy bạ. Già trẻ lớn bé đều là "đồng chí" hết ráo?!

 

Tuy nhiên, sự b́nh đẳng này không đi đôi với phép xă giao và lễ nghĩa.

 

 

Hậu quả:

 

Học sinh, sinh viên dễ xưng hô tuỳ tiện, không phân biệt tuổi tác, thứ bậc hay môi trường giao tiếp.

 

Trên mạng xă hội, hiện tượng “ḿnh” thay cho “tôi” hay quên kính ngữ trở nên phổ biến, gây cảm giác ngang ngược và thiếu tôn trọng với người lớn, người có học, hoặc với người lạ.

 

Giáo dục CS thiếu nhấn mạnh giá trị truyền thống về lễ nghĩa, khiến lớp trẻ mất đi khả năng tự điều chỉnh, tự trọng trong giao tiếp.

 

Điều này càng lộ rơ khi so sánh với văn hóa xưng hô miền Nam trước 1975, nơi mỗi cách gọi đều được rèn giũa, tinh tế và mang tính nhân cách.

 

4. Hướng dẫn xưng hô chuẩn kiểu VNCH cho mạng xă hội.

 

Để chứng tỏ có học và tự trọng trên Facebook hoặc bất kỳ mạng xă hội nào, nên lưu ư:

 

1. Ngôi thứ nhất:

 

“Tôi”: dùng khi viết công khai, giới thiệu bản thân, giao tiếp với người ít quen hoặc người lớn.

 

*“Ḿnh”: chỉ dùng trong môi trường thân mật, với người quen, bạn bè gần gũi, hoặc vợ/chồng.

 

2. Ngôi thứ hai:

 

Chọn kính ngữ theo tuổi tác và thứ bậc: anh, chị, em, ông, bà, cô, chú.

 

Tránh dùng “mày”, “tao” trừ khi rất thân, trong môi trường riêng tư.

 

3. Xưng hô thân mật:

 

Với vợ/chồng, bạn thân: *

“ḿnh ơi”, “ḿnh à”— vừa t́nh cảm vừa tế nhị.

 

Tránh áp dụng tùy tiện với người lạ.

 

4. Chú ư bối cảnh**:

 

Công khai: dùng “tôi” + kính ngữ.

 

Thân mật: dùng “ḿnh” + tên hoặc biệt danh thân thương.

 

Áp dụng đúng những nguyên tắc này, người viết không chỉ đúng văn phạm mà c̣n chứng tỏ sự tự trọng và văn hóa học thức.

 

5. Bài học rút ra

 

Xưng hô là biểu hiện văn hóa và học thức, không chỉ là chữ nghĩa.

 

Trên mạng xă hội, không thể tùy tiện xưng hô, nếu không muốn bị người đọc cảm thấy thiếu lễ phép hoặc ngang ngược.

 

Lớp trẻ được giáo dục theo môi trường CS cần học lại phép xă giao truyền thống, để vừa b́nh đẳng, vừa giữ được lễ nghĩa, tôn ti và tự trọng. Như câu xưa đă dạy: “Tiên học lễ, hậu học văn” — học cách xưng hô, cách tôn trọng người khác, chính là học trước khi học chữ nghĩa, trước khi học kỹ năng, trước khi học công nghệ.

 

 

Kết luận:

 

Phép xưng hô kiểu VNCH không chỉ là chữ nghĩa, mà là tấm gương văn hóa và nhân cách. Trên Facebook, muốn chứng tỏ có học, tự trọng và lễ phép, hăy dùng “tôi” cho ngôi thứ nhất, kính ngữ phù hợp cho ngôi thứ hai, và chỉ dùng “ḿnh ơi, ḿnh à” trong môi trường thân mật. Làm được điều này, lớp trẻ sẽ vừa hiện đại, vừa lịch lăm, vừa không đánh mất giá trị truyền thống vốn quư của dân tộc.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính