Mũ Nồi _ Béret

 

 

Hầu như chúng ta đội mũ nồi (Béret/Bê-rê) nhưng ít người biết nguồn gốc phát sinh ra mũ nồi?

 

Mũ nồi được biết qua cái tên thường gọi “Béret Basques” và sản xuất tại Pháp nhưng tại sao khi được hỏi về xuất xứ của loại mũ này th́ người dân nơi đây gọi là “Béret Béarnais”, nghĩa là Bê-rê của cư dân vùng Béarn ở chân núi Pyrénées miền Tây-Nam nước Pháp? Chúng ta cùng t́m hiểu thêm dưới đây.

 

Nguồn gốc

 

Tài liệu trên mạng Wikipédia cho biết từ những tác phẩm điêu khắc thời Trung cổ vào khoảng thế kỷ 13 hiện c̣n lưu giữ tại nhà thờ Notre-Dame de Bellocq ở vùng Pyrénées (Pyrénées-Atlantiques) nước Pháp đă chứng thực sự hiện diện của chiếc mũ đội đầu có h́nh thù gần giống với chiếc mũ nồi ngày nay và có thể đó là mũ nồi Chechia của người Ả-rập được làm theo các nguyên tắc tương tự như mũ nồi “ bê-rê” của Pháp, bằng cách đan và nỉ len, chải thô, nhuộm, v. v. và cái mũ này được đă được đưa vào phía bắc Tây Ban Nha trong thời kỳ chiếm đóng của Ả Rập và được người Moors đưa trở lại Tunisia sau khi họ bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha.

 


Mũ Chechia của người Ả-rập được cho cùng nguồn gốc với mũ nồi Béret

 

Một ư kiến khác đă cho rằng loại mũ che đầu và vai của những người lính La Mă trong thời gian chiếm giữ thung lũng Aspe, ở Béarn củng được xem là tổ tiên của mũ nồi ngày nay v́ khi người La Mă rời đi, ư tưởng cần thiết làm những chiếc mũ đội đầu đơn giản thích nghi với vật liệu địa phương có sẳn được người dân nơi đây giữ lại.

 

Theo “Truyền thuyết Béarnais” được người dân ở Béarn lưu truyền câu chuyện liên quan đến nguồn gốc mũ Béret như sau:

 

Trước nạn Đại Hồng Thuỷ (déluge) Ông NOÊ đă được Đức Chúa Trời báo trước nên đă chuẩn bị mang gia đ́nh và tất cả các động vật của họ từng cặp đôi (mỗi loài vật) lên thuyền và đóng cửa lại, một tuần sau đó mưa không ngừng trút nước suốt 40 ngày đêm gây lủ lụt, mực nưóc dâng lên cao đă nhấn ch́m tiêu diệt hết những sinh vật c̣n lai trên trái đất! Lúc mưa tạnh nước rút hết gia đ́nh NOÊ bắt đầu ra khỏi thuyền để trở lại sinh hoạt trên mặt đất, chính lúc dọn dẹp các khoang thuyền nơi chứa súc vật họ đă t́m thấy lông cừu và lông các loài vật khác do bị giẫm đạp ở nhiệt độ ấm trong khoang thuyền, đă quyện vào nhau h́nh thành các mănh lông không thấm nước và mềm mại như Nĩ (feutre) được phát hiện ra từ đó.

 

Truyền thuyết hấp dẩn dựa theo Kinh Thánh Cựu Ước cho biết do t́nh cờ mà con người đă khám phá ra nguyên liệu làm áo, mũ và mền đắp lấy từ lông cừu, lông dê được làm bằng hai cách: Dệt (đan, móc lưới. . .) và Nén (ép chặt lại) với nhau như Nĩ(Feutrine).

 

Từ những hiểu biết và cảm nhận được phẩm chất đáng kinh ngạc của lông cừu, vào lúc thời tiết xấu các mục đồng Béarnais của thung lũng Aspe và Ossau đă sử dụng nó làm áo khoác và che đầu bảo vệ chống lại cái lạnh hoặc mưa, tuyết. Ban đầu họ chỉ đan mũ cho họ và cư dân trong vùng Béarn, sau đó nhờ những người bán hàng rong mà nó lây lan sang các vùng phụ cận hàng xóm của họ, trưóc tiên là vùng Basque rồi Gascons và Landais. Các thuỷ thủ vùng Basque củng đă góp phần phổ biến đưa chiếc mũ nồi “bê-rê” này đến tại các cảng ở Saint Pierre và Miquelon, quần đảo Newfoundland của Pháp (các đảo ngoài khơi phía đông Canada).

 


Chính nhờ vào các cuộc giao thương ấy đă khiến người dân nhận thức ích lơi của chiếc mũ nồi nhiều hơn và đưa nó đi từ vùng nông thôn đến thành phố vào thế kỷ 19, từ đó mà chẳng mấy chốc nó đă được các học sinh, giáo viên và công nhân dùng đội đầu tránh nắng mưa trong sinh hoạt hằng ngày.

 



Mũ nồi Bê-rê là một kiểu mũ phổ biến, đặc biệt là trong thế kỷ XVII. Màu sắc, thay đổi theo thời gian, có giá trị biểu tượng mạnh mẽ. Ban đầu chưa được tẩy trắng, nó có màu trắng hoặc nâu tự nhiên của lông cừu, rồi nhuộm xanh hay đỏ tùy thuộc vào sở thích từng khu vực và địa phương của Pyrénées. Mũ nồi của các hướng dẫn viên leo núi thường có màu quy định (ví dụ màu xanh lam ở Luchon). Từ thế kỷ 20 trở đi, màu sắc phổ biến nhất cho mũ nồi dân sự là màu đen, mặc dù mũ nồi đỏ được t́m thấy trong các lễ hội nói chung ở xứ Basque của Pháp và Tây Ban Nha. Được làm với dạng đường kính mặt phẳng rộng nhất có thể đạt được đường kính trong khoảng 50_60 cm cho các tiểu đoàn thợ săn núi cao vùng núi Alpes (chiếc mũ được cho là để bảo vệ khỏi cơn mưa đến chân người lính canh gác), từ đó chiếc mũ nồi dần trở thành loại mũ quân sự phổ biến nhất trên thế giới, với màu sắc và phù hiệu khác nhau, và cách đội rất đa dạng. Theo thời gian, nó đă được chấp nhận bởi các quân đội quốc gia và binh chủng khác nhau: lính nhảy dù, lính thuỷ, lính không quân, lục quân v. v.

 


Quân đội các nước và Mỹ

 


Lính tiểu đoàn chasseurs d'Alpin với mũ rộng và cách đội béret nghiêng.

Nước Pháp được xem là cái nôi của mũ nồi béret và việc chế tạo chiếc mũ nồi được công nghiệp hóa dưới chân núi Pyrénées nên chiếc mũ đội đầu này đă trở thành biểu tượng gắn liền với h́nh ảnh của người Pháp ở các nước Anglo-Saxon ở thế kỷ XX.

 

Chế tạo

 

Mũ nồi được làm bằng len dệt và đan bằng tay, dưới dạng các mănh len rộng. Các cạnh sau đó được nối lại, để tạo thành h́nh mũ nồi dưới dạng một chiếc bánh tṛn lớn. Phần trung tâm có một lỗ tṛn. Các mũ nồi được đặt trong một bồn chứa nước nóng và nghiền dập, kế tiếp để cho các sợi được thắt chặt, len được ép và nén chặt để mũ nồi có được kích thước gần như vĩnh viễn của nó. Thời gian nén chặt của len quyết định mức độ vững chắc và không thấm nước, mũ nồi quân sự là loại mũ có thời gian ép nén dài nhất.

 

Sau đó nó được cạo, nhuộm. Vào cuối bể nhuộm, một h́nh dạng bằng gỗ tṛn với kích thước mong muốn được đưa vào bên trong, kế tiếp bằng cách sấy khô chiếc mũ có được kích thước cuối cùng của nó. Chúng được may một lớp lót và đường viền da bên trong. “Cái đuôi” nhỏ nhô ra ở trung tâm, gọi là cabilḥt hoặc cabilhou (mắt cá chân) hoặc là La coudète-le coudic (đuôi nhỏ) là phần cuối của các sợi len đan bằng tay nhằm khép kín lổ tṛn ở phần trung tâm.

 

 

Hiện nay phần lớn mũ nồi “bê-rê” được chế tạo và sản xuất theo phương pháp công nghiệp bằng máy dệt kim, nên sau đó “cái đuôi nhỏ” (cabilhou) đă không c̣n nữa. Đường viền bên trong ban đầu được lật lại để kết hợp với một dải ruy băng (liguette), được thắt chặt bởi một nút thắt để có thể điều chỉnh theo chu vi đầu, ngày nay đường viền bằng da, đơn giản hơn để sản xuất, nghĩa là mỗi chiếc mũ phải được làm cho một chu vi đầu cố định. Đường viền trong có kết một nút thắt giả và các sợi chỉ màu trang trí khác nhau tuỳ theo thương hiệu sản xuất.

 


Bê-rê (Béret) thường được coi là mũ của nam giới để che đầu. Tuy nhiên, nó đă trở thành một kiểu thời trang của phụ nữ ở Pháp vào những năm 1930, được quảng bá bởi các nhân vật nổi tiếng và theo phong cách một số ngôi sao điện ảnh nước Pháp nhất thời đáng chú ư như Michèle Morgan, Greta Garbo, Alain Delon, Romy Schneider, Brigitte Bardot người đă đội mũ béret trong một bộ phim “Bonnie và Clyde” bài hát này được BB biểu diễn song ca với Serge Gainsbourg (t́m xem youtube nhạc Pháp).

 


Tài tử Alain Delon. . . Romy Schneider đội mũ béret Phụ nữ Pháp và béret thời trang mùa đông.

 

Cách đội mũ nồi

 

   Cách đội mũ nồi phụ thuộc cá tính vào sở thích cá nhân và xu hướng địa phương theo từng thời điểm. Giữa đường kính mặt phẳng của mũ, kích thước và chu vi đầu, đă có những cách đội thay đổi đáng kể: _đội mặt phẳng trên đầu, rồi kéo lệch nghiêng về bên trái hoặc phải, tiến (kéo ra phía trước mặt), lùi (kéo về phía sau gáy).

 

  Tính linh hoạt này đ̣i hỏi mỗi người dùng phải chọn kích thước theo đầu ḿnh và cách tốt nhất để đội nó. Mũ nồi có đường kính nhỏ được đeo trên đầu, không có cạnh nổi bật, giống như của những người chơi thể thao đầu thế kỷ XX. Mũ nồi với mặt phẳng trên đầu rộng cho phép bạn định h́nh các cạnh và cho thêm độ nghiệng để sửa đổi vị trí của nó.

 

  Nó có thể được đội với chu vi đầu xác định, hoặc lớn hơn đặc biệt là kiểu tóc nữ, nhưng ở Pháp nó chủ yếu được “đeo” quanh đầu, hơi nghiêng về một bên. Đội rất nghiêng về một phía theo cách quân sự có xu hướng trở nên hiếm sau Thế chiến thứ hai.

 


Các kiểu đội béret nam giới




Các kiểu đội béret phụ nữ


Mũ nồi ngày nay

 

  Ngày nay, đội mũ nồi là một yếu tố mang bản sắc văn hóa mạnh mẽ ở phía tây-nam nước Pháp (xứ Basque gồm 3 vùng của nước Pháp và 4 vùng của Tây Ban Nha giáp nhau quanh rặng núi Pyrénées). Ngay cả khi việc sử dụng nó gần đây trở nên hiếm, tuy nhiên nó vẫn tồn tại ở nông thôn và thu hút được các thế hệ trẻ vào thời điểm của các lể hội mùa hè “férias” vùng Landes-Pháp (là Bayonne, Dax và Mont-de-Marsan).

 


lễ hội mùa hè “férias”

 

Đặc biệt mũ nồi đă được các Hướng đạo sinh nước Pháp sử dụng ngay từ lúc thành lập phong trào năm 1920. Hiện nay tuy không c̣n rộ lên như trước thập niên 60 nhưng một số Hội đoàn như Hướng đạo Âu châu (Scouts et Guides d'Europe), HĐ Công giáo (Scouts d' Unitaires). . . việc sử dụng Béret đội đầu vẩn c̣n được xem như là một quy định về đồng phục của hội.

 

Père Jacque Sevin sáng lập Hướng đạo Công giáo Pháp năm 1920 và đoàn thiếu sinh đội béret năm 1960.

 

  Tại Việt Nam mũ nồi “bê-rê” đă cùng các giáo sĩ phương Tây du nhập vào thế kỷ 19 và các huynh trưởng HĐ Pháp đă sử dụng nó che đầu vào đầu thế kư 20 khi bắt đầu xây dựng phong trào Hướng đạo ở Đông-Dương (khoảng thập niên 1920-1930). Ngày nay mũ nồi vẩn được các huynh trưởng và đoàn sinh nam nữ HĐVN ưa chuộng hơn nón bốn múi rộng vành v́ mũ bê-rê gọn nhẹ có thể gấp, cuốn lại đặt trên cầu vai, túi quần hoặc trong ba-lô khi đi trại. . . và được coi như một phần không thể thiếu của bộ đồng phục HĐVN.

 

 

Bùi Dzũng

Lyon, tháng 7 /2020.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính