51 năm nh́n lại ngày 30 tháng 4 năm 1975.

 

Bọn đu càng cho tớ đu theo với!

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam rơi vào tay cộng sản Bắc Việt sau một chiến dịch “giải phóng” đầy hào nhoáng nhưng thực chất là bước ngoặt bi thảm cho gần 20 triệu dân miền Nam.

 

Bọn Cộng sản miền Bắc nghe lời dạy của đảng Cộng sản quốc tế, nhất là Liên Xô và Trung Cộng, mà tiến quân vào xâm lược miền Nam, không phải v́ ḷng yêu nước hay khát khao thống nhất dân tộc, mà là để phục vụ mưu đồ toàn cầu của cộng sản quốc tế. Sự kiện này đă dẫn tới những hệ quả kinh tế, xă hội và nhân đạo vô cùng nặng nề, mà hậu quả của nó vẫn c̣n âm ỉ trong ḷng nhiều gia đ́nh đến tận ngày nay sau 51 năm.

 

Ngay sau khi chiếm được Sài G̣n, bộ máy cai trị cộng sản nhanh chóng áp đặt một cơ chế kiểm soát khắt khe để cướp bóc.

 

Tài sản của tư nhân bị tịch thu, các doanh nghiệp, nhà máy và trang trại đều bị chúng quốc hữu hóa. Không ít người miền Nam phải bỏ của chạy lấy người, vượt biển, vượt biên t́m tự do, mang theo chỉ vài bộ quần áo, nhưng trong ḷng luôn mang nỗi đau mất mát gia sản và thân nhân. Họ là những kẻ “đu càng” trong mắt bọn cộng sản, vừa chạy trốn vừa bị nhạo báng.

 

Chính những những người kẹt lại có thân nhân “đu càng” nầy lại phải dùng tiền mà con cái vượt biển gửi về để duy tŕ cuộc sống. Và một nghịch lư đầy châm biếm: chính họ đang nuôi dưỡng những người mà chế độ CS gọi họ là kẻ thù.

 

Cuộc vượt biển của người miền Nam là một câu chuyện bi thương và hào hùng. Từ năm 1975 cho đến đầu thập niên 1990, hàng trăm ngàn người đă rời bỏ quê hương trên những con tàu mong manh, đối mặt với cướp biển, băo tố và sự đói khát. Mỗi hành tŕnh là một thử thách sống c̣n, nhưng đồng thời cũng là minh chứng cho khát vọng tự do không thể dập tắt. Trong khi đó, ở miền Bắc, các cơ quan tuyên truyền cộng sản vẫn ra sức ca ngợi thành tích “giải phóng miền Nam”, nhưng thực chất, đời sống của người dân VNCH bị hạn chế tối đa: thiếu thốn lương thực, kiểm soát đi lại và giám sát mọi hoạt động xă hội.

 

Một nghịch lư khác không kém phần trớ trêu: những gia đ́nh CS miền Bắc t́m mọi cách chạy theo kiếm ăn, vừa chạy vừa chửi bọn đu càng. CS chóp bu lo cho con em chạy qua Mỹ định nhưng vẫn phải duy tŕ vẻ mặt đạo đức cách mạng chửi bới bọn đu càng!

 

Thực tế này chỉ ra rằng, cộng sản nói một đường làm một nẻo. Đứa nào vẫn c̣n ngu nghe theo CS nói là ngu bền vững.

 

Sử hiện đại cho thấy sự kiện 30 tháng 4 không chỉ là kết thúc của một cuộc chiến, mà c̣n là sự khởi đầu cho một cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Hàng triệu người miền Nam bị buộc phải rời bỏ quê hương. Những ḍng tiền gửi về từ nước ngoài, những món quà tiếp tế từ cộng đồng tị nạn CS ở hải ngoại, đă trở thành huyết mạch nuôi sống bọn CS trong nước, một sự thật đầy châm biếm về chế độ tự xưng là “v́ dân v́ nước”.

 

Chế độ cộng sản miền Bắc c̣n tỏ ra mỉa mai hơn khi họ áp dụng hệ thống lao động "cải tạo" và tập trung quản lư dân chúng miền Nam. Các trại "cải tạo" trở thành biểu tượng của nỗi đau và sự áp bức, nơi hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức và trí thức miền Nam phải chịu cảnh lao động cực nhọc, thiếu ăn và sống trong sợ hăi. Trong khi đó, những cán bộ miền Bắc, mặc dù hô hào tinh thần cách mạng, vẫn t́m cách tận hưởng ưu đăi, thậm chí dùng tiền gửi về từ con cái miền Nam vượt biên để nâng cao đời sống cá nhân.

 

Bài học rút ra từ câu chuyện 30 tháng 4 là một bài học về ḷng tham quyền lực và sự giả dối chính trị của CSBV và VC ở Miền Nam. Khi chế độ cộng sản dựa vào lời hứa hẹn và tuyên truyền để chiếm lĩnh miền Nam, chúng đă bỏ qua thực tế là con người không thể bị kiểm soát hoàn toàn bằng khẩu hiệu tuyên truyền lừa phỉnh. Khát vọng sống, khát vọng tự do, và trách nhiệm với gia đ́nh luôn chiến thắng mọi biện pháp cưỡng bức và tuyên truyền. Hơn nữa, sự châm biếm lịch sử cho thấy rằng những gia đ́nh theo chế độ cộng sản, dù tự hào về cách mạng, vẫn kiếm cách đu càng chạy theo đế quốc!

 

Ngày nay, nh́n lại 30 tháng 4, chúng ta thấy rơ bức tranh trớ trêu: một miền Nam mất tự do nhưng đầy kiên cường, một miền Bắc tự xưng là chiến thắng nhưng phải sống nhờ tiền bạc gửi về từ những người mà họ từng gọi là “kẻ thù”.

 

Cuộc sống vẫn tiếp diễn, nhưng bài học lịch sử vẫn c̣n nguyên giá trị: quyền lực không thể thay thế cho lương tâm, tuyên truyền không thể thay thế cho tự do, và sự thật lịch sử sẽ luôn tồn tại, dù bị che giấu hay xuyên tạc.

 

Hơn năm mươi năm trôi qua, những câu chuyện vượt biển, những ḍng tiền gửi về, và những lời chửi mỉa mai của CS vẫn là minh chứng cho sự châm biếm cay đắng của lịch sử. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh về sự ảo tưởng quyền lực, về việc bỏ qua giá trị con người và sự thật lịch sử. Trong mỗi gia đ́nh Việt, dù miền Nam hay miền Bắc, vẫn c̣n những kư ức không thể phai mờ, những câu chuyện vượt biển, những mất mát, và những giọt nước mắt ḥa lẫn với niềm hy vọng.

 

Cuối cùng, bài học lịch sử nhắc nhở chúng ta rằng tự do không đến từ khẩu hiệu, mà đến từ khát vọng sống chân thật, từ sự quyết tâm bảo vệ gia đ́nh, từ việc đối diện với sự thật dù cay đắng. Chế độ cộng sản miền Bắc đă thử áp đặt một thế giới lư tưởng trên thực tế trần trụi, nhưng lịch sử đă chứng minh rằng không ai có thể cưỡng ép tự do và ḷng nhân đạo. Nh́n lại 30 tháng 4, người Việt khắp nơi vẫn nhắc nhở nhau về những giá trị không thể mua bằng tiền, không thể áp đặt bằng quyền lực, và không thể che giấu bằng tuyên truyền.

 

Chửi bọn đu càng nhưng đô la Mỹ của bọn nó, tớ không có chê đâu! Tớ cho con cháu tớ đu theo. You do! We do too!

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính