Môi trường giáo dục ở ngoài Việt Nam CS tốt hơn ở trong nước

 

Bùi Văn Đỗ

 

 

(LNV. Sau Hiệp Định Genève ngày 20-07-1954 chia cắt đất nước Việt Nam ra làm hai từ vĩ tuyến 17, miền Bắc theo Hồ Chí Minh, tức là theo CS, miền Nam theo tự do, do TT Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo. Một triệu người miền Bắc chọn tự do đă vượt biển vào Nam. Ngày 30-04-1975 người dân Việt Nam vượt biển lần thứ hai để xa lánh Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản của ông, t́m tự do và t́m tương lai cho con, cháu. Dưới đây là hoàn cảnh trốn thoát t́m tự do của một gia đ́nh ở trong Nam sau 30-04-1975).

 

 

Việt Nam đă từng bị làm thuộc địa nhiều lần và nội chiến từ khi người viết mới ra đời, từ những năm 1944 và trước đó, âm ỷ kéo dài đến năm 1954 khi Hiệp Định Paris bốn bên họp với tứ cường ở Pháp mà đến lúc này (60 năm sau) mới hé lộ một tin về cuộc hội nghị đó. Được biết cả hai miền Bắc, Nam Việt Nam chẳng có một tí ty quyết định, toàn do các cường quốc Trung Cộng, Mỹ, Pháp quyết định, đại diện của Bắc Việt, đại diện của Nam Việt có mặt chỉ là h́nh thức hai miền của hai bên chủ nhà. Hiệp định chia đôi hai miền Nam Bác từ vĩ tuyến 17. Có thời gian 90 ngày để cho dân chúng lựa chọn sống ở trong Nam hay ngoài Bắc, nếu ai chọn tự do th́ t́m đường di cư vào Nam, ai thích sống với Hồ Chí Minh th́ ở lại miền Bắc. Nhưng Hồ Chí Minh là người của Cộng Sản quốc tế, có lắm mưu kế đă cài người ở lại trong Nam với âm mưu sẽ Tổng Tuyển Cử vào những năm kế tiếp, thống nhất hai miền Nam Bắc dưới trướng của HCM và đảng CSVN. Và t́m cách ngăn trở dân ở miền Bắc muốn di cư vào Nam như bằng cách làm khó dễ, cho cán bộ ngăn cản. Nhưng dù có khó khăn và bị ngăn cản, số dân miền Bắc tự động di cư vào Nam hồi năm 1954 đă vào khoảng 1.000.000 người.

 

V́ những âm mưu thâm độc của người Cộng Sản. 20 năm sau, ngày 30-04-1975 Cộng Sản Bắc Việt lại tràn vào miền Nam, với danh nghĩa “giải phóng” cho nhân dân Việt Nam đang bị “Mỹ, Ngụy” ḱm kẹp. Thế là người Việt lại chạy bỏ Cộng Sản lần nữa, lần này hết đất để chạy nên phải Vượt biên vượt biển.

 

Thành, thuộc thành phần trẻ của thời đó, chán ngán chiến tranh, v́ từ khi lọt ḷng mẹ, chẳng có ngày nào yên b́nh, đêm th́ nghe pháo nổ, Việt Cộng lén về tuyên truyền, ngày th́ quân đội quốc gia hành quân, cái cảnh một cổ hai tṛng, nhất là ở miền quê, nên ḷng người chán nản đến khi nói đến hai chữ Ḥa B́nh th́ đúng như là một giấc mơ, v́ mơ nên quyết tâm ở lại để hưởng ḥa b́nh trên dải đất h́nh cong chữ S của ḿnh. Nhưng mơ và thực với người Cộng Sản th́ khác hẳn với người thành tâm và giới trẻ, v́ mơ mộng và ấu trĩ về Hồ Chí Minh và Đảng CS, nên hàng triệu Quân Cán Chính VNCH mới chuẩn bị lương thự 10 ngày để đi gọi là Học Tập Cải Tạo, nhưng thực tế là đi tù không có xử án, ngày về vô định, nhiều kẻ bị hành hạ cho đến chết v́ lao động khổ sai, v́ thiếu ăn, thiếu thuốc. Những sự thật đă phơi bày 39 năm qua sau khi thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam, và do đảng Cộng Sản Việt Nam lănh đạo, lèo lái đất nước đi về đâu th́ mọi người ngày nay đều đă rơ. Nhất là vấn đề giáo dục.

 

Dù không muốn bỏ nước mà trốn đi, nhưng v́ tương lai bản thân, tương lai gia đ́nh và con cái sau này khi lớn lên, nên Thành đành phải chấp nhận t́m đường trốn, v́ nếu không vượt biên đi được, phải ở lại đất nước Việt Nam th́ tương lai của lớp con cháu không bao giờ vươn lên.

 

Chuyện vượt biên th́ khốn khổ vô cùng, Thành không thể nào quên được. Vào sau ngày 30-04-1975 cho đến khi làn sóng tỵ nạn không c̣n được nước nào nhận nữa, th́ chuyện vượt biên là chuyện cấm kỵ ở Việt Nam thủa ấy, chỉ sơ ư, hở ra là bị bắt ngay, cho nên ngay trong gia đ́nh mà cha mẹ cũng không biết người con đang đóng ghe vượt biên. V́ cha mẹ nào cũng nóng ḷng lo cho con, sợ xa con, sợ mất con, nên chỉ một vô ư là hàng xóm hay công an khu vực biết, nên chuyện vượt biên là chuyện bí mật vô cùng. Công an cộng sản muốn bắt các người đóng nghe vượt biên để khai thác t́m vàng, ḅn mót của cải của người vượt biên, và không phải chỉ đóng ghe xong là đă khởi hành ra đi được, c̣n phải lo lót, mua bến, mua băi, xem chừng con thuyền của ḿnh có hợp với biển khơi không, t́m người lái ghe quen nghề làm biển, thường xuyên tiếp súc với biển mới mong trốn thoát được.

 

Những người có thuyền và ở ven biển th́ đă nhổ neo đi hết rồi, đa số những người ở thành phố sau này muốn trốn thoát, không có kinh nghiệm về sông ng̣i, biển cả, nên vô số người bị lâm vào bẫy. Làm ghe xong mới hiểu ra con thuyền của ḿnh không thể nào vượt đại dương, băi, bến mua không được, nằm vật vờ vài năm sau, đến khi thuyền mục phải bỏ. Thành nghĩ đến phải đổi chiến thuật, đổi chỗ ở v́ “không vào hang cọp sao bắt được cọp con”. Nên Thành đă phải dời xuống vùng ven biển, làm nghề biển mới mong thoát được ṿng kiềm tỏa của Cộng Sản Việt Nam. Từ thành phố không làm nghề biển bao giờ, phải giả danh đến vùng bắt cua ṃ ốc, dự trù làm ghe đi cào tôm trong các sông rạch ven biển, để rồi nhân cơ hội đó mới t́m đường trốn đi. Khi đến vùng đất mới, gặp được những người cùng cảnh ngộ, hợp lại mới trốn đi được sớm hơn dự trù.

 

Nhưng không phải cả nhà đi một chuyến, mà phải chia ra làm hai lần, một phần v́ đă cạn kiệt tài chánh trong lần làm ghe vượt biên thủa đầu, một phần dự trù nếu bị bể, bị bắt lại th́ bị tù tội cả gia đ́nh, thảm trạng c̣n bi đát hơn. Do đó ba cha con phải đi trước, cũng nhắm mục đích, nều trót lọt th́ sự đoàn tụ không khó khăn ǵ cho tương lai, hơn nữa đứa trẻ nhỏ nhất ba tuổi sẽ không bị lỡ học hành ở xứ người. Giấc mơ đó đă hiện thực khi đến được các nước tư bản, v́ nền giáo dục trọng chuyên cần để t́m tài năng hơn hẳn đường hướng giáo dục của đảng CSVN, cần hồng hơn chuyên, cần có lư lịch con nhà cách mạng hơn con của “Ngụy Quân Ngụy Quyền”, dù con cháu của người Cộng Sản có ngu dốt. V́ vậy 39 năm qua Việt Nam ta mới tụt hậu, nghèo đói, tham nhũng, xă hội mới tồi tệ như hôm nay.

 

 

Hành tŕnh dời bỏ quê hương.

 

Trong tâm trạng của một người bỏ trốn, lén lút t́m đường ra đi để mong sao trốn thoát được gông cùm ḱm kẹp của cộng sản Việt Nam của thời ấy. Nó khác xa với không khí khi được ra đi như đoàn tụ gia đ́nh, hay đi theo diện H.O, nghĩa là ra đi chính thức không lén lút, sợ hăi như cảnh trốn thoát lúc vượt biên. Hay như áo gấm về làng sau khi được định cư và đời sống đă ổn định, rồi về thăm quê, được đón rước trọng thể linh đ́nh sau này.

 

Khởi hành từ chợ Bà Rịa, Thành giả dạng như một dân đi làm biển với túi cói, có vài bó củi ở trên, quần cụt nón là đáp xe lam ba bánh hướng về Vũng Tàu, đến chợ Cát Nở th́ xuống, vào giờ chợ nhóm đông người qua lại mua bán. Xuống chợ Cát Nở rồi đi một ṿng và mua thêm bó rau muống để trên túi cói, xuống ngay bờ sông cạnh đó, đă có ta-xi chờ sẵn, ta-xi cũng ngụy trang là dân đi lưới cá đối ở ven biển, chèo tay, không mui. Ba người chia nhau trên hai ta-xi chèo, con gái 14 tuổi với một chàng thanh niên khoảng 22 tuổi, cha già với em bé 3 tuổi trên một ta-xi khác cũng do một thanh niên khoảng 25 tuổi chèo, lênh đênh trôi nổi để qua trạm kiểm soát của Công An biên pḥng đóng chốt ở các cửa ra biển. Qua được cửa ngơ ngặt nghèo nh́n thấy biển lớn xa xa, mênh mông trời với nước thỉnh thoảng có những g̣, đồi nhô lên giữa biển nước mênh mông với những cây đước biển. Chập chờn suốt một ngày ṛng ră, chiều đến cũng những chiếc ta-xi nhưng lớn hơn ta-xi chèo tay, có máy, có mui như những nghe đi câu ở biển dáo dác chạy tới, ngó trước ḍm sau, giữa biển có trời và nước rồi từ từ cập sát ghe chèo, thế là ba cha con cũng leo được lên ghe lớn hơn ghe chèo một chút. Rồi chờ màn đêm phủ xuống, các ta-xi có máy vội vàng dọt ra cửa biển, và đổ người lên một ghe cào tôm lớn hơn, được coi là cá mẹ. Khi xong đâu đó, các ta-xi nhỏ lùi dần vào phía trong, ghe lớn lấy hướng để dọt lẹ.

 

Thực tế chỉ có những người tổ chức họ ở trên mui ghe, c̣n tất cả khoảng 25 người th́ nằm dưới hầm của ghe, số phận định đoạt từ đây khi xa rời đất mẹ. Măi khi qua tầm kiểm soát của Công An biên pḥng Việt Nam, lúc biển yên mới được chui lên miệng hầm nghe, để thấy biển và hưởng chút gió mát.

 

Lênh đênh trên biển đúng 4 ngày đêm, cũng gặp biện động, sóng to gió lớn, cũng bị rượt đuổi (không rơ là công an biên pḥng hay bọn cướp biển). Khi ra tới hải phận quốc tế gặp nhiều tàu buôn của nhiều quốc tịch, xin cứu vớt mà không được, ban tổ chức ngă ḷng và quyết định đi tới một trại tỵ nạn nào đó. V́ thực tế có được một tài công lái ghe câu cá ở ngoài biển, c̣n trẻ, khỏe, có kinh nghiệm v́ có anh, em, bạn hữu đă vượt biên truyền lại một số kinh nghiệm, nên cuột vượt biên không như nhiều chuyến ra đi khác, ra tới biển cả rồi mới phát hiện ra tài công dổm.

 

Vào chiều ngày 16-09-1983 khoảng l6 giờ chiều, gặp một tàu chở hàng hóa của Ḥa Lan di chuyển trên hải phận này, lẽ tất nhiên là các thuyền nhân đều xin cứu vớt, v́ đă gặp nhiều tàu rồi mà họ bỏ đi. Chiếc tàu này đi qua rồi quay trở lại, không rơ họ liên lạc thế nào với các nơi liên hệ ? Chỉ thấy chiếc tàu quay đầu trở lại là đem đến hy vọng cho các thuyền nhân. Và họ cứu vớt thực, sau khi ngừng tàu và liên lạc được với ghe vượt biên, trao đổi với chủ ghe, cũng may chủ ghe là một cựu sinh viên trường ĐH Đà Lạt nói được tiếng Anh, nên việc trao đổi không khó khăn ngay từ lúc đầu. Họ đă cứu giúp bằng cách thả thang dây, đu người xuống trước, xem t́nh h́nh và đưa từng người lên tàu lớn theo thứ tự, trẻ em và phụ nữ, sau đó đến những người đàn ông.

 

Lên tàu lớn, nhờ mới đi bốn ngày đêm, trên ghe c̣n nước, c̣n lương thực nên không có ai bị đói khát và kiệt sức, sau khi tắm rửa, ăn uống là các thuyền nhân được hồi sức ngay, sau 24 giờ tàu cập cảng Singapore, các thuyền nhân đă được Cao Ủy Tỵ Nạn đưa lên bờ vào trai tỵ nạn Singapore, ở đây làm thủ tục khoảng ba tháng sau th́ có phi cơ chở về định cư tại trại Tỵ Nạn Alpedoor Ḥa Lan. Hôm đó là ngày 13-11-1983, sau khi ở trại tỵ nạn Singapore, những người có thân nhân ở các nước khác, họ sẽ đi đoàn tụ với gia đ́nh họ ở các nước đó, những người khác khoảng 23 người đi theo diện tàu vớt, về định cư tại Purmerend cho đến nay. Ngày về Purmerend là ngày 07-02-1984.

 

Đến một đất nược tự do, nhất là xứ Ḥa Lan, đến trường là một quan tâm hàng đầu của nhà nước và các phụ huynh, do vậy người tỵ nạn Việt Nam cũng được hưởng lây cái quan tâm và hạnh phúc đó. Do đó, người lớn th́ đến trường học về ngôn ngữ mới, tập làm quen với phong tục tập quán mới, c̣n trẻ em th́ được đến trường lớp ngay, tùy theo tuổi tác và tŕnh độ. Những em vừa đến tuổi vào trường mẫu giáo hay trường tiểu học Basisschool th́ không gặp trở ngại về ngôn nhữ, c̣n những người lớn th́ cũng gặp nhiều khó khăn khi phải học một ngôn ngữ mới.

 

(Chương tŕnh giáo dục của Ḥa Lan có một số điểm cũng giống như các quốc gia khác, nhưng có những điểm không giống nhau như ở cấp tiểu học, tuổi bắt đầu vào (4 tuổi) th́ cũng giống nhau, nhưng khi ra th́ là 12 tuổi, không giống như Đức, Pháp, Bỉ hay Việt Nam lên trung học lúc 10 tuổi. Ở Ḥa Lan lên Trung Học là 12 tuổi, do đó ở bậc tiểu học họ không chia các em mới nhập học là lớp 1, mà là roep 1, mỗi năm là một roep, như vậy các em sẽ học trong 8 năm tức là 12 tuổi mới bước vào trung học. Điểm đặc biệt ở đây, sau 8 năm ở bậc tiểu học, họ đă theo dơi và khuyên các em nên vào học trường nào, hệ nào ở bậc trung học. Hiện nay có ba bậc họ khuyên Evwo, Havo và vwo, trước đây là Mavo, Havo và vwo. Nếu được khuyên chuyển lên học ở hệ Havo-vwo th́ khi học xong vwo-6 khoảng 18 tuổi coi như thi tú tài toàn phần, c̣n học các hệ dưới muốn theo đuổi để vào đại học th́ lâu hơn, và liệu các em có cố gắng được không? Có điều hệ cao, hệ thấp th́ cứ cuối mỗi hệ lại thi một lần, và nếu có đủ điểm mới được học lớp cao hơn. Ở điểm này có một số phụ huynh Việt không nắm được rơ ràng, chỉ biết con có đi thi, có ra trường, nhưng không biết ở hệ nào).

Nếu từ tiểu học nhà trường khuyên nên vào trường hvo-vwo th́ chỉ học đến 18 tuổi đă thi lớp 6 vwo và vào đại học, c̣n đại học th́ tùy khả năng và ngành nghề ḿnh chọn, thứ 4 năm thứ 5 năm thứ 6 năm. Hậu đại học th́ cũng vậy, 3 năm, 4 năm, 5 năm 6 năm. Ở một đất nước không phải học tài th́ phận, không phải hồng hơn chuyên, không phải có lư lịch gia đ́nh là cách mạng, con, em, sẽ được lên lớp. Mà nhờ vào sự chuyên chần, chăm chỉ và tài năng của em đó. Nhờ vậy, người vượt thoát ra đi thủa đầu có khoảng 2 triệu người mà ngày nay đă có hàng trăm ngàn bạn trẻ thế hệ thứ hai trở thành những chuyên gia, chuyên viên nặng kư ở xứ người. C̣n xứ sở ta Việ Nam th́ để người tỵ nạn ở ngoài nước phán đoán.

 

Thủa đầu mới đến một nước tự do nh́n cái ǵ cũng thấy lạ lẫm, v́ 8 năm sau khi cộng sản Việt Nam thống nhất dưới danh nghĩa xă hội chủ nghĩa, nhưng lạc hậu, chậm tiến trở ngược lui thời đồ đá. Biến những thành phố ở Việt Nam thành những đường phố đầy xe đạp, xe chở khách th́ chạy bằng than, xe Honda lùi dần v́ xăng đắt đỏ và khan hiếm, không có đồ phụ tùng. Đến một đất nước có nhiều xe hơi và xa lộ th́ không thấy có đèn đỏ nên mải mê tham quan và nh́n ngắm những cái lạ. Lạ nhất là nghe các loa đài ở Việt Nam tuyên truyền là chủ nghĩa tư bản đang dẫy chết mà sao xă hội của họ nhiều xe au-tô lạ, xa lộ không có đèn đỏ. Siêu thị th́ ngăn nắp, bầy bán đủ thứ hàng, giá lại vừa túi tiến người mua, khác với những ǵ đảng cộng sản nguyền rủa về chế độ tư bản. Đi xa và nh́n sâu hơn nữa vào hệ thống giáo dục của họ, trường lớp thực ngăn nắp, mỗi lớp chỉ khoảng 20 em đến 30 học sinh, khác với Việt Nam ta lớp nào cũng đông, thiếu trường cho học sinh để học, cô thấy th́ phần đông phải đi làm thêm mới đủ sống nên hem hễ không như các giáo viên bản xứ. Lần đầu tiên đến xứ người, cha con Thành được đi khám sức khỏe tổng quát, khám răng và được đến trường trở lại, tùy theo tuổi tác, tŕnh độ. V́ con th́ vào trường nhỏ, cha th́ phải học về ngôn ngữ của người bản xứ để c̣n hội nhập vào đời sống mới ở xứ người, để đi làm.

 

Sau khi vượt thoát ra khỏi Việt Nam, đến bờ bến tự do, có môi trường tiếp súc với cộng đồng người Việt ở nhiều nước khác nhau, mới nhận ra rằng, người Việt tỵ nạn ở nhiều nước trên thế giới, những gia đ́nh có gốc gác ở trong Nam, đă được tự do khoảng 20 năm (1954-1975) th́ con cháu họ học hành khá tiến triển, chỉ khoảng 15 đến 20 năm sau, có gia đ́nh đă có đến 4, 5 tấm bằng đại học do con họ đạt được, chính v́ thế mà thủa đầu có khoảng 2 triệu người tỵ nạn mà ngày nay đă có con số khoảng 100.000 người trẻ thành tài ở các nước tiên tiến này, một tỷ lệ có thể nói được cao hơn cả người bản xứ.

 

 

Những mừng vui của các phụ huynh vào cuối các học tŕnh của con.

 

Thấm thoát 8 năm ở bậc tiểu học (Basisschool), Thành nhớ đến những năm đầu khi mới đến nước người, gió, mưa là đặc tính khí hậu của xứ Ḥa. Chở con đến trường trong những mùa gió chướng, dưới các nhà cao tầng, gặp những luồng gió thổi, đôi khi cha con bị té ngă v́ thiên nhiên, nhưng nhờ mănh lực của ư chí, sau khi đến được một đất nước tự do, lại gượng dậy, chống chọi với gió ngàn, đến trường đúng giớ. Kết quả ấy có được khi con chuyển trường bước vào trung học, nhà trường khuyên nên chuyển đến trường Da Vinci College, hai năm đầu chuyển tiếp, học chung chương tŕnh Havo + Vwo, năm thứ ba được phân loại lớp 3 Vwo. Chương tŕnh như vậy học là 6 năm th́ thi VWO. Tháng 6 năm 1998 đậu tú tài toàn phần, sau đó vào đại học. Nhưng ngành muốn học phải bốc thăm, không trúng một năm, đến năm thứ hai trúng thăm. Trọn 6 năm ở đại học Vrij Universitiet, ngày 03-03-2006 nhận bằng bác sĩ y khoa của đại học Vrij Universitiet Amsterdam có sự tham dự của cả gia đ́nh. Con Thành c̣n gia nhập quân đội Ḥa Lan. Ngành Hải Quân (Marine Koningrijk), sau 6 tuần lễ học căn bản quân sự. Ngày 09-06-2006 vợ chồng Thành có mặt trong lễ ra trường tại căn cứ hải quân Den Helder, rồi c̣n tham dự lễ măn khóa Sĩ Quan Quân Y năm 2008 tại căn cứ Quân Sự của Ḥa Lan tại Hilversum. Sau 4 năm 6 tháng trở về dân sự. Ngày 31-08-2011 nhận bằng bác sĩ nhà tại đại học Nijmegen, sau hai năm làm việc ở nhiều pḥng mạch. Ngày 01-09-2014 chính thức phụ trách bác sĩ nhà ở một nơi cố định.

 

Phiêu bạt tỵ nạn nơi xứ người, giấc mơ thủa đầu là t́m đến xứ sở có tự do và nhân quyền, người trẻ được đến trường, được đào tạo theo khả năng để trở thành những con người hữu ích cho bản thân, gia đ́nh và xă hội. Giấc mơ ngày ấy đă thành hiện thực khi tham dự lễ trao bằng tốt nghiệp VWO năm 1998, bác sĩ y khoa tại đại học Vu Amsterdam ngày 03-03-2006. Lễ măn khóa của các sĩ quan Hải Quân Ḥa Lan tại căn cứ Hải Quân Den Helder ngày 09-06-2006. Lễ măn khóa tốt nghiệp Sĩ Quan Quân Y năm 2008 ở căn cứ quân sự Ḥa Lan Hilversum, và bằng bác sĩ nhà ngày 31-08-2011 tại đại học Nijmegen. Những sự kiện xẩy ra như một giấc mơ khi lần đầu tiên đến đất nước xa lạ này phải đem con đi khám bệnh, không dám nghĩ đến 28 năm sau, em bé tỵ nạn ngày đó nay cũng trở thành bác sĩ nhà của xứ hoa tulp. Điều mà chính vị thuyền trưởng cứu vớt thuyền nhân trên biển cũng không thể ngờ được. Thực là một giấc mơ. Giấc mơ đó nói lên được rằng, ngày nào c̣n tồn tại chế độ Cộng Sản ở trong nước th́ người trẻ Việt Nam không thể tiến lên./-

 

 

Bùi Văn Đỗ

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo