Sáu mươi năm t́m lại: “Chiến dịch vượt đến tự Do” - 1954

(“OPERATION  PASSAGE  TO  FREEDOM” - 1954)

 

Người lính Mũ Nâu Đỗ Như Quyên

 

 

“Bài viết này để kính tưởng niệm hàng triệu đồng bào đă chết v́ cộng sản.

Cũng để ghi nhớ và tỏ ḷng biết ơn với những người đă mang tâm sức của ḿnh, giúp đỡ người dân Việt Nam vượt thoát cộng sản trong cuộc di cư 1954 - 1955”

 

 

 

 

Nguyên Nhân Có Cuộc Di Cư 1954.

 

 

Suốt 60 năm qua, hầu như ai trong chúng ta cũng tin rằng: .. ”Sở dĩ có cuộc di cư năm 1954 là v́ đất nước bị chia hai bởi Hiệp Định Đ́nh Chiến Geneva, một cách gián tiếp hơn, v́ Pháp “thua” cộng sản Việt Minh tại chiến trường Điện Biên Phủ, sau đó họ bỏ cuộc, bỏ luôn sự thống trị bằng cái ách thực dân gần một trăm năm ở một nơi luôn chống lại họ”. Đại khái là như vậy, chúng ta ai cũng nghĩ như thế.

 

Thật ra điều đó chỉ đúng một phần nhỏ. Phần lớn sự thật là do chính phủ Mỹ, họ muốn Pháp phải tránh ra. Họ cần có một vùng địa lư như Việt Nam chia làm hai phần họ mới có thể đặt chân đến một nửa của vùng lănh thổ này. Họ đă từng muốn và được làm thêm nhiều chuyện tiếp sau đó, tới năm 1975 th́ họ chẳng muốn nữa.

 

Không phải đợi đến ngày 21/ 7/ 1954 vấn đề di chuyển người di cư mới được nói tới trong bản hiệp định, phiá Mỹ đă tính tới chuyện này từ lâu, trước khi có trận Điện Biên Phủ, trước lúc có hội họp tại Geneva Thụy Sĩ th́ Mỹ đă sắp đặt nước cờ của họ rồi.

 

Trong một cuộc họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia ở thủ đô Liên Bang Mỹ cuối tháng 1/ 1954, có sự hiện diện của Tổng Thống Dwight D. Eisenhower; Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân Đô Đốc Arthur W. Radford, vấn đề di tản người miền Bắc vào miền Nam - Việt Nam đă được vị đô đốc nêu trên nói tới. Đô Đốc Arthur W. Radford là người mà từ thời c̣n là Tư Lệnh Hạm Đội Thái B́nh Dương trước đó vài năm, đă từng bàn chuyện di tản người Việt miền Bắc vô Nam với Đại Tướng Jean J. M. G. de Lattre de Tassigny, Tư Lịnh Lực Lượng Viễn Chinh kiêm Cao Ủy Toàn Quyền của “Tây” ở vùng Đông Dương thuộc Pháp (sẽ được ghi tắt là vùng Đông Pháp, nơi có ba nước Cam Bốt; Lào; Việt Nam bị Pháp chiếm, không phải toàn Đông Dương nơi có tới 6 nước (Miến Điện; Thái Lan; Mă Lai Á) như nhiều người Mỹ cũng như Việt đă ghi lầm, xin đọc thêm nơi bài Đông Dương và Đông Pháp của Đỗ Tấn Thọ trên trang nhà BĐQ). Sau khi nghe ông đô đốc Mỹ nói về chuyện di tản người Việt từ Bắc vô Nam, ông tướng Pháp trả lời tóm tắt rằng: .. “cho dù trước khi một hoạt động (di tản) nào được hoàn tất, đoàn người cuối cùng chờ di tản sẽ bị (Việt Minh) tàn sát”... Tuy vậy, sau cuộc gặp gỡ của hai vị tướng nêu trên, phía Mỹ vẫn phác họa một kế hoạch di tản người ờ miền Bắc Việt Nam (tới đầu năm 1952 mới soạn xong). Trong phần phân tích và ước tính chung của bản kế hoạch cho thấy: cuộc di tản sẽ là một chiến dịch quy mô về Thuỷ - Bộ để chuyển vận hơn 80.000 lính Pháp; 40.000 lính quân đội quốc gia và 10.000 người dân. Ngày 7/ 5/ 1954, khi nghe tin Điện Biên Phủ thất thủ nhưng quân đội Pháp vẫn bảo vệ vững vàng vùng châu thổ sông Hồng, kế hoạch nói trên trở thành cuộc thảo luận sôi nổi ngay tại buổi họp giữa bộ Tham Mưu Liên Quân và Bộ Quốc Pḥng (họp trong ngày 7/ 5).

 

Trong tháng 2/ 1954, Quốc Trưởng Bảo Đại tiếp một đại diện cao cấp của Tổng Thống Dwight D. Eisenhower tại Pháp. Trong buổi t́ếp kiến này, quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam đă nói như sau: “nếu chuyển được 4 triệu người dân đến các tỉnh miền Trung và Cao Nguyên (Nam) Trung Phần, lực lượng quân sự sẽ được nhẹ tay hơn để đối phó với cộng sản ở miền Bắc” ... Quốc Trưởng Bảo Đại sau đó c̣n bàn chuyện này với Đại Sứ Mỹ Donald Heath, nhưng phiá Mỹ vẫn im lặng. Ngày 28/ 6/ 1954, sau hai ngày về đến Sài G̣n, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm tiếp ông Robert McClintock, Xử Lư Thường Vụ Toà Đại Sứ Mỹ, (ông Donald Heath đang về Mỹ), vị thủ tướng Việt Nam cũng đem chuyện này ra thảo luận và c̣n tin rằng: ... “việc di tản người là cần thiết, dân chúng sẽ thoát được các hiểm họa từ cộng sản”..., nhưng phiá Mỹ vẫn giữ im lặng. Ngày 28/ 7/ 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam chính thức yêu cầu Mỹ giúp cho 2.000 căn lều vải dành cho người tỵ nạn, Mỹ vẫn làm thinh (tới ngày 5/ 8/ 1954, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm chính thức nhân danh cá nhân gởi thơ yêu cầu Mỹ giúp chuyển vận người di cư, lúc này Mỹ mới hành động).

 

Cuối tháng 6/ 1954, (chưa tới ngày 21/ 7 bà con ạ), các hồ sơ về vấn đề di tản người tỵ nạn cộng sản ở Việt Nam được thẩm định lại bởi Cục T́nh Báo Trung Ương - CIA. Nơi này ”xét” xong c̣n thêm vô: ..”chưa tính phương tiện đưa người ra đi, chỉ riêng phần quân cụ của Pháp và Việt Nam ở Hà Nội phải cần tới 600 chuyến bay mới chở hết. Nhân viên quân sự Việt -  Pháp phải vào Nam có khoảng 83.000 đến 150.000 người với 65 tiểu đoàn dă chiến, 19 tiểu đoàn khinh chiến. Có thể cộng sản Việt Minh sẽ thả khoảng 9.600 tù binh”. Bên hải quân cũng phỏng đoán sẽ chuyển hơn 110.000 thường dân, 83.000 quân nhân, 10.000 xe cơ giới các loại và khoảng 382 súng pháo binh lớn, nhỏ.

 

Nhưng chúng tôi sẽ không ghi thêm nữa, v́ đây là một bản văn t́m lại các dữ kiện lịch sử trong biến cố ”Di Cư 1954 - 1955”.  Sâu xa hơn, chúng tôi muốn tưỏng nhớ và ghi nhận công ơn của tất cả những ân nhân, không phân biệt quốc tịch đă từng có ḷng nhân, mở rộng ṿng tay giúp nhiều đồng bào Việt Nam chúng tôi thoát khỏi sự khống chế toàn diện một dân tộc bởi cộng sản. Nhờ đó, những người vượt thoát đă cùng đồng bào miền Nam tiếp tục chiến đấu với cộng sản thêm 20 năm, kịp tạo nên một thế hệ kế thưà hiểu rơ hơn về cộng sản kể từ sau năm 1975. Qua hai biến cố bi thảm nêu trên trong lịch sử cận đại của giống ṇi Việt Nam, tổ quốc chúng tôi dù bị cộng sản cướp đoạt nhưng những thế hệ kế tục sẽ không mất niềm tin là cộng sản ở Việt Nam sẽ vĩnh viễn tồn tại, cũng như các đế quốc Hy Lạp; La Mă; Hán; Tống; Nguyên; Minh; Thanh v.v đă từng tan ră. V́ vậy chúng tôi vẫn c̣n chiến đấu và trận Điện Biên Phủ đă nói lên điều đó, tuy máu xương của những chiến sĩ nằm xuống nơi đây đă từng bị cộng sản lợi dụng như một vũ khí chính trị để chia phần với kẻ gian vẫn c̣n đang giấu mặt.

 

Người lính Mũ Nâu Đỗ Như Quyên

 

-------------------------------------------------------

 

 

Kỳ 2:

 

 

Tổng kết: Trong Chiến Dịch Vượt Đến Tự Do, Lực Lượng Hải Quân Đặc Nhiệm 90 của Mỹ đă huy động được 114 tàu các loại, thực hiện được 109 chuyến xuôi Nam, chở được 310. 848 người, 68.757 tấn hàng các loại và 8.000 xe quân sự lẫn dân sự. Có 54 người qua đời trên tàu và được thuỷ táng. Có 184 em bé chào đời trên các chuyến tàu vào Nam.

 

Từ năm 1955 đến 1956, chính phủ Mỹ viện trợ Việt Nam 93 triệu mỹ kim để giúp chính phủ lo việc tái định cư cho đồng bào. Riêng công chúng Mỹ và các trường học, cũng tổ chức quyên góp được 11 triệu mỹ kim giúp đồng bào di cư. Chi phiếu hiến tặng này được đại diện Mỹ trao tận tay Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm ngày 1/ 7/ 1955.

 

Một đồng bào di cư qua đời trên tàu và được thuỷ táng

 

Về phiá Pháp: Không lâu sau ngày kư “Hiệp Định Đ́nh Chiến”, từ ngày 5/ 8/ 1954 người Pháp đă làm hết sức để vận chuyển vô Nam không những các nhân viên quân sự, hành chánh, công dân của họ mà c̣n giúp đưa người dân miền Bắc thoát khỏi tay cộng sản, bằng máy bay và bằng tàu thuỷ. Lúc tàu hải quân Mỹ đến Vịnh Hạ Long th́ hải quân Pháp cũng đă vận chuyển được nhiều ngàn người.

 

 

Tàu hải quân LSM hạng trung của Pháp giúp đưa người từ bờ ra tàu lớn của Mỹ, 9/ 1954

 

 

Phiá Pháp đă phối hợp với hải quân Mỹ, họ xử dụng tối đa các loại tàu nhỏ đưa người di cư từ Hải Pḥng ra chuyển lên tàu lớn của Mỹ, đồng thời cũng dùng tàu vận tải đưa người thẳng vào Nam. Dù trong thực tế, lực lưọng hải quân của họ ở vùng Đông Pháp không có nhiều tàu loại lớn như hải quân Mỹ, nhưng họ vẫn cố gắng làm hết sức ḿnh để giúp người di cư. Tàu của Pháp thực hiện được 388 chuyến xuôi Nam, vận chuyển được hơn 240.000 người. Máy bay Pháp ở Hà Nội; Nam Định; Hải Pḥng tính chung đă chở được khoảng 213.000 ngựi với 4.280 chuyến bay, trong đó có 40.000 công dân Pháp, 4.000 người là các nhân viên hành chánh. Ngoài việc giúp đưa người đi, phiá Pháp cũng hợp tác với Việt Nam và Mỹ làm việc ở các khu trại, lập các toán an ninh tuần tra quanh khu vực Hải Pḥng và giữ được trật tự trong thành phố. Pháp cũng lập ra các toán máy bay loại nhỏ, các con tàu chạy gần bờ để t́m kiếm và cứu những người trôi dạt trên biển. Điển h́nh như Đại Úy Gerald Cauvin, người chỉ huy một đội thuỷ phi cơ và tàu nhỏ ở Hải Pḥng mà trách nhiệm là đi t́m người gặp nạn. Có lần ông đă cứu được một lúc hơn 1.000 người đă kiệt sức, sắp chết đói trên 14 chiếc ghe đánh cá đang thả trôi trên biển, cách xa bờ hơn 10 cây số. Tàu cấp cứu của Pháp được ông hướng dẫn đă tới cứu số người này và đưa về Hải Pḥng. Họ là giáo dân ở Cửa Ḷ Nghệ An, một giáo xứ nằm cách xa phiá Nam - Hải Pḥng hơn 300 km.

 

Về sự giúp đỡ chuyển vận người bằng đường biển, các nước sau đây cũng có góp phần: Tàu Anh giúp được 2 chuyến; Cộng Hoà Trung Hoa Dân Quốc (đài Loan) được 2 chuyến và tàu Ba Lan được 4 chuyến.

 

Năm 1957, chính phủ Việt Nam Công Hoà công bố có khoảng 928.152 người di cư vào miền Nam. Riêng số người được đưa vô bằng tàu thuỷ và máy bay có khoảng hơn 555.000. Những người tự túc t́m phương tiện ra đi có khoảng 110.000 người. Người Việt gốc Hoa ở các thành phố miền Bắc bỏ vào Nam khoảng hơn 15.000 người. Ngược lại, toàn miền Nam chỉ có 4.358 người xin trở về miền Bắc. Phần đông số người này vào lập nghiệp ở miền Nam lúc Pháp tuyển mộ phu đồn điền hoặc cạo mủ cao su. Những con số dẫn trên là thuộc dân sự.

 

Về quân sự: Lính Quân Đội Quốc Gia hoặc trong quân đội Pháp (kể cả tù binh mới trao trả) vào được miền Nam 190.000 người, 33.000 người khác đi theo là gia đ́nh hay thân nhân của số quân nhân vừa kể. Có khoảng 25.000 quân nhân và thân nhân đồng bào Nùng, Thái, Mèo v.v được vận chuyển vào Nam.

 

Cuối năm 1955, Phủ Tổng Ủy Di Cư - Tỵ Nạn có đưa ra một con số ước tính: Trong tổng số người di cư, có 676.348 người theo công giáo, (76.3%); 209.132 người theo phật giáo (23.5%); 1.041 người theo tin lành (0.2%).

 

Sứ Vụ Quân Sự Sài G̣n: “Chiến Dịch Huynh Đệ “ và Đại Đội Tự Do, 1954 - 1955.

 

(Saigon Military Mission (SMM): ”Operation Brotherhood” and Freedom Company, 1954 - 1955).

 

Trong lúc chiến trường Điện Biên Phủ c̣n mịt mù trong lửa đạn, Mỹ đưa tới Sài G̣n một sĩ quan Không Quân, được tuyển dụng bởi CIA (Central Intelligence Agency, Cục T́nh Báo Trung Ương) giúp chính phủ Quốc Gia Việt Nam vấn đề chống du kích, chống phản loạn của cộng sản.

 

Ngày 1/ 6/ 1954, Đại Tá Edward Gear Lansdale đến Sài G̣n trên một chiếc thuỷ phi cơ của Phi Đoàn 31 Hàng Không Cứu Cấp - Biển (31st Air Rescue - Sea Squadron) tại căn cứ không quân Clark ở Phi Luật Tân, cách Sài G̣n khoảng 1.600 km. Hành lư ông ta mang theo chỉ có một thùng nhỏ đựng hồ sơ, vài bộ áo quần và một máy đánh chữ mượn của người quen. Đây là lần thứ hai Đại Tá Eward G. Lansdale đến Việt Nam, lần đầu vào năm 1953, ông đến với vai tṛ cố vấn cho quân đội Pháp các kinh nghiệm chống du kích. Lần này th́ khác, ông cần phải giữ bí mật các việc ông sẽ làm.

 

Để che đậy sự chú ư của “người ngoài”, Tư Lệnh MAAG - I ở Sài G̣n Trung Tướng John W. O'Daniel sắp đặt cho ông ta giữ chức “Phụ Tá Tùy Viên Không Quân” tại Toà Đại Sứ Mỹ (lúc ấy do ông Robert McClintock Xử Lư Thường Vụ, đại sứ chính thức là ông Donald Heath đă về Mỹ từ tháng 1/ 1954). Khi đưa Đại Tá E. G. Lansdale tới Sài G̣n, ở thành phố này đă có một trạm CIA do ông Emmett McCathay chỉ huy (sau được thế bởi ông John Anderton). Hoạt động của trạm CIA này chủ yếu theo dơi, thu thập tin tức v.v từ những điệp viên của Nga Sô; Trung Cộng đang có mặt tại vùng Đông Pháp, được coi thuộc phạm vi t́nh báo dân sự và họ phải thường xuyên gởi các báo cáo về văn pḥng trung ương ở Mỹ. Nhưng trạm CIA thứ hai của Đại Tá E. G. Lansdale th́ khác, nó sẽ có những hoạt động bán quân sự như tuyên truyền và phản tuyên truyền, chống khủng bố, và gài người hoạt động v.v...ngay trong lănh thổ do cộng sản Việt Minh đang kiểm soát. Trạm của ông Lansdale không lệ thuộc vào hệ thống hàng dọc nào, hơn nữa ông ta có toàn quyền hành động và chỉ báo cáo trực tiếp với ba người là giám đốc văn pḥng trung ương ở Mỹ, viên đại sứ và tư lệnh MAAG tại Việt Nam mà thôi. Ông ta được đưa đến Sài G̣n để giúp chính phủ Quốc Gia Việt Nam những kế sách, phương thức chống du kích, chống khủng bố, phá hoại v.v của cộng sản mà chính ông đă làm và thành công khi giúp Tổng Thống Ramon F. Magsaysay ở Phi Luật Tân đánh bại phe cộng sản Hukbalahap.

 

Ngay sau khi tới Sài G̣n, Đại Tá Lansdale đă bắt đầu thiết lập một cơ cấu t́nh báo nấp dưới tên: Saigon Military Mission (Sứ Vụ Quân Sự Sài G̣n, sẽ ghi tắt là Quân Vụ Sài G̣n hoặc SMM). Bước đầu các thông tin cần thiết nhất về t́nh h́nh Việt Nam đương thời sẽ được cung cấp từ Bộ Tư Lệnh MAAG, từ văn pḥng Cơ Quan Thông Tin Liên Bang (United States Informaion Services - USIS) ở Sài G̣n, do ông George Hellyen làm Trưởng Pḥng (ông này nói tiếng Việt rất giỏi). Giữa tháng 6/ 1954, qua trung gian của Trung Tá William Rosson bên MAAG, một cuộc họp đă được sắp đặt cho Đại Tá Lansdale; Đại Tá Carbonel của MAAG; Đại Tá Nguyễn Văn Vỹ, Chỉ Huy Trưởng Ngự Lâm Quân Việt Nam (?- tháng 6/ 1954 chưa lên tướng). Cuối tháng 6, Đại Tá Nguyễn Văn Vỹ giới thiệu ông Lansdale làm cố vấn cho Đại Úy Phạm Xuân Giai thuộc Pḥng 5, Bộ Tổng Tham Mưu/ Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Kể từ giai đoạn này, ông Lansdale bắt đầu phối hợp với quân đội quốc gia, chuyên viên đặc biệt Đài Loan; Phi Luật Tân cùng hợp tác cho một kế hoạch chung được đặt tên Chiến Dịch Huynh Đệ (Operation Brotherhood), một đơn vị bí mật là Đại Đội Tự Do (Freedom Company) sẽ thành lập trong tháng 9/ 1954.

 

Lúc bấy giờ ở Sài G̣n đă có nhiều phóng viên báo chí quốc tế, đại diện những hăng thông tấn v.v lập văn pḥng thường trực để theo sát các diễn biến thời cuộc tại Việt Nam. Ông Lansdale thường phải nghe những câu hỏi, thắc mắc của giới này, đă nhiều lần phủ nhận điều họ nghi ngờ ông làm việc cho CIA và xác nhận ḿnh làm việc ở Toà Đại Sứ với một vai tṛ khiêm nhường. Để chứng tỏ ḿnh không có ǵ để che giấu, ông ta công khai thuê một căn nhà để sống ở số 51 đường Duy Tân, Sài G̣n.

   

 

 Ngày 27/ 6/ 1954, Đại Tá Edward G. Lansdale đến thăm Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. 

 


Colonel Edward Lansdale, chief of the CIA's Saigon Military Mission, meets with Ngo Dinh Diem after the CIA entered Vietnam in 1954 to help the Vietnamese wage political-psychological warfare. (Douglas Pike Photo Collection, The Vietnam Archive, Texas Tech Univ.)

 

Ngày 1/ 7/ 1954, CIA tăng cường cho Quân Vụ Sài G̣n (SMM) một người nữa là Thiếu Tá Lucien E. Conein, giấy tờ ghi là quân nhân cơ hữu của MAAG. Ông này đă từng hoạt động bí mật trên đất Pháp lúc Đức c̣n chiếm đóng. Đă tổ chức những toán kháng chiến người Pháp hoạt động sau lưng địch, rất giỏi trong lănh vực phản tuyên truyền, phá hoại, gây rối loạn, hoang mang về tâm lư cho đối phương.

 

Thiếu Tá Lucien E. Conein

 

Chạy Đua Giữa Thời Và Thế.

 

Ngay sau khi Điện Biên Phủ thất thủ vào ngày 5/ 7, hội nghị về Đông Pháp đang xúc tiến th́ Quân Vụ Sài G̣n gấp rút làm việc tối đa. Trước khi bản hiệp định được các bên kư kết, SMM phải chuẩn bị xong mọi việc có lợi cho chính phủ quốc gia và cả phiá Mỹ nữa. Tuy nhiên trở ngại lớn nhất mà Quân Vụ Sài G̣n rất lo lắng là thiếu nhân sự. Các kế hoạch dự trù để hoạt động đă có sẵn, vậy mà họ không đủ người cho những vị trí cần thiết như kế hoạch đ̣i hỏi. Ngày 25/ 7/, Đại Tá Lansdale cầu cứu với Bộ Tư Lệnh MAAG ở Sài G̣n, ông cho biết nếu t́nh trạng này kéo dài th́ các kế hoạch sẽ vô dụng v́ bản hiệp định bắt đầu có hiệu lực vào ngày 11/ 8/ 1954. Trung Tướng John W. O'Daniel ngay lập tức gởi về Bộ Quốc Pḥng một công điện khẩn, trong đó ông yêu cầu nơi đây và các cơ quan liên đới phải đáp ứng và nên quan tâm nhiều hơn về SMM ở Sài G̣n. Kết quả Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Thái B́nh Dương đă gởi đi những thông báo nội bộ, chỉ thị để các đơn vị trực thuộc t́m những sĩ quan ưu tú nhất đang có mặt trong vùng Thái B́nh Dương, kêu gọi họ t́nh nguyện đến làm việc ở Việt Nam. Những người được chọn cần phải có kinh nghiệm chuyên môn, phải am tường và hiểu biết tổng quát về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ v.v của các nước vùng Đông Nam Á. Ngoài ra họ cũng phải có kinh nghiệm đối phó với cộng sản về chiến tranh tâm lư và t́nh báo. Đầu tháng 8/ 1954, sau các cuộc t́m kíếm, phỏng vấn v.v ờ Hawaii; Phi Luật Tân; Đài Loan; Đại Hàn; Okinawa th́ CIA tuyển được 17 người, sau đó tất cả được gởi đến Sài G̣n tŕnh diện Bộ Tư Lệnh MAAG theo giấy tờ “chính thức”. Số sĩ quan tăng cựng cho Quân Vụ Sài G̣n gồm có: Trung Tá Gordon Jorgenson (bộ binh); Trung Tá Raymond Wittmayer (BB); Thiếu Tá Fred Allen (BB); Trung Úy Edward Williams (BB); Trung Úy J. Phillip (BB); Đại Úy Richard Smith (TQLC); Đại Úy Arthur Arundel (TQLC); Trung Úy L. Andrews (hải quân); Trung Úy Edward Bain (HQ); Đại Úy Bernard Yoh (BB)- (danh tính những người c̣n lại đă bị che trong hồ sơ giải mật).

 

Việc yểm trợ cho Quân Vụ Sài G̣n, vấn đề vận chuyển bằng đường không cho kế hoạch sẽ do máy bay của ”hăng”  Civil Air Transport (CAT) đảm nhận (CAT thực ra là của CIA, về sau được đổi tên thành Air American). Để ngụy trang cho các hoạt động của ḿnh ở Việt Nam, CIA đặt tên cho hồ sơ của địa bàn này là Combined Area Studies (CAS), hồ sơ về văn pḥng CIA tại Sài G̣n được ngụy trang dưới tên Office of Special Assistance (OSA), hồ sơ bảo mật danh tính cho nhân viên hoạt động ở Viêt Nam th́ mang tên Controlled American Source (CAS2).

 

Giữa tháng 8/ 1954, lần thứ nhất hàng loạt truyền đơn được tung ra ở miền Bắc với tin: “nguyên một trung đoàn lính Trung Cộng hăm hiếp tất cả phụ nữ ở một ngôi làng gần biên giới”, tại miền Nam truyền đơn tung tin: “ tất cả cán bộ Việt Minh tập kết đều được chở qua Trung Cộng làm lao công đường rầy xe lưả” !

 

Trong khi thúc đẩy những hoạt động của Quân Vụ Sài G̣n, Đại Tá Lansdale cũng thường lo lắng nghĩ đến vấn đề bảo vệ an ninh cho Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. V́ thế ông qua Manila, bí mật thoả hiệp riêng với Tổng Thống Ramon Magsaysay để hỗ trợ chuyện này. Vị lănh đạo nước Phi Luật Tân sau đó cử qua Sài G̣n Đại Tá Napoleon D. Valeriano và ba sĩ quan thân tín, những người này đă giúp Phủ thủ tướng lập được một đơn vị bảo vệ an ninh cấp tiểu đoàn (tiền thân của Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống).

 

Tính đến cuối tháng 8/ 1954, cơ cấu Quân Vụ Sài G̣n đă tạo được một quyền hạn riêng biệt đối với MAAG, lập được một uy tín đầy tin cậy với chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Mạng lưới hoạt động của nó nối kết nhiều nơi tại Á Châu, thiết lập đường dây “nóng” về thủ đô Liên Bang Mỹ và các thủ đô ở vùng Thái B́nh Dương (ngoài MAAG - I ở Việt Nam, Mỹ cũng lập MAAG - Đại Hàn; MAAG - Đài Loan; MAAG- Thái Lan; Lào; Cam Bốt; Phi Luật Tân, riêng Vương Quốc Anh cũng có ở Sài G̣n: “Sứ Vụ Cố Vấn Anh tại Nam - Việt Nam” do ông Robert Thompson làm Trưởng Đoàn (British Advisory Mission to South - Vietnam , BRIAM - SVN).

 

Đại Đội Tự Do (Freedom Company).

 

Đầu tháng 9/ 1954, Thiếu Tá Lucien E. Conein ra Hà Nội lập một Bộ Chỉ Huy SMM cho khu vực miền Bắc, một trạm liên lạc ở thành phố Hải Pḥng. Nhờ sự giúp sức của Pḥng 2 Bộ TTM, phiá Mỹ đă tuyển được 13 người t́nh nguyện ở lại hoạt động, nhóm này được đặt tên là Toán B́nh (hầu hết những người đựợc tuyển chọn đều nằm trong số người chờ di cư ở Hải Pḥng, hoặc ngay tại Sài G̣n lúc họ vưà mới vào Nam, phần đông thuộc Đại Việt Quốc Dân Đảng và đều có gốc Bắc). Toán B́nh sau đó được Trung Úy Andrews hướng dẫn tập trung đến bến cảng rồi biến mất dưới các tàu vận tải thuộc Lực Lượng Hải Quân Đặc Nhiệm 90, tiếp đó họ được chuyển tới một căn nhà bí mật ở Vũng Tàu để được huấn luyện. Toán B́nh học kỹ thuật in ấn thủ công và những cách rải truyền đơn, phương pháp tạo tin đồn và tung tin đồn, cách ngụy trang h́nh dáng, làm thế nào để di chuyển cùng với vũ khí, thuốc nổ được an toàn đến địa điểm ấn định v.v. Cuối tháng 9, Toán B́nh được chở về Hải Pḥng, họ bắt đầu tỏa ra và biến mất trong đám đông người chờ di cư. Toán B́nh được chỉ huy bởi một người mang bí danh Đinh Triệu, người liên lạc và yểm trợ là Đại Úy Arundel. Kể từ đầu tháng 10/ 1954, Toán B́nh bắt đầu tung ra truyền đơn và đủ thứ tin đồn. Trong các loại truyền đơn cũng có thứ được làm giả y hệt của cộng sản Việt Minh với các tin như: “sau khi tiếp thu toàn miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có luật mới về tài sản của tư nhân”, “sẽ có những thay đổi về tiền tệ theo quy định của nhà nước”, “chuyện buôn bán riêng lẻ sẽ có nhiều cải cách” v.v. Quả thật các thứ tin loại này đă làm dân chúng ở Hà Nội; Hải Dương; Nam Định v.v xôn xao bàn tán. Nó gây hoang mang trong dư luận miền Bắc, tới mức một đài phát thanh của Việt Minh đặt gần biên giới phải lên tiếng đính chính. Nhưng dân chúng vẫn không tin, họ c̣n cho rằng đài đó là của Pháp v́ Việt Minh làm ǵ có đài phát thanh ! Phiá Mỹ cũng mua chuộc được một số các thầy bói, chiêm tinh gia tham dự việc tạo tin đồn. Các “thầy” này rỉ tai truyền nhau là sau nhiều lần bói bài, coi quẻ, bấm độn, nh́n sao v.v th́ chỉ thấy toàn các quẻ bất lợi cho Việt Minh, chỗ nào Việt Minh tới nơi đó sẽ ngập máu, Việt Minh chắc chắn sẽ sụp đổ v́ Trung Cộng sẽ đưa quân qua trấn đóng khắp miền Bắc v.v. Ngoài các việc nêu trên, Toán B́nh cũng có nhiệm vụ t́m cách phá hoại những nơi chưá nhiên liệu, đạn dược, đốt phá nhà ga, nhà máy điện, đường ray v.v. Họ đă được một toán chuyên viên người Đài Loan do CIA mướn đến Hải Pḥng hướng dẫn.

 

Cùng lúc đó ở Sài G̣n, trong tháng 9/ 1954 nhân viên an ninh của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ phối hợp với Trung Tá Raymond Wittmayer tuyển được 21 người.  Nhóm này do Thiếu Tá Fred Allen; Trung Úy Edward Williams chỉ huy và được đặt tên là Toán Hoà. Ở Sài g̣n họ được chia ra thành những tổ hoạt động riêng lẻ, có nhiệm vụ trà trộn đến các địa điểm tập kết của cộng sản Việt Minh để tung ra những tin đồn gây tâm lư bất an cho người muốn ra Bắc. Ngày 23/11/1954, Toán Hoà cùng hai đầu bếp giả dạng làm phu khuân vác ở bến tàu, họ lẫn lộn trong đám đông rồi biến mất dưới các hầm tàu mới chở người di cư cập bến. Từng người trong họ được Thiếu Tá Allen cho biết trước tên con tàu ḿnh phải xuống, t́m nơi ẩn nấp và chờ người đến liên lạc. Khi những chiếc tàu này ra khơi, Toán Hoà sẽ được gom lại và chuyển qua tàu hải quân chở tới phi trường quân sự Clark ở Phi Luật Tân. Tại đây cả toán được đưa đến một khu vực biệt lập nằm trong môt thung lũng vắng vẻ, chương tŕnh huấn luyện cho họ sẽ do hai Thiếu Tá Bohanan và John Wachtel của SMM chịu trách nhiệm.

 

Trong thời gian Toán Hoà được huấn luyện, những thứ cần thiết cho hoạt động của họ sau này cũng bắt đầu đưa tới Sài G̣n trong những kiện hàng, thùng giấy có bề ngoài nh́n rất “dân sự”, việc vận chuyển do Không Đoàn 581 ở phi trường Clark đảm trách. Mỗi khi hàng tới, bộ chỉ huy Quân Vụ Sài G̣n cử các sĩ quan của họ đích thân ra phi trường kư nhận, chính những sĩ quan này cũng tự ḿnh đem hàng xuống, ngựi lạ không được phép đến gần khu vực. Đôi khi họ phải làm cật lực suốt đêm mới chuyển hết hàng tấn hàng đến nơi an toàn trước khi trời sáng.

 

Những Anh Hùng Vô Danh Đi Vào Nơi Bóng Tối.

 

Bắt đầu từ ngày 31/1/1955, các trang bị dành cho Đại Đội Tự Do lần lượt được chở ra Hải Pḥng bằng máy bay của ”hăng” Civil Air Transport (CAT). Để chuẩn bị việc phân tán số hàng nói trên, Thiếu Tá L. Conein đă triệu tập một cuộc họp với Toán B́nh ở Hải Pḥng. Cả toán được cho biết họ có trách nhiệm bí mật phân tán một số vật dụng đến nhiều địa điểm khác nhau. Ngoài ra, Toán B́nh cũng được cho biết trước vài điểm hẹn bên bờ sông Hồng, sẽ có tàu loại nhỏ của hải quân Mỹ giả làm tàu tuần, xuất phát từ Hải Pḥng đi ngược ḍng sông chở hàng đến trao cho họ tại những tọa độ đă giao ước. Họ phải sống và xử sự như những người dân b́nh thường, tuỳ theo từng nơi hoạt động sẽ được cung cấp các loại giấy tờ hợp lệ của cộng sản Việt Minh để tiện cho việc di chuyển. Toán B́nh có 30 ngày để hoàn tất công tác phân tán những vật dụng trang bị đang có ở Hải Pḥng.

 

Ngày 16/4/1955, sau khi học xong chương tŕnh huấn luyện, Toán Hoà được tàu hải quân chở đến Hải Pḥng. Họ lên bờ với quần áo như những người dân khác rồi biến mất trong đám đông để t́m tới các địa điểm đă ghi nhớ trong đầu. Ngày 16/5/1955, lúc Việt Minh đến tiếp nhận thành phố Hải Pḥng th́ cả hai toán Hoà - B́nh không c̣n để lại tông tích nào trên đất Bắc.

 

Tổng số lượng quân dụng trang bị cho Đại Đội Tự Do nặng khoảng 8 tấn rưỡi với 300 súng Carbine; 50 súng ngắn; 14 máy vô tuyến cá nhân; 90.000 viên đạn Carbine; 10.000 viên đạn súng ngắn; 200 kg thuốc nổ v.v. Hơn 2 tấn rưỡi được chuyển ra khỏi Hải Pḥng bằng đường bộ,  gần 6 tấn c̣n lại do tàu tuần của Mỹ đưa đến các điểm hẹn đă báo trước. Phần lớn số vũ khí trang bị nêu trên được chôn giấu trong các quan tài rồi chôn tại nhiều nghĩa địa khác nhau.

 

Cuối năm 1956 Đại Tá Edward G. Lansdale rời Việt Nam, Saigon Military Mission được giải tán. Tháng 4/ 1960 ông được thăng cấp Thiếu Tướng, giữ chức Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng đặc trách  Hành Quân Đặc Biệt và về hưu năm 1968 (Ông Edward G. Lansdale sinh ngày 6/2/1908, qua đời ngày 23/2/1987. Ông là tác giả cuốn In The Midst Of Wars - An Americans Mission to Southeast Asia, do Harper & Row, San Fransisco xuất bản năm 1972).

 

 

NHỮNG TẤM L̉NG NHÂN ÁI.

 

Bà Vũ Thị Ngăi (Madame Ngăi).

 

Madame Ngăi đang chăm sóc một em bị ghẻ lở.

 

Bà Vũ Thị Ngăi sinh năm 1905 trong một gia đ́nh giàu có ờ tỉnh Thanh Hoá. Năm 1946, cộng sản phát động khủng bố sát hại nhiều người ở khắp tỉnh, chồng bà cũng bị cộng sản giết chết vào lúc này. Sau khi gởi hai người con đi lánh nạn bên Pháp, bà Vũ Thị Ngăi ở lại và bắt đầu làm việc từ thiện, cứu giúp những trẻ em bất hạnh bị bỏ rơi v́ loạn lạc. Bà đích thân hoặc nhờ người đi t́m đem về căn nhà rộng lớn của ḿnh nuôi những trẻ em mồ côi cha mẹ, bị thất lạc người thân v́ chiến cuộc, các em sống lang thang xin ăn ở bến xe, chợ buá, những em bị bỏ rơi bên lề đường v́ tật nguyền v.v. Tính đến cuối năm 1947, bà đă đem về nhà nuôi gần 600 em có hoàn cảnh nêu trên. Năm 1948, thị xă Thanh Hoá trở thành nơi nhiều nguy hiểm v́ cộng sản Việt Nam thường xuyên khủng bố, giết hại dân lành khắp nơi. Bà Vũ Thị Ngăi buộc phải bán hết nhà cửa, tư trang t́m đến thị xă  Nam  Định mua một căn nhà khác để tiếp tục việc làm từ thiện của ḿnh. Năm 1949, cộng sản đánh phá Nam Định, bà phải mang hơn 1.000 em nhỏ dọn tới Hải Pḥng. Hơn một nửa trong số này là những em bị mù, bị bại liệt, bị gù lưng, bị câm, điếc hoặc ghẻ lở v.v. Tại Hải Pḥng bà được ông thị trưởng tạm cấp một căn nhà ở An Lạc, được giúp một phần lương thực cứu tế, thuốc men, điện và nước được cung cấp miễn phí. Năm 1954, khi chiến trường Điện Biên Phủ diễn ra, người Pháp đă đến chiếm căn nhà với lư do họ cần nơi điều trị cho quân nhân bị thương đưa về từ chiến trường. Lúc này số trẻ em mà bà cưu mang đă lên tới gần 1.200. Một lần nữa bà Vũ Thị Ngăi phải vất vả đi t́m một căn nhà nhỏ hơn để các em có nơi nương náu.

 

Sau ngày các đơn vị thuộc Lực Lượng Hải Quân Đặc Nhiệm 90 của Mỹ đến Hải Pḥng, những trại lều  được dựng lên th́ bà Vũ Thị Ngăi cũng lặn lội đến các trại, vưà làm việc thiện nguyện vưà t́m kiếm các em bé bất hạnh không có ai để nương tựa trong lớp lớp sóng người chờ di cư. Ở đây, bà cũng được sự giúp đỡ của những vị như bác sĩ Phạm Văn Huyến, bác sĩ Phạm Hữu Chương, ông Mai Văn Hàm, ông Bùi Văn Lương, ông Ngô Ngọc Đối v.v...

 

Qua nhiều lần tới lui giữa các trại lều, bà gặp được một Trung Úy Quân Y Hải Quân, bác sĩ Thomas A. Dooley và mời ông này tới viếng thăm “cô nhi viện” của ḿnh ở An Lạc. Vị bác sĩ này rất xúc động và cảm phục lúc biết việc làm đầy t́nh người của bà Vũ Thị Ngăi, ông viết thư kể rơ sự t́nh và gởi đến trường đại học University of Notre Dame ở tiểu bang Indiana. Các giáo sư và sinh viên tại trường sau khi đọc thơ, họ mới biết ở Hải Pḥng Việt Nam đang có một “viện mồ côi lưu động” trong loạn lạc như thế. Bà Erma Konya làm đại diện cho trường đứng ra tổ chức các cuộc lạc quyên v́ nhân đạo, sau đó họ gởi tặng “viện mồ côi” của bà Vũ Thị Ngăi khoảng 40 thùng quà gồm có áo quần trẻ em, âu dược, giày vớ, kẹo bánh, sách vở thiếu nhi và cả các thứ đồ chơi cho trẻ con v.v. Cũng trong lúc đó, những thuỷ thủ Mỹ ở Hải Pḥng đă giúp thêm cho “viện mồ côi” này bánh ḿ, sữa bột, thịt đóng hộp, xà pḥng và 400 mỹ kim do thuỷ thủ quyên góp.

 

Đầu tháng 3/ 1955, đại diện của Mỹ và Pháp ở Hải Pḥng vài lần đến thúc hối bà Vũ Thị Ngăi nên đưa các em xuống tàu vào Nam, nhưng bà vẵn chưa chịu ra đi. Bà cho biết ḿnh cần ở lại v́ muốn t́m cho hết những em bị bỏ quên đâu đó trong các trại lều. Măi tới giữa tháng 4/ 1955, khi có tin cộng sản sẽ vào Hải Pḥng trong tháng 5, bà Vũ Thị Ngăi mới chịu đưa đàn con ḿnh xuống tàu. Chiếc tàu USS General Brewster rời Vịnh Hạ Long và chở gần 1.500 người, trong đó có “viện mồ côi” của bà Vũ Thị Ngăi đến được bến bờ tự do ở miền Nam - Việt Nam. Tại Sài G̣n, “phái đoàn mồ côi” của bà Vũ Thị Ngăi được đại diện chính phủ và các hội từ thiện đón tiếp trang trọng. Với sự trợ giúp của Phủ Tổng Ủy Di Cư - Tỵ Nạn, các hội từ thiện và sự bảo trợ từ cơ quan USOM, bà Vũ Thị Ngăi và các em mồ côi được tạm cấp một căn nhà, nơi đây sẽ trở thành Viện Mồ Côi An Lạc do bà sáng lập.

 

Vào năm 1961, có một phụ nữ người Mỹ là bà Betty Mohl Tisdale (sinh năm 1923), sau khi được đọc các câu chuyện viết về bà Vũ Thị Ngăi ở Việt Nam và các trẻ mồ côi, bà đă đến Sài G̣n t́m thăm viện mồ côi này. Khi thấy được các h́nh ảnh thực tế về ”Viện Mồ Côi An Lạc” với quá nhiều thiếu thốn, bà Betty M. Tisdale trở về Mỹ, chính thức bỏ nghề nghiệp của ḿnh tại tiểu bang George và đứng ra vận động công chúng cứu giúp cho trẻ mồ côi của bà Vũ Thị Ngăi. Từ đó bà Betty M. Tisdale thường qua Sài G̣n làm việc thiện nguyện ở Viện Mồ Côi An Lạc. Chính ở nơi đây bà đă gặp một Đại Uư Quân Y, bác sĩ Patrick Tisdale, một trong số những quân nhân Mỹ hay đến giúp khám bệnh cho các em mồ côi. Hai người trở thành vợ chồng và cũng trở thành hai vị bảo trợ đáng kính của Viện Mồ Côi An Lạc (suốt thời gian làm thiện nguyện nơi đây, vợ chồng ông bà đă quyên góp được hơn 350.000 mỹ kim cho Viện Mồ Côi An Lạc, ông Patrick Tisdale về hưu với cấp bậc Đại Tá).

 

Ngày 10/4/1975, trước sự đe dọa của ngọn sóng đỏ cộng sản, bà Betty M. Tisdale cố gắng liên lạc và vận  động Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n giúp phương tiện di tản các trẻ em mồ côi của bà Vũ Thị Ngăi. Ngày 12/4/1975, tờ nhật báo Columbus Enquirer - Ledger ở Columbus tiểu bang George đăng một bản tin về một chuyến bay chở trẻ em mồ côi từ Sài G̣n sẽ tới Columbus trong ngày hôm đó. Cũng trong ngày 12/4/1975, chuyến bay nói trên đáp xuống phi trựng Los Angeles tiểu bang California cùng với 219 em nhỏ của Viện Mồ Côi An Lạc. Trong cuộc hành tŕnh từ Sài G̣n đến Mỹ, có một em qua đời v́ bệnh nặng. Máy bay sau đó tiếp tục cất cách chở các em đến George, một số trong đó v́ quá yếu sức nên được gởi lại bệnh viện trường đại học UCLA để điều trị. Riêng bà Vũ Thị Ngăi vẫn ở lại Sài G̣n dù biết tính mạng ḿnh sẽ gặp nguy hiểm bởi cộng sản. Cuối cùng nhờ sự vận động của bà Betty M. Tisdale với Toà Đại Sứ, bà Vũ Thị Ngăi được đưa ra khỏi Sài G̣n đến đảo Guam trong ngày 20/4. Bà được vợ chồng ông bà Betty và Patrick Tisdale bảo lănh vào Mỹ và đến Columbus, George đúng vào ngày 30/4/1975. Vợ chồng ân nhân bảo trợ đă xây riêng cho bà Vũ Thị Ngăi một căn nhà nhỏ xinh xắn ngay trong ngôi vườn của ḿnh. Bà sống ở đây được ba năm và qua đời năm 1978, hưởng thọ 73 tuổi. 

 

Bà Vũ Thị Ngăi (giữa) và một người cháu cùng bà Betty M. Tisdale ở phi trường Tân Sơn Nhất lúc tiễn 219 em mồ côi lên máy bay ngày 12/4/1975.

 

--------------------X-------------------

 

Trung Úy Quân Y Hải Quân, Bác Sĩ Thomas A. Dooley.

 

 

Bác sĩ Thomas A. Dooley ở Hải Pḥng, 10/ 1954

 

Lúc “Chiến Dịch Vượt Đến Tự Do” bắt đầu được khai triển th́ Trung Úy Thomas A. Dooley đang ṭng sự tại căn cứ Yokosuka, Nhật Bản. Tháng 8/ 1954, cùng với một số sĩ quan quân y khác ở Hawaii; Phi Luật Tân; Okinawa ông được điều động tới Hải Pḥng để làm việc trên vận tải hạm USS Montague trong Vịnh Hạ Long. Nhiệm vụ của ông là khám sơ quát cho những người di cư sắp được chuyển ra tàu lớn, khi trở về tàu th́ ông vẫn khám tiếp cho những ai muốn xin được khám bệnh. Nhờ nói được tiếng Tây khá lưu loát, ông lại nhận thêm trách nhiệm làm thông dịch viên Anh - Pháp cho các đội tàu nhỏ chuyển người từ bờ ra tàu lớn. Ông rất sốt sắng trong công việc, gần gũi với mọi người, không ngại ngùng khi tiếp xúc với người tỵ nạn mà không ít người trong số họ áo quần bẩn thỉu, hôi hám sau những ngày đêm lặn lội t́m đến Hải Pḥng với đôi chân lở loét. Cuối tháng 9/1954, ông được chỉ định làm bác sĩ thường trực trong đội Quân Y Hải Quân - Bờ. Đêm xuống th́ về ngủ trong khu vực quân sự ở cảng Hải Pḥng, trời sáng th́ cùng những bác sĩ khác toả ra làm phận sự tại các lều y tế đă được dựng lên ở ngoại ô thành phố. Kể từ tháng 11/1954, ông trở thành vị sĩ quan chỉ huy của đội quân y hoạt động ở các trại lều.

 

T́nh Nhân Đạo Không Có Biên Cương.

 

Thời gian làm việc ở các trại, ông Thomas A. Dooley mới cảm nhận được, mới thấm thiá sâu xa về sự khổ đau tận cùng của dân tộc một đất nước vừa bị thực dân bóc lột tàn tệ, vưà bị cộng sản man rợ gây ra nhiều thảm cảnh đau thương. Ông đă chứng kiến, đă nghe người chạy nạn kể lại những hành động tàn ác của cộng sản mỗi khi chúng bắt được ai cố t́nh muốn vào Nam. Nếu nạn nhân là người theo đạo công giáo th́ họ phải chịu sự hành hạ đau đớn nhiều hơn như cắt bàn chân, xẻo tai, đâm mù mắt, chọc thủng lỗ tai, treo hỏng mặt đất v.v bất kể đó là người lớn hay trẻ em. Bên cạnh các cách tra tấn tàn bạo đó, cộng sản c̣n cho cán bộ đi tuyên truyền láo khoét khắp nơi. Nào là người Mỹ hút máu người và ăn sống trẻ con, Mỹ lén bỏ thuốc độc vào nước uống ở các trại làm nhiều người bị bệnh, cố t́nh xịt thuốc độc lên người đến trại làm họ bị phỏng và lở loét, Mỹ và Pháp cố t́nh bắt cóc người cưỡng bức di cư xuống tàu, ai ở trên tàu say sóng sẽ bị ném xuống biển, Mỹ là nước tư bản nên cần người qua đó làm cu li, thanh niên khoẻ mạnh sẽ bị đưa đi cạo mủ cao su v.v và v.v...

 

Chính những bác sĩ Mỹ và ngay cả bản thân ông Thomas A. Dooley cũng vài lần thành nạn nhân về sự tuyên truyền của cộng sản. Có một lần, sau khi chích Penicillin cho một em nhỏ bị ghẻ lở khắp ḿnh th́ em bị co giật và khóc thét. Bà mẹ em gào lên, chụp một khúc củi đánh tới tấp làm ông bị bầm mắt. Sáng hôm sau bà mẹ này đầm đià nước mắt, quỳ xuống trước mặt ông Thomas Dolley xin nhận lỗi v́ đă hiểu lầm. Bác sĩ Gleason một lần vác b́nh thuốc DDT đi xịt quanh trại, có mấy đưá nhỏ chạy theo đuà giỡn, thấy vui ông đưa cần phun thuốc về phiá các em. Ông này bị một lúc mấy bà mẹ rượt đánh v́ tưởng ông xịt thuốc độc lên con họ! Chuyện này xảy ra thường xuyên trong vài tháng đầu v́ ngày nào cũng có hàng ngàn người từ xa mới đến, chưa được hướng dẫn đầy đủ. Các quân nhân Mỹ phải mỉm cười thông cảm, họ chịu đựng và giữ hoà nhă để làm điều thiện. Những chuyện hiểu lầm “bá láp” như vậy rồi cũng không c̣n nữa. Ban đại diện trại lập ra nhiều tổ nhỏ đi giải thích cho người mới đến các điều cần biết trong lúc sống tạm ở trại lều.

 

 

Trung Úy Thomas A. Doolley cùng các bác sĩ, y tá trong toán quân y và những quân nhân khác của Mỹ phục vụ ở Hải Pḥng, từ bến tàu vận chuyển cho đến các trại lều, tất cả đă tận tâm, tận lực đem hết khả năng để giúp người tỵ nạn vơi bớt những khổ đau, hết lo lắng, tự tin hơn ở tương lai sau nhiều ngày đêm trốn tránh các hiểm nguy mà cộng sản đă dành cho họ trên đường vượt thoát. Ngày12/ 5/ 1955, bác sĩ Thomas A. Doolley cùng toán quân y rời Hải Pḥng ra tàu lớn, ngày đầu lên bờ ông cân nặng 180 pounds, ngày rời miền Bắc Việt Nam ông chỉ c̣n 120 pounds. Từng người trong họ ai cũng mang nét mặt buồn thảm, lắc đầu thở dài v́ biết chắc vẫn c̣n rất nhiều người muốn ra đi nhưng thời hạn ”tự do di chuyển” th́ quá ngắn. Cũng trong ngày hôm đó ở Sài G̣n, phủ thủ tướng có quyết định trao tặng huy chương cho nhiều quân nhân thuộc Lực Lượng Hải Quân Đặc Nhiệm 90. Riêng Trung Úy Quân Y Hải Quân Thomas A. Doolley, chính đích thân Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm ân tặng Chương Mỹ Bội Tinh cho ông trong một buổi lễ tại Sài G̣n. 

 

Việc ghi thêm về hoạt động của Mỹ ở Hải Pḥng từ tháng 8/1954 đến tháng 5/1955, chúng tôi thấy không cần thiết v́ chẳng thể nói hết được công việc mà những ân nhân ấy đă làm. Sáu mươi năm đă trôi qua trong lịch sử kể từ năm 1954. Những người xưa của Lực Lượng TF 90 nay đă ngoài 80 tuổi trở lên. Dù ai vẫn c̣n, hoặc người đă về nơi khuất bóng th́ những ǵ đă ghi ra nơi đây, được xem như lời tri ân chung kính gởi đến quí ân nhân, những người có một thời đă san sẻ một phần khổ đau của đồng bào Việt Nam chúng tôi.

 

Riêng Trung Úy Thomas A. Doolley, sau ngày về Mỹ đă viết một cuốn sách kể lại những ǵ ông mắt thấy tai nghe tại Hải Pḥng. Cuốn: “Deliver Us From Evil” - Đem Chúng Tôi Ra Khỏi Sự Dữ (Berkley Publishing Corp, 1956) đă làm công chúng Mỹ nói riêng, công luận khắp thế giới nói chung, hiểu biết thêm về sự tàn độc vô nhân tính của cộng sản Việt Nam. Cuộc đời ông Thomas A. Doolley về sau rất ly kỳ. V́ một nguyên nhân rất tế nhị, ông hợp tác với CIA qua sắp đặt của Đại Tá Edward G. Lansdale, đến vùng rừng núi Nam Tha ở Lào lập một bệnh xá giáp biên giới với Trung Cộng. Năm 1959 ông phải trở về Mỹ v́ mắc bệnh ung thư. Bác sĩ Thomas Anthony Doolley sinh ngày 17/1/1927, qua đời ngày 18/1/1961, hưởng dương 34 tuổi. Ngày ông qua đời, cũng là ngày cộng sản tràn ngập bệnh xá của ông ở Nam Tha.

 

 

Những Bàn Tay Độc Ác.

 

H́nh chụp quả tang cộng sản bắt giữ, hành hạ đồng bào VN muốn đến với Tự Do, tháng 10/1954.

 

Giáo phận Phát Diệm thuộc huyện Kim Sơn tỉnh Ninh B́nh, nằm về hướng Nam - Hà Nội và Hải Pḥng khoảng hơn 100 km.

 

Từ ngày 30/ 6/ 1954, Giám Mục Lê Hữu Từ đă cho giáo dân di cư vào Nam. Bản thân ông cùng với 10 linh mục, khoảng 15 chủng sinh và 183 nữ tu xuống tàu nhỏ đi trước ở cầu Tŕ Chính, theo đường sông ra biển để lên tàu lớn. Tính tới ngày 11/7, Phát Diệm đă có khoảng 60.000 giáo dân, 124 linh mục đă vô được miền Nam. Sau ngày này, giáo dân vẫn c̣n tiếp tục ra đi, vừa bằng ghe nhỏ đi ra Hải Pḥng hoặc bằng đường bộ về hướng Hà Nội.

 

Nhưng đến ngày 20/ 10/ 1954, Ủy Ban Di Tản Người Việt Nam Tỵ Nạn ở Hải Pḥng nhận được tin báo: Ở Phát Diệm vẫn c̣n hơn 20.000 người muốn ra đi nhưng không được. Bộ đội cộng sản đă lập nhiều trạm gác quanh vùng này và không cho ai được rời Phát Diệm, Quốc Lộ 10 đi Hà Nội cũng bị cộng sản cấm lưu thông”. Một cuộc họp giữa các đại diện Việt; Pháp; Mỹ đựợc tổ chức tại Hải Pḥng, sau đó đề ra cách giải thoát người ở Phát Diệm. Những bức điện tố cáo sự vi phạm của công sản Việt Minh được gởi đi các nơi để báo động dư luận, kể cả gởi cho đại diện ICSC ở Hải Pḥng; Hà Nội và Sài G̣n. Cùng lúc đó, vài giáo dân tín cẩn được phái tới Phát Diệm bằng đường biển để báo một tin mật: “Kể từ ngày 1/11, mọi người hăy tập trung quanh khu vực nhà thờ chánh toà, sẽ có đại diện ICSC tới đưa đi. Dù phái đoàn có đến trễ vài ngày, mọi người phải kiên nhẫn chờ đợi, không nên giải tán”.

 

Ngày 2/11, cộng sản ở khu vực Phát Diệm cảm thấy có điều ǵ đó không b́nh thường. Giáo dân sau khi dự lễ không về nhà như thường lệ, lần này họ ở lại ăn ngủ tại chỗ và số người tụ tập mỗi ngày càng đông dần. Cộng sản ra lệnh báo động trong toàn tỉnh Ninh B́nh, họ đưa thêm nhiều đơn vị đến khu vực, lập thêm nhiều trạm gác và c̣n ra lệnh các làng lân cận không được đem thức ăn, nước uống vào khu vực nhà thờ Phát Diệm. Mục đích của cộng sản là làm cho mọi người v́ thiếu thực phẩm, nước uống sẽ tự động giải tán. Trong khi đó ở Hải Pḥng, tổ ICSC vẫn không đi được v́ ủy viên Ba Lan cứ thoái thác với lư do không có phương tiện! Ngày 8/11, Bộ Tư Lệnh MAAG ở Sài G̣n báo ra Hải Pḥng cho phép được xử dụng hai chiếc trực thăng chở đại diện ICSC tới Phát Diệm, một chiếc của Đề Đốc Lorenzo Sabin và một chiếc của Đô Đốc Jean Marie Querville (thời đó trực thăng c̣n rất hiếm).

 

Ngày 10/11, trực thăng chở mọi người đáp xuống cách nhà thờ Phát Diệm không xa, phái đoàn tận mắt chứng kiến cảnh gần 20.000 người chen chúc nằm ngồi la liệt cả một vùng rộng lớn quanh nhà thờ chính toà, họ kêu gào khóc than v́ gần 10 ngày qua không có đủ nước uống và thực phẩm v́ bị cộng sản bao vây. Đại diện Việt Nam, ISCS liền gởi thông tin về Hải Pḥng cũng như gởi thẳng tới ông HCM tại Hà Nội để phản đối việc làm đó. V́ bị bắt quả tang nên cộng sản không thể chối căi được. Họ ra lệnh cho viên chỉ huy quân sự ở Ninh B́nh rút bỏ các trạm gác ngăn chặn người quanh khu vực. Tuy nhiên, bản chất gian manh của cộng sản muôn đời vẫn không thay đổi, họ chấp nhận rút quân không bao vây nữa th́ họ lập ra ngay sân nhà thờ cái gọi là “ủy ban Việt Minh giúp người di chuyển”. Họ c̣n “hưá sẽ cung cấp xe (Molotova của Trung Cộng) giúp chở người đi Hà Nội. Ủy ban này sẽ cấp “giấy di chuyển” cho ai muốn đi Hải Pḥng qua ngă Hà Nội và mỗi người phải đóng 8.000 đồng tiền Việt Minh, cộng sản giải thích số tiền đó để ”bồi dưỡng” cán bộ làm việc, tài xế lái xe, tổn phí giấy, mực, xăng dầu và cả bánh xe bị ṃn ! Nhưng sau khi đóng tiền, lên xe với tờ “giấy di chuyển” có thời hạn 15 ngày, đoàn xe của cộng sản lại lần lượt thay nhau “chết máy”, nằm rải rác trên đường lộ. Người dân khốn khổ buộc phải xuống gánh gồng đi tiếp bằng đôi chân, họ không thể chậm trễ v́ chưa tới Hải Pḥng mà “giấy đi đường” hết hạn họ sẽ bị cộng sản chận bắt lại, lúc đó không những mất tiền mà c̣n mất luôn mạng sống nếu lọt vào tay cộng sản. Phiá đại diện ICSC lại lên tiếng phản đối, cộng sản lần này huy động hàng trăm ghe thuyền chở người theo đường sông lên Hà Nội, tại đây nếu “giấy đi đường” c̣n thời hạn th́ họ lên xe lửa đi tiếp ra Hải Pḥng. Nhưng trong thực tế th́ không có bao nhiêu người đến kịp Hải Pḥng trước thời hạn. Với hơn 20.000 người ở Phát Diệm muốn ra đi trong sự kiện ngày 1/11/1954, chỉ có hơn 5.000 người may mắn thoát khỏi tay cộng sản.

 

Giáo phận Bùi Chu thuộc tỉnh Nam Định, nằm về hướng Nam - Hà Nội và Hải Pḥng khoảng hơn 70 km. Ngày 20/ 11/ 1954, đại diện Việt Nam; Mỹ; Pháp ở Hải Pḥng nhận được tin tại Bùi Chu vẫn c̣n hơn 20.000 người bị kẹt lại, họ không thể đến Hải Pḥng bằng đường bộ v́ cộng sản không cho đi. Một cuộc họp khẩn cấp được triệu tập (không có ICSC) và một kế hoạch cứu người được chuẩn bị chu đáo. Hai giáo dân được trao trách nhiệm đi đường biển tới Bùi Chu báo tin: “Mọi người có 10 ngày, phải t́m các cách để tiến về bờ biển nơi có làng đánh cá Vạn Lư. Phải cố gắng đến đó tập trung trước ngày 30/11. Đúng 10 giờ tối ngày 30/11, mọi người dùng bất cứ phương tiện ǵ có thể bơi ra xa bờ vài trăm thước sẽ có tàu đón”.

 

Ngày 29/11/1954, chiếc tàu công xưởng hạm Jules Verne của hải quân Pháp đến thả neo cách làng đánh cá Vạn Lư khoảng 4 km, sau đó thấy xuất hiện 4 chiếc tàu loại LSM của hải quân Mỹ chạy tới cập vô hai bên làm như đang sửa tàu. Chiều ngày 30/ 11, chiếc vận tải hạm General Brewster sau khi chở người di cư vô Nam, quay đầu chạy ra Bắc với khoang tàu trống trơn đến bỏ neo kế chiếc Jules Verne. Đúng 10 giờ tối ngày 30/11, dưới ánh trăng vằng vặc và dưới sự chỉ huy của các linh mục, hàng trăm ghe nhỏ, bè tre, thúng đánh cá, chuối cây cột chùm v.v lặng lẽ cỡi sóng tiến ra khơi. Ngay lúc này mấy chiếc LSM thong thả chạy vô vớt người đầy tàu rồi lui ra chuyển qua tàu lớn. Cứ như thế suốt đêm, hàng hàng lớp lớp bóng cứ người âm thầm tiến ra biển. Lúc trời sáng tỏ, chiếc General Brewster đă kịp làm bốn chuyến khứ hồi, đưa hơn 6.000 người về Hải Pḥng. Tới trưa ngày 1/ 12, nhận thấy cộng sản Việt Minh vẫn chưa hay biết ǵ, Lực Lựợng TF 90 ra lệnh cho tiếp tục vớt người. Lần này tàu Mỹ, tàu Pháp làm việc liên tiếp hai ngày hai đêm cho tới lúc trên bờ chẳng c̣n ai bơi ra nữa. Số người vớt được ở Bùi Chu đợt thứ hai là 19.000 người.

 

Hai trường hợp nêu trên tại Phát Diệm; Bùi Chu chỉ là hai trường hợp may mắn rất hiếm hoi trong biến cố di cư 1954. Kể từ sau tháng 9, khi thấy số người bỏ đi vào miền Nam quá lớn, cộng sản Việt Nam của ông HCM bắt đầu t́m cách ngăn cản với đủ tṛ mưu ma chước quỷ. Không chỉ riêng người theo đạo công giáo, mà bất cứ ai muốn bỏ đi dù là phật giáo, đạo thờ cúng ông bà v.v công sản đều ngăn cản, hăm dọa. Cản  không  được  th́  ám sát, thủ tiêu không kể già trẻ lớn bé. Phần lớn các cuộc vượt thoát đều trải qua những chặng đường cam go, bi thảm, phập phồng trong lo sợ v́ bóng dáng cộng sản Việt Minh chập chờn ấn hiện khắp nơi. Tới nay vẫn chưa có một con số chính thức về những nạn nhân bị sát hại, nhưng các nhà nghiên cứu ước tính có  khoảng 40.000 người bị cộng sản giết chết v́ muốn vào Nam. Ngoài ra cũng có khoảng 1 triệu rưỡi người khác không đi được v́ cộng sản cản trở. Những vụ người muốn ra đi bị giết lẻ tẻ một lần vài trăm, trên một ngàn th́ xảy ra rất nhiều. Nhưng vẫn không nhiều và tàn ác bằng vụ thảm sát mà cộng sản đă làm ở Thanh Hoá.

 

Ba Làng là một xứ đạo lớn nằm bên bờ biển xă Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá. Ngày 28/12/1954, có gần 20.000 người tập trung biểu t́nh ở nhà thờ Ba Làng để phản đối cộng sản không cho họ được di cư. Phiá cộng sản cử đến một toán bộ đội chửi bới và hăm dọa, sau đó hai bên xảy ra xô xát làm 4 người bị bắn chết, 6 người bị thương. Phiá bộ đội cộng sản sau đó bỏ chạy, họ có vài người bị thương do dân đánh lại. Nhưng cộng sản tháo chạy không xa, họ bao vây toàn khu vực và đánh điện ra Hà Nội báo tin. Ngày 29/12, Hà Nội cử vô một viên thượng tá ở Cục Chính Trị tên Nguyễn Hữu Vũ, bí danh Nguyễn Sĩ Đồng. Ngày 6/1/1955, Thượng Tá Nguyễn Sĩ Đồng vô tới Bái Thượng Thanh Hoá, nơi có Sư Đoàn 330 cộng sản ở miền Nam mới tập kết ra đóng ở Sầm Sơn, th́ họp với tư lệnh sư đoàn nói trên là Đại Tá Đồng Văn Cống.

 

Ngày 8/1/1955, dưới sự chỉ huy của Thượng Tá Nguyễn Sĩ Đồng, hơn 5.000 bộ đội có vũ trang tiến vào bao vây khu vực Ba Làng, họ bắn không thương tiếc những ai cố chạy thoát ra ngoài. Ngày hôm đó cộng sản bắn chết hơn 200 người, bắt trói đem đi biệt tích khoảng 2.000 người.

 

Tin tức về vụ tàn sát ở Ba Làng làm chấn động Sài G̣n và Hải Pḥng. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam đă lên tiếng tố cáo tội ác cộng sản ở Ba Làng trước dư luận quốc tế, đồng thời yêu cầu ICSC phải điều tra làm sáng tỏ chuyện này.

 

Khi biết có phái đoàn ICSC sẽ tới Ba Làng điều tra, Thượng Tá Nguyễn Sĩ Đồng cho lập ra hai toán đi đón phái đoàn uỷ hội quốc tế. Vài ngày sau, khi chiếc xe chở phái đoàn ICSC vừa vào ranh giới tỉnh Thanh Hoá chưa xa đă bị một toán cướp hung dữ chận đường. Đám cướp lột hết tư trang của các ủy viên, lúc chúng sắp ra tay giết bọn họ th́ từ xa bỗng xuất hiện một toán bộ đội làm bọn cướp bỏ chạy mất. Sau khi được cứu và được đám bộ đội “cam đoan” sẽ hộ tống đi tiếp tới Ba Làng, nhưng các ủy viên ICSC vẫn nhất quyết quay đầu xe chạy về Hà Nội.

 

Những ngày tiếp theo, cộng sản cho lập “toà án nhân dân” ở Ba Làng để kết án nhũng người muốn vào Nam. Cộng sản xử bắn 40 người, 2 người chung thân khổ sai, 22 người bị 12 năm khổ sai, 4 người bị 20 năm tù, 60 người khác bị đem đi biệt tích v́ cộng sản cho là những kẻ nguy hiếm nhất.

 

Biến cố thảm sát ở Ba Làng sau đó lan truyền rất nhanh ra miền Bắc, dân chúng xôn xao bàn tán cùng với những lời oán than uất hận. Đầu năo cộng sản ở Hà Nội t́m cách đánh lưà dư luận, họ gọi Thượng Tá Nguyễn Sĩ Đồng về, cho lên đại tá và đổi tên thành Đồng Sĩ Nguyên, không cho người này giữ một chức vụ nào ngoài công khai với hy vọng thời gian sẽ làm quên mọi chuyện. Nhưng tội ác đó không thể nào làm người dân quên được, trái lại dân chúng đă truyền tụng một bài thơ tựa như bài “văn tế” sống dành cho kẻ sát nhân đó như sau: “Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Sĩ Đồng. Theo Hồ ngươi giết con chiên Ba Làng. Tội ác ngươi nhất thế gian. Trẻ thơ cũng bắn già làng cũng đâm. Cỏ cây cũng phải khóc thầm. Núi sông cũng phải một lần phong ba. Đảng ngươi đảng lũ Tàu Nga. Cộng người cộng máu cộng hoà thịt xương. Các ngươi một lũ bất lương. Cùng quân ăn cướp cùng phường lưu manh. Đảng ngươi tội ác rành rành. Chứng nhân c̣n đó sử xanh ngất trời. Lũ ngươi đền tội đời đời”... (Khuyết Danh).

 

Bài “văn tế” sống nêu trên, chúng tôi cũng xin được lấy nó để gởi đến đảng cộng hôm nay ở Việt Nam, v́ dù có bao nhiêu năm nữa trôi qua, th́ bản chất độc ác, bạo tàn vô nhân tính của người cộng sản vẫn không thay đổi.

 

Sáu Mươi Năm T́m Lại, 1954 - 2014.

BĐQ Đỗ Như Quyên.

 

-----------------------------------------------------------

 

Nguồn tham khảo từ: “Cửu Long Cạn Ḍng - Biển Đông Dậy Sóng”, Ngô Thế Vinh, Văn Nghệ 2000. “Deliver Us From Evil”, Thomas A. Doolley, Signet Book 1956. “Encyclopedia of the Vietnam War”, Spencer C. Tucker 2011. “Hiệp Định Geneva (20/ 7/ 1954)”, Trần Gia Phụng. “Hiệp Định Geneva 1954”, Nguyễn Anh Tuấn, Sài G̣n 1964. “History of the USS Hickman County”, Mobile Riverine Force Association/ MRFA@BellSouth.net. “Hồi Kư Lă Quư Ba”, google online. “In The Midst Of War - An Americans Mission to Southeast Asia”, Edward G. Lansdale, Harper & Row, San Francisco 1972. “Nh́n Lại Cuộc Di Cư 1954 - 1955”, Nguyễn Văn Lục. “Number Games: How Many Vietnamese Fled South in 1954 ?”, John Prados. The VVA Veteran (Vietnam Veteran of America, Jan/Feb 2005. “Operation Passage to Freedom: the United States Navy in Vietnam, 1954 - 1955”, Ronald Bruce Frankum, Texas Tech University Press 2007. “Passing the Torch”, Vietnam Experience, Boston Publishing Company 1981. “the Pentagon Papers”, Bantam Book/ New York Times 1971. “Seabees and Operation Passage to Freedom”, Seabeesmagazine, 02/2013. “the Two Vietnams: A Political and Military Analysis”, Bernard B. Fall, Westview Press (04/1985). “Việt Nam 1945 - 1995”, Lê Xuân Khoa, Chương 6: Di Tản và Định Cư Tỵ Nạn 1954.           

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo