Bằng trời bằng bể

 

Bảo Anh

 

 

Ngày c̣n ở Việt Nam, có thể rằng chưa ai nghe thấy nói tới Ngày của Mẹ, Mother’s day. Sau thảm họa mất nước 30 tháng tư 1975, cả triệu người miền Nam bỏ quê hương mà chạy. Tứ tán khắp nơi, tới nhiều nước có cuộc sống tự do. Một vài năm đầu, v́ bận lo t́m việc làm kiếm ăn, mỗi khi trên đất Mỹ, ồn ào lên v́ sắp tới “Ngày của Mẹ”, ít ai quan tâm. Sau khi tạm ổn định đời sống, người tị nạn bắt đầu để ư đến ngày lễ có tính cách tập thể này. Vậy cũng nên t́m hiểu tại sao.

         

Năm 1907 cô Anna Jarvis bắt đầu vận động để Quốc hội Mỹ công nhận một ngày Mother’s Day. Đương nhiên đó là điều mới lạ, không ai thèm để ư nên năm 1908 họ gạt bỏ. Thậm chí đă có vài dân biểu, hoặc là do sợ vợ, hoặc là vốn có óc châm biếm, đă hô hoán lên rằng: thế th́ cũng phải có Ngày của Mẹ Vợ chứ!

 

Lằng nhằng căi nhau, cuối cùng Ngày của Mẹ (Mother’s Day) đă được chấp thuận.

Trên thế giới, “Ngày của Mẹ” không nhất định là đồng nhất ở mọi quốc gia. Nhưng đại để là từ tháng ba cho đến tháng năm.

 

Ở miền Nam, trước 1975, không có một ngày nào đặt tên là “Ngày của Mẹ” cả. Tuy nhiên nền giáo dục Việt Nam trước khi có chế độ CS, ngay khi trẻ em mới học lớp mẫu giáo, đă được tập đọc và học thuộc ḷng ngay câu “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra...”.

 

Các nhạc sĩ cũng đă đặt ra những bản nhạc với những câu “Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh”. Hoặc “Mẹ tôi nắng mưa chẳng ngại nhọc nhằn” … Có nghĩa là Mẹ và Bố luôn luôn ở trong tâm khảm của người Việt chúng ta. 

 

Ngưởi Mẹ Á- Đông (Việt Nam và Trung Hoa) chăm sóc con, từ nhỏ, đến lớn, ngay cả những lúc đă rất lớn nữa. Về điều này, có hai câu chuyện trong tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung.

 

1- Trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ: Nghi Lâm là một ni cô, đi tu từ nhỏ trong phái Hằng Sơn. Do ngẫu nhiên, được Lệnh Hồ Sung mấy lần cứu cho thoát khỏi tay dâm tặc Điền Bá Quang. 

 

Nàng ngấm ngầm yêu Lệnh Hồ Sung. Chàng không thể đáp lại.V́ như thế sẽ phá hoại thanh danh của  phái Hằng Sơn và  cả của nàng nữa. Nàng tương tư, sầu muộn, h́nh dung tiều tụy, tới mức có thể chết. Mẹ nàng, vốn trá h́nh là một người câm điếc, nằm trong phái này đă mấy chục năm. Bà xót sa, t́m cách bắt được Lệnh Hồ Sung, trói lại, treo lên Linh Quy Các trên chùa Huyền Không. Bà uy hiếp chàng, phải cưới ni cô  Nghi Lâm, nếu không sẽ giết…

 

2- Trong cuốn Thiên Long Bát Bộ: Thư Bạch Phụng là vợ của Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần. Ông này đi tới đâu, cũng có t́nh nhân, rồi con rơi con văi tới đó, nhưng toàn là con gái. Duy chỉ có vợ chính Thư Bạch Phụng là sinh con trai, tên là Đoàn Dự.

 

Đoàn Dự, trên bước đường giang hồ, gặp các cô em cùng cha khác mẹ này. T́nh ư qua lại. Nhưng không ai biết ai, đă có lúc suưt sinh ra cảnh loạn luân. May phát giác kịp thời. Từ đó mối lo ngay ngáy của Đoàn Dự là ngay cả một cô chàng yêu say đắm cũng là em ḿnh.Thư Bạch Phụng biết nỗi đau khổ của con trai. Tới lúc sắp chết, bà mới nói thầm vào tai Đoàn Dự rằng chàng không hề là con của Đoàn Chính Thuần, mà là con của một người khác mà Bà đă ngoại t́nh với, và bảo đối với mấy cô gái kia,  chàng muốn lấy ai cứ lấy, bao nhiêu cũng được, không hề  phạm sự loạn luân. 

 

Để hiểu về cách yêu thương và lo cho con của các bà Mẹ trên đất Việt, xin mời xem những điều được kể từ một số các tác phẩm văn chương của các nhà văn gốc quân đội của miền nam Việt Nam.

 

Tất nhiên, không ai có thể nhớ được khi mới chào đời, mẹ đă cho bú mớm ra sao. Phải 4,5 tuổitrở lên, ta mới bắt đầu ghi nhớ được những sự việc. Trong kho tàng văn chương Miền Nam, đă có biết bao nhiêu bài viết và nhớ đến Mẹ. Người Mẹ c̣n hay mất. Mẹ và gia đ́nh, sống vui vẻ, trong nhà không bao giờ vắng tiếng cười. Hay Mẹ luôn luôn phiền muộn, chỉ lấy tiếng thở dài thay cho lời nói.  Mẹ  trong hoàn cảnh sung túc hay đói khổ, v.v….

 

Không bao giờ có thể liệt kê được hết đề tài hay hoàn cảnh Mẹ được nhớ tới. Và cũng không có giới hạn ǵ về tuổi tác của người viết, trẻ hay già. Ta chỉ biết rằng, tất cả là do cảm súc phát động tự nhiên từ trong ḷng mỗi tác giả.

 

Tôi  mới được đọc cuốn Nửa Đường do tác giả, Thiếu Tá Thuỷ Quân Lục Chiến Tô Văn Cấp viết vào lúc sấp sỉ tuổi 80, gửi tặng.

 

Xin trích một đoạn, kể về một đoạn đời của Ông trước năm 1954.

 

“…Mùa Đông tháng giá, tiết trời khá lạnh ở vùng quê miền Bắc trong căn nhà lá vách phên nên có nhiều khe hở để gió lùa vào. Anh em tôi nằm ổ rơm, đắp chiếu, kín đầu th́ hở đuôi và ngược lại kín chân th́ tḥ đầu, cái lạnh đêm khuya lại thêm cái dạ trống, đúng với câu “bụng đói cật rét” nên giấc ngủ chập chờn. Nửa đêm về sáng, khi gà vừa gáy, tôi thức giấc, thấy ánh lửa từ nhà bếp hắt lên, tôi ḅ dậy và mon men tới gần để sưởi cho ấm th́ thấy bu (mẹ) tôi ngồi nấu cám heo, một tay cầm que, tay kia nắm mớ rơm đẩy vào tiếp cho lửa cháy, bóng mẹ tôi in lên vách, ngả nghiêng theo ánh lửa bập bùng. Đêm khuya, thấy con thức dậy ḅ xuống bếp th́ bà mẹ biết con đang thiếu cái ǵ. Vừa trông thấy tôi, bà vội kéo vạt áo lau nước mắt, rồi nói:

- Đói hả? Ngồi xuống đây sưởi cho ấm rồi bu nướng cho con củ khoai.

 

Bếp nhà quê đun bằng rơm rạ nên có tiếng nổ lép-bép làm bắn ra những tia lửa nhỏ tựa pháo bông, kéo theo tro bụi phủ lên người ngồi nấu. Bu tôi đứng dậy khẽ phủi tro tàn trên khăn tang trắng rồi lấy củ khoai lang ở cái thúng treo sau lưng vùi vào đám tro giữa ba “ông đầu rau”.

 

Có thể nhiều người không biết “khoai nướng vùi bếp tro” là ǵ, mùi vị nó ra sao, ngay cả con cháu nội ngoại của bu tôi hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ cũng không biết. Nhưng với tôi, củ khoai lang vùi bếp tro mà bu tôi “ban” cho tôi không có ǵ so sánh được. Người ta thường dùng chữ “ban” để nói về những “hồng ân” mà Thượng Đế, Chúa, Phật ban cho con chiên, phật tử, nhưng bu tôi đă “ban” cho tôi củ khoai nướng vùi bếp tro giữa đêm đông giá lạnh mà xung quanh bếp chỉ có rơm rạ, tro bụi, bóng tối và t́nh mẹ con.

 

Bà mẹ khều củ khoai trong đám tro ra, ṿ nắm rơm chà lên vỏ ngoài cho sạch chỗ cháy đen rồi đưa cho con:

-Khoai c̣n nóng lắm, con ăn từ từ.

 

Đúng rồi, khoai nướng thơm và ngon ngọt với trẻ em miền quê, nếu em đói mà vội ăn đến nỗi quên cả bóc vỏ th́ sẽ bị nóng phải hả miệng ra, ngửa mặt lên mà thổi “phù-phù”, ăn vụng mà nuốt vội miếng khoai lang dễ bị nghẹn. Bụng đói, cật rét mà hai tay nắm củ khoai nướng nóng th́ thích lắm, nhưng không hiểu sao cái tật tham ăn hằng ngày của tôi biến đi đâu mất, tôi cũng chẳng hiểu chữ “hiếu” là ǵ, nhưng vẫn cứ bẻ củ khoai ra làm hai, đưa bu tôi một nửa mà không nói một lời nào cả. Biết nói ǵ hơn, và dù văn hay chữ tốt th́ trong hoàn cảnh ấy, ngàn vạn lời nói cũng không đủ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu tôi chỉ v́ tôi thấy bu tôi kéo vạt áo lau nước mắt, chỉ v́ trong ánh lửa rơm chập chờn giữa đêm khuya tôi thấy mắt bu tôi đỏ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu tôi v́ tôi biết bu tôi cũng đói nhưng bà nhường miếng ăn cho con như tất cả các bà mẹ khác…”

 

Trong suốt 21 năm cộng sản Bắc Việt t́m cách xâm lăng Miền Nam, những người Mẹ miền Nam trải qua không biết bao nhiêu là những âu lo, chịu đựng không biết bao nhiêu là những mất mát. Bất cứ trong giai đoạn đau thương nào, những bà Mẹ vẫn không quên chăm sóc đến những đứa con đang ra chiến trường. Dù đứa con đó là một Binh sĩ, Hạ sĩ quan hay Sĩ quan. 

 

Một trường hợp điển h́nh là thân mẫu của Trung Tá Thuỷ Quân Lục Chiến Nguyễn Văn Phán.

Tết Mậu thân 1968. ông đang mang cấp bậc Đại Úy, giữ chức vụ Đại Đội Trưởng, được lệnh dẫn quân lên lập một mũi dùi giải tỏa Thành Nội Huế. 

 

Nguyễn Văn Phán vốn sinh trưởng tại Huế, và đang tiến lên đánh đưổi quân Bắc Việt ra khỏi nơi chôn rau cắt rốn của ḿnh.

 

 Ông đă viết lại trong bài Huế, tôi và Mậu Thân:

 

…”Tám giờ sáng, tất cả gọn gàng, sẵn sàng di chuyển… Ba trăm thước đường từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài.. Bồn chồn, nóng ruột v́ nơi đó Mạ tôi, d́ tôi, chị tôi và em trai út củatôi đang trông ngóng. Không biết có bị ǵ không?

 

…Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Đội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping Pong... Những tiếng nói đó đây: “Anh Phán đó tề! Anh Phán! Anh Phán...” Tiếng gọi lớn dần và lan dài suốt con đường tôi đi.

 

Con hẻm sát hồ Tịnh Tâm là đường vào nhà tôi. Mạ tôi đó, d́, chị và em tôi đó. Xao xuyến quá! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, d́ và chị tôi khóc như mưa. Thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt: “Mi chạy mau vô nhà lấy khúc cá kho khô và đ̣n bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi”. Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị thiên đường: “Con xức cho khỏi gió”. Lính đi ngang hỏi nhau: “Mạ Đại úy sao đầu trọc lóc vậy bây?”. “Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi ḿnh cũng được hưởng ké đấy”. Phán và âm thoại viên vẫn c̣n dừng lại: “Nhà ḿnh có răng không Mạ? Bà con thân thuộc có ai bị chi không?”. “Nhà ông Quế chủ quán Chiêu bị trúng hai trái nhưng người th́ không răng. Nhà ḿnh bị ngói đổ một góc, cây đào bị găy ngọn. C̣n thằng Chỉ không biết đi mô”. Chỉ là bạn tôi xuất thân 17 Vơ bị Đà Lạt. Tôi xót xa đắng miệng: “Thôi con đi, Mạ và gia đ́nh đừng lo cho con”. Mạ tôi khóc ̣a, tôi thật năo ḷng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán tiếp tục vang lên cho đến giữa hồ Tịnh Tâm.

 

Tiếng gọi, giọt nước mắt và những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm củatôi. Bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người, tôi và hai âm thoại viên vượt lên đi với Trung Đội đầu. Cuối hồ Tịnh Tâm là đường Tịnh Tâm…”

 

Những người Mẹ có con phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, thường rất hănh diện, nhưng đồng thời luôn luôn có mối lo lớn, canh cánh bên ḷng. Xin mời đọc thêm một đoạn khác cũng trích trong cuốn Nửa Đường của Thiếu Tá Tô Văn Cấp:        

 

“…Nhưng rồi tôi đi biền biệt, từ Bến Hải đến mũi Cà mâu, chẳng có ngày phép để về thăm mẹ già! Đời lính chiến là vậy, c̣n bu tôi th́ hằng ngày vẫn thót tim mỗi khi thấy xe GMC chở quan tài phủ cờ chạy qua cửa. Khi nghe mấy bà hàng xóm kháo nhau rằng áo quan phủ cờ vàng sọc đỏ, là của lính chết trận th́ bu tôi vịn tường ngồi xuống đất đọc kinh tiếp.

 

Rồi một ngày tháng 6 năm 1966, một xe GMC Thủy quân lục chiến chạy vào xóm và từ từ dừng lại, khiến bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống. Nhưng người lính Thủy Quân Lục Chiến t́m nhà bà Châu, bà hàng xóm và cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà là thằng Măo đă tử trận. Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng xỉu theo, v́ Măo và tôi là bạn và cùng t́nh nguyện vào Thủy quân lục chiến. Măo ở Tiểu Đoàn 1, tôi ở Tiểu Đoàn 2. Cả hai vừa đụng trận tại ngă ba sông Định, thuộc Bích La Thôn, Quảng Trị. Nó tử thương, tôi bị đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên tôi đă nói với hậu trạm là đừng báo tin về cho gia đ́nh biết. Khốn thay, hậu trạm rồi hậu cứ Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo tin, nên hai ngày sau lại một xe jeep Thủy Quân Lục Chiến đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh cả của chúng tôi. Người báo tin chưa kịp nói ǵ th́ bu tôi ngă xuống bất tỉnh và không c̣n biết ǵ nữa.

 

 V́ bị thương nhẹ, nên tôi xin xuất viện ngay để đi phép về thăm nhà.

 

Bu tôi đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, thấy tôi về, cụ ngồi bật dậy ngơ ngác nh́n con, hai tay vuốt mặt con, nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao? Bu tôi không nói ǵ mà chỉ khóc. Cụ khóc v́ lo âu, cụ khóc v́ c̣n cầm được tay con vừa từ mặt trận trở về.

 

Những bà mẹ lính chiến, thấy mặt con lúc nào th́ được hạnh phúc lúc đó, c̣n suốt ngày dài lại đêm thâu chỉ toàn là sầu  khổ v́ nghĩ  đến  con ngoài chiến trường.”

 

* * * *                    

 

Bảo vệ và giữ được Tự Do  cho miền Nam trong 21 năm trời, là công của các quân nhân các cấp thuộc mọi Quân, Binh chủng. Toàn miền Nam, ai cũng nhớ ơn họ và chỉ chờ có dịp là bộc lộ tấm ḷng của ḿnh. Những người Mẹ, luôn luôn sẵn sàng giúp những người lính trong lúc sa cơ dù chẳng quen biết ǵ họ trước đó. 

 

Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 9 Thủy Quân Lục Chiến, viết lại trong bài “Phan Rang, niềm hy vọng cuối cùng”:

 

“…Giữa khuya đêm 29/3/75, toàn bộ chúng tôi bị bắt và trở thành tù binh! 

 

Phép lạ nào đưa đẩy tôi đi đến quyết định nhanh chóng phải vượt thoát khỏi trại giam giữ tù binh ở Ḥa Cầm, trốn lẫn vào dân và ra khỏi thành phố Đà Nẵng chỉ trước một ngày, khi bọn quân quản địa phương bắt đầu siết chặt, kiểm soát sự ra vào bằng rất nhiều chốt chặn gồm cả quân chính quy Bắc Việt, du kích và cả bọn nằm vùng.

 

Đường dong ruổi thật dài, thật gian nan vất vả và trắc trở nhưng đồng thời cũng để lại trong tôi nhiều cảm xúc nghẹn ngào, cảm động không thể nào quên, từ những đồng tiền trao vội vă, bọc gạo sấy chia đôi, chai nước mát lạnh đầy t́nh thầy tṛ từ những thuộc cấp cũ tại các tiểu đoàn Trâu Điên và Mănh Hổ dành cho tôi vào lúc hỗn quân, hỗn quan bấy giờ, thật là một an ủi vô cùng đă giúp tôi thêm quyết tâm t́m về phương Nam.

 

Làm sao quên được sự giúp đỡ tận t́nh của một Mẹ già không quen biết trong căn nhà lá ven Quốc Lộ 1 vùng Tam Quan, Qui Nhơn, vào buổi chiều ngày thứ 9 của cuộc vượt thoát. Tôi đột nhiên bị nóng sốt do cảm nắng, cố gắng ghé vào xin ly nước th́ ngă quỵ, vị ân nhân này chẳng những cho tá túc, cho thuốc uống, mà c̣n cho một bữa ăn sáng hôm sau với những con cá ḷng tong xen lẫn những con tép mỏng, được kho chung với dừa khô thái nhỏ và sau cùng là một gói cơm vắt lớn với b́nh đựng nước để tôi tiếp tục lên đường. 

 

Ngày thứ 11 tại Phường Sài, thành phố Nha Trang, tôi được một buổi cơm nóng và tắm rửa sạch sẽ nhờ vào ḷng tốt bụng, thương người của một bà Mẹ có con cũng phục vụ trong Quân Lực VNCH …

 

Rồi tới một đoạn khác, Thiếu Tá Thạnh kể về một người hăng hái t́m cho một chiếc ghe:

 

…Khoảng giữa trưa trước giờ ăn cơm, ba của Hội trở về trong dáng điệu hấp tấp, vội vàng nhưng nét mặt th́ vui tươi. Ông ra dấu cho chúng tôi theo ông vào trong buồng ngủ, rồi nói nhỏ cho chúng tôi biết, ông đă t́m được một người quen có ghe đi biển và đang dự tính đưa gia đ́nh chạy vào Vũng Tầu, ông ta đồng ư cho chúng tôi tháp tùng với giá là 10,000 đồng một người. Ba của Hội hỏi chúng tôi:

-  Các chú có tiền không, nếu không có th́ tôi sẽ chạy lo cho.

 

Có hoạn nạn mới biết ḷng người (dân) có nhân, dọc đường gió bụi, chúng tôi được người dân nhiều lần che chở giúp đỡ, nay đến giai đoạn sống chết th́ lại được ba của Hội giúp đỡ, lời nói: “Nếu không có tiền th́ ông lo cho”, dù giữa ông và chúng tôi chưa bao giờ biết nhau, mà chỉ do con ông (Hội) là đồng đội của chúng tôi, và trong hoàn cảnh này, khó có dịp tái ngộ để đền ơn. Nghĩ lại những lần hành quân trước đây, chúng tôi đă đổ máu, ngă xuống cũng v́ đồng bào, khiến tôi nghĩ ngay đến câu: “T́nh quân dân như cá với nước”, chúng tôi là cá đang mắc cạn, được Ba Hội kéo xuống nước. Tôi cám ơn ḷng tốt của ông và cho ông biết chúng tôi có đủ tiền, để trả cho chuyến đi, sau đó chúng tôi giao cho ông 20,000 đồng.

 Sau khi nhận tiền, ba Hội lại vội vă ra đi, quên cả ăn cơm trưa và trở về trong khoảng một giờ sau đó. Ba của Hội cho biết chuyến đi sẽ bắt đầu lúc 3 giờ chiều, ông và Hội sẽ đưa chúng tôi ra bến băi đậu ghe. Ông khuyên chúng tôi ăn cơm sớm và nghỉ ngơi dưỡng sức cho chuyến đi.

 

Chúng tôi làm sao có thể an tâm nghỉ ngơi được trước canh bạc sau cùng này, một canh bạc “được ăn cả, ngă về không” với bao nhiêu là công sức, với những cực nhọc đổ mồ hôi trên con đường vượt thoát, với những “đối xử ân t́nh” không c̣n cơ hội để đền đáp, với những lo lắng, ưu tư, phiền muộn trải dài 640 cây số trên đường vượt thoát mà chúng tôi đă lần lượt đi qua.

 

Khoảng 2:30 chiều, chúng tôi ngỏ lời cảm ơn và chào từ biệt mẹ và chị em của Hội, sau đó đi theo hướng dẫn của ba Hội, trong khi Hội lănh nhiệm vụ quan sát, đi trước chúng tôi khoảng 50 mét. Sau hơn 20 phút đi bộ, luồn lách qua các con hẻm vắng người, chúng tôi tới địa điểm có tấm bảng nhỏ ghi ḍng chữ: “Bến cá Phường Tấn Thành”.

 

Ba của Hội bảo chúng tôi đi vào quán cà phê nhỏ bên đường uống nước, chờ ông trở lại, trong khi Hội đi ṿng ṿng gần quán để quan sát t́nh h́nh. Sau khi vào trong quán mua cà phê uống để che mắt những người khách, tôi nói nhỏ với Quan:

-  Anh thấy chuyến đi này sẽ thành công, v́ đă có điềm báo trước, với tấm bảng nhỏ có hai chữ “Tấn Thành”.

 

Tôi giải thích nhanh cho Quan hiểu:

-  Tấn là tới, Thành là đạt được hay c̣n nói là thành công, như vậy có ư nghĩa là “đi tới sẽ thành công”.

 

Trung Úy Quan trả lời: 

-  Hy vọng mọi chuyện giống như anh Tư giải đoán.

 

Uống chưa hết ly cà phê th́ đă thấy hai cha con Hội xuất hiện trước cửa quán và kín đáo ra dấu hiệu cho chúng tôi rời quán. Chúng tôi lại lẽo đẽo đi theo, khoảng 300 thước, chúng tôi tới nơi neo đậu của một chiếc thuyền có chiều dài chừng 15 thước với động cơ, dưới ghe đă có sẵn một số người, cùng lúc có một vài phụ nữ cùng trẻ nhỏ đang đi xuống ghe bằng một tấm ván nhỏ bắc từ trên bờ xuống thuyền. Ba của Hội dừng lại, nắm tay tôi và nói nhỏ:

- Thiếu tá xuống thuyền nhanh và chúc Thiếu Tá đi b́nh an.

 

Tôi nghẹn ngào nói lời cám ơn ông cùng gia đ́nh, khi Hội đến bắt tay để từ giă, tôi vội lấy số tiền 5,000 đồng c̣n lại trong túi, nhét vào tay Hội, rồi vội vă đi xuống thuyền, phía sau là Quan với nét mặt buồn buồn hơn là vui.

 

Khi vào trong thuyền, chúng tôi được chủ thuyền hướng dẫn đi thẳng về phía sau gần buồng lái. Ông ta nói để cho phụ nữ và trẻ con ngồi ở ngoài ngụy trang để qua mặt bọn canh gác ở ngoài đầu sông trước khi ra biển. Nghe nói như thế, tôi và Quan trong ḷng không khỏi phập pḥng lo sợ tuy nhiên đă “phóng lao th́ phải theo lao”, “cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. Dù sao th́ trong tay chúng tôi cũng c̣n hai lá bùa với lư lịch chứng nhận giả tạo. 

 

Khoảng 4 giờ chiều thuyền bắt đầu rời bến với tổng số trên 20 người, theo nhận định của chủ thuyền vào giờ này, các bộ đội Bắc Việt canh gác ở cửa sông đổ ra biển rất lơ là trong việc kiểm tra v́ họ đang đợi cơm chiều.

 

Tới ngày thứ 15, về tới  Vũng Tầu. 

 

Sau đó, Ngày thứ 16, ngồi trên xe do sĩ quan chỉ huy hậu cứ mang ra Vũng Tầu đón tôi thoát hiểm trở về… Một t́nh cờ và  hăn hữu lại đến với tôi:

 

Tôi gặp Mẹ tôi đứng ngay bên đường tại Ngă Ba Vũng Tầu…

 

Bà cùng anh tôi chờ đón xe để ra Bộ Tư Lệnh Hành Quân tại Vũng Tầu hỏi thăm thêm tin tức của tôi. Đây là lần thứ hai Mẹ tôi xin nghỉ dạy học, đi từ tỉnh Ba Xuyên để lên Saigon rồi ra Vũng Tầu thăm hỏi tin tức tôi, từ khi Bà hay tin đơn vị tôi bị ghi là mất tích sau ngày 29/3/1975… 

 

Gian nan vất vả con về bến

Bóng nắng bên đường thoáng dáng ai

Tóc trắng lưng c̣ng chân vẹo bước

Dơi mắt đường xa lệ đắng môi…

 

* * * *

 

Thảm họa mất nước xẩy ra vào ngày 30-4-1975. Các Sĩ quan Quân Lực Việt nam Cộng Ḥa đều bị bắt vào trại tập trung.

 

Đại úy Đoàn Văn Tịnh, Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 9 viết trong cuốn “Xưa nay chinh chiến mấy ai về, Tập II”:

 

“… Năm đó 1977, Mẹ từ Nam khăn gói lên đường, một ḿnh t́m về Trung, thăm tôi đang tù đày tại trại 2 Kỳ Sơn Quảng Nam. (Ngày đó trại tù bắt chúng tôi phải gửi thư về liên lạc với gia đ́nh, họ lấy lư do để gia đ́nh yên tâm và đi thăm nuôi, trại tự chuyển thư. Tôi lại không muốn gia đ́nh biết ḿnh đang ở tù nơi đây, mất công, tốn kém đi thăm, có vô số vấn đề khổ nhọc cho gia đ́nh, nhất là đang ở tận trong Nam, nên cứ im lặng với ư định: c̣n sống được th́ về, c̣n chết coi như xong, độc thân cũng dễ thôi. Nhưng trại không bằng ḷng, cuối cùng thư đi, và Mẹ nôn nóng đi thăm, trăm đường xa xôi khổ ải.)

 

 Mẹ ôm tôi và nước mắt chảy dài, tôi lấy tay áo lau nước mắt cho mẹ và an ủi, không sao đâu mẹ ơi, rồi đôi ba năm nữa con cũng sẽ về thôi. Mẹ nói nhỏ bên tai tôi, con cố ǵn giữ sức khỏe, mẹ và các em bao giờ cũng thương yêu và lo cho con, cố giữ ǵn sức khỏe. Ngày đó tóc mẹ c̣n đen, chỉ có ít tóc trắng, c̣n tôi tóc đă bạc gần phần ba đầu.”

 

Ngày 6/6/1983, Đại Úy Tịnh được thả khỏi trại tù Thượng Đức, Quảng Nam.  Ông cùng mấy người nữa lơng thơng đi bộ về thành phố. Xin nghe Ông kể:

 

“…Chúng tôi đă bước vào địa phận của thành phố Đà Nẵng và bây giờ đang trên đại lộ Hoàng Diệu đông người, kẻ qua người lại, họ vui vẻ, ṭ ṃ nh́n chúng tôi và nói nhỏ với nhau: Họ là những người ở trại tù nào đó được phóng thích về. Có nhiều người muốn hỏi chuyện chúng tôi nhưng chắc họ e ngại. Họ cẩn thận cho chúng tôi tiền để làm phương tiện về quê nhà, chúng tôi vô cùng xúc động chỉ xin cảm ơn và cảm thông tâm trạng họ, những người c̣n thương yêu những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Người con gái từ trong ngưỡng cửa của một căn phố trên đường Hoàng Diệu vội vă bước ra, nhỏ nhẹ xin lỗi mọi người và hỏi một người bạn của chúng tôi là anh Nguyễn Đ́nh Thái. Anh người Huế nhưng sinh sống và làm việc ở tiểu khu Quảng Trị, tính t́nh vui vẻ.

 

- Xin lỗi có phải các anh vừa mới được ra tù.

- Dạ phải.

 

Chị nói thực nhỏ:

- Xin lỗi, cho em hỏi: các anh có ai thuộc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến không? Có, Thái chỉ vào tôi.

- Nếu các anh không phải bận rộn, gia đ́nh em hân hạnh mời các anh vào nghỉ chân một lúc có được không?

 

Thái nh́n bạn bè hỏi ư kiến. Anh Phù Chí Phụng và Nguyễn Văn Lợi nhanh nhẩu:

- Các bạn có đồng ư không?  

 

Chúng tôi thấy cũng chẳng có chi phải vội vàng hấp tấp, đều gật đầu đồng ư... 

Bước vào căn nhà, tôi kín đáo nh́n quanh, đây là một căn nhà kiến trúc theo lối cổ, nghiêm trang, b́nh thường. Cô dẫn chúng tôi vào nhà giữa, nơi đây có bộ bàn trường kỷ, nhiều ghế và mới ngồi, vui vẻ nói, các anh chờ em một tí nhé. Chừng vài phút cô hướng dẫn một bà cụ và vài người chị trong gia đ́nh đến chào hỏi chúng tôi. Bà cụ cười nói:

- Hân hạnh  chào và chúc mừng các anh đă  qua được những ngày tháng lao đao, hôm nay được trở về với gia đ́nh và chúng tôi cũng hân hạnh mời các anh ở lại dùng cơm với gia đ́nh chúng tôi, nghỉ ngơi rồi sáng mai đi có được không? Đồng ư nghe. 

 

Chúng tôi lúng túng trả lời câu hỏi của cụ:

- Thưa cụ cho chúng cháu cám ơn thôi. 

 

Cụ xúc động nói:

-  Thú thực với các anh, gia đ́nh chúng tôi muốn được mời các anh dùng một bữa cơm với tấm ḷng, ngoài ra cũng có câu chuyện cần hỏi thăm các anh, mong các anh nhận lời. Tôi thưa với cụ, anh em bọn cháu sẽ ở lại dùng cơm với cụ, nhưng xin phép cụ và gia đ́nh, sau khi dùng cơm xong, chúng cháu xin tự giă. 

 

Cụ yên tâm, thôi vậy cũng được, cầu mong chúng ta sẽ lại c̣n gặp nhau. Cụ bảo cô con gái pha trà mới khách.Thú thực, chúng tôi ai cũng cảm thấy yên tâm và thoải mái qua từng lời nói, cử chỉ của mọi người trong gia đ́nh này, dẫu rằng họ chưa hề quen biết với chúng tôi bao giờ. 

 

Cụ nh́n từng người một và nét mặt thoải mái như được đón người thân trở về sau những tháng năm dài tù tội. Các cháu có ai cần thuốc men ǵ không, cụ lần lượt hỏi qua những người bạn của chúng tôi một cách cảm thông, dễ mến. Sau cùng cụ hỏi nhỏ.

-  Xin lỗi, ai là người lính Thủy Quân Lục Chiến? Chúng tôi nh́n nhau, một chút trao đổi nhưng không ngần ngại, tôi nói nhỏ.

-  Cháu là Thủy Quân Lục Chiến

 

Cụ vui vẻ.

- Giữa các anh em, bác có thể nói chuyện với cháu có ǵ bất tiện không?

- Dạ, bác cứ nói.

- Vâng, bác cám ơn. 

 

Trên dáng mặt buồn bă như không c̣n niềm vui cụ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về một người lính.

- Trong gia đ́nh bác cũng có người con trai đi lính Thủy Quân Lục Chiến. Nghe như là anh ấy ở Lữ đoàn 369/Thủy Quân Lục Chiến sau khi không c̣n chức vụ chỉ huy một đơn vị. - (Tuy rằng cụ đă lớn tuổi nhưng riêng trong suy nghĩ của tôi cụ thực vô cùng tinh tế, ư nhị khi nói chuyện về người con của ḿnh). Trước ngày 30/3/1975, vào khoảng ngày 17, 18 tháng 3 năm 1975, bác biết Tùng đă theo Lữ đoàn chuyển quân về Đà Nẵng, nhưng Tùng cho biết, anh vô cùng bận rộn không thể ghé thăm gia đ́nh được. Hồi đó thành phố Đà Nẵng như đang sống trong cơn sốt kinh hoàng, trên đường phố đông người, chạy ngược chạy xuôi hớt hơ hớt hải. Cứ như thế, liên tục không làm ăn mua bán mà chỉ t́m đường về trong Nam. Cho đến chiều 29/3 năm 1975 súng đạn nổ ran, ầm ́ liên tục từ hướng phi trường Non Nước dội về. Người ta cho gia đ́nh bác biết chiến trận lớn đang diễn ra giữa Thủy Quân Lục Chiến và Việt cộng. Cả gia đ́nh như đang ngồi trên đống lửa, đang lo sợ nhiêu thứ: sợ cho Tùng, sợ cho Thủy Quân Lục Chiến, sợ chiến trận xảy ra lớn quá nguy hiểm cho thành phố, đến không ai nhớ phải ẩn núp vào những nơi đă chuẩn bị trong nhà. Suốt đêm đó hoả châu được thắp sáng trên trời mé bên phía An Hải. Qua đêm kinh hoàng đó, sáng hôm sau bọn nhỏ trong nhà quyết định đi tới nơi vừa xảy ra chiến trận hôm qua để t́m Tùng. 

 

(Đang kể, tự dưng bác im lặng một lúc thật lâu và thở dài)

 

… nơi đó không có Tùng, không có con của bác cho đến nay. Có lẽ Tùng đă không c̣n sống.. Và ḍng nước mắt nóng đổ dài trên má người mẹ với hơi thở yếu ớt uất nghẹn …

 

Trong căn pḥng trở nên nặng nề,chỉ c̣n tiếng khóc nho nhỏ của người con gái..

Cháu ơi! cháu là Thủy Quân Lục Chiến, cháu có biết Tùng ở đâu không? Tùng có c̣n sống không?

 

Tôi cúi đầu thực lâu để dằn xuống sự xúc động và chua xót nghĩ về những người lính trận đă hy sinh, hy sinh từ gia đ́nh đến sinh mạng và hy sinh đến cả bốn phận đối với người thân, người yêu. Nhưng khi ra đi lại không nói được một lời, dù chỉ một lời từ giă, để tạ tội vớinhững người thân yêu trong gia đ́nh. Tôi ngẩng lên nh́n cụ, tôi nh́n thực kỹ những đường nét quá đau thương đang c̣n vết hằn sâu trên đó, dù ngày tháng gần chín, mười năm qua đă cố phôi phai.

 

- Thưa bác, anh Tùng con của bác cấp bậc ǵ?

- Anh ấy là Trung tá

- Thưa bác, có phải là Trung Tá Đỗ Hữu Tùng không?

- Đúng rồi, là Trung Tá Đỗ Hữu Tùng.

  …

Một người Mẹ có con hy sinh v́ tổ quốc luôn luôn hănh diện. Nhưng niềm hănh diện này cũng không thể lớn hơn nỗi đau đớn tột cùng khi gia đ́nh đưa quan tài con tới nghĩa trang.

 

C̣n người Mẹ có con ra chiến trường, rồi sau đó không được tin tức ǵ của con ḿnh nữa, th́ chịu một nỗi thống khổ không dứt! Một là đă chết. Nhưng chết, th́ sao không t́m thấy xác?

 

Hai là mất tích. Mất tích th́ chỉ c̣n hai cách giải thích. Hoặc là bị trúng bom đạn quá mạnh đến nỗi thân thể nát nhừ, biến thanh tro than trong chớp mắt, không c̣n chút dấu vết. Hoặc là đă bị bọn xâm lăng Bắc Việt bắt, và đang bị hành hạ trong một trại tập trung nào đó vô hạn định.

 

Câu hỏi không trả lời được này, khiến người Mẹ ban ngày kiệt lực v́ âu lo, ban đêm hoảng hốt sau ác mộng.

 

Thân mẫu của Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Đỗ Hữu Tùng triền miên chịu đựng. 

 

Gia đ́nh Bà, nếu ngẫu nhiên thấy một hay vài người thân tàn ma dại vừa được thả ra khỏi tù, th́ bao giờ cũng xin hỏi, có ai là Thủy Quân Lục Chiến không?-  Để hỏi thăm.

 

Hy vọng của họ kéo dài hàng chục năm, rồi hai chục năm, và cuối cùng trở thành vô vọng.

                                                                …..   

  

Trên đây là tiêu biểu những Tấm ḷng người Mẹ đối với con. Một câu hỏi  được đặt ra: Thế c̣n Bố th́ sao?

 

Đàn ông yêu thương con, một cách khác.

 

Dù trong ḷng có lo lắng, xót sa đến đâu đi chăng nữa, họ cũng  vẫn muốn con ḿnh, tự quyết định cách để xây dựng bản thân, tạo lập danh  tiếng, hay bảo vệ được danh dự.

 

Nghĩ đến danh dự của con, cũng như lo cho sinh mạng của con vậy.

 

Đức Phật, trước khi đi tu, là Thái Tử, tên là Tất Đạt Đa. Có vợ và có con.

 

Sau khi đắc đạo Đức Phật nói rằng, con người phải tự ḿnh tu để giải thoát cho ḿnh. Ngay đối với con trai là La Hầu La, Phật cũng bảo, phải tự quyết định lấy. Phật không độ cho La Hầu La.

 

Phần  dưới đây, trích trong bài Bố tôi, do Nhiếp Ảnh gia Vũ Ngọc Hiến ở  Gia Nă Đại viết, sẽ giúp độc giả hiểu được cách yêu con của các ông bố. 

  

 

“Bố tôi tên là Vũ Đ́nh Kỳ. Trước năm 1954, ông làm công chức trên Chapa, người đồng thời gọi ông là Ông Thừa Kỳ, sau đó ông chuyển về làm ở tỉnh Hưng Yên….Hiệp định Geneve được kư kết, Bố mẹ tôi đă mang 7 anh chị chúng tôi xuống tàu há mồm đi vào Nam t́m tự do.

 

Vào Nam, bố tôi tiếp tục con đường công chức, ông làm việc tại Pḥng Nhân Viên, thuộc Bộ Nội Vụ cho đến lúc về hưu.

 

Trong suốt hơn 45 năm làm việc, ngày về hưu, ông nhận được một phần thưởng tinh thần quư giá đó là Huy chương Hành Chánh Bội Tinh cao cấp, huy chương này là bằng khen cho những công chức trung cấp, trong suốt quăng đời làm việc rất gương mẫu, rất tận tâm ….

 

Thời gian qua nhanh, khi c̣n ở Saigon, tôi ít có dịp gần gũi với Bố Mẹ, nhưng tôi biết, tôi rất được cả hai thương yêu, tuy sự biểu lộ có khác nhau 

 

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, v́ thương con, Mẹ tôi đă cho người lên đơn vị nói dối với tôi là bà đau nặng, phải về gấp….Trong thời điểm đó, tôi không thể nào bỏ đơn vị mà đi. Tôi đang là Thiếu úy, Phân Chi Khu Phó, thuộc Quận Phú Ḥa,Tỉnh B́nh Dương. Trung Uư Đức, Phân Chi Khu Trưởng, khuyên tôi nên về thăm bà rồi trở về đơn vị cùng anh em. Tôi không đồng ư, nhưng Trung uư Đức cứ nằng nặc khuyên, nên tôi đồng ư về và hứa là sẽ quay trở lại, không bỏ anh em…

 

Về đến nhà, quả như tôi dự tính, bà không đau ốm ǵ cả, Bà lại gạt tôi lần thứ 2, lần đầu, trước đó hơn 1 tuần, bác Chánh, bạn của mẹ tôi, có người con trai lớn ở trong Hải Quân, anh ta dự tính “đào ngũ”, nên bác Chánh hỏi mẹ tôi có muốn cho tôi đi không?. Mẹ đă cho người lên gặp tôi và kêu tôi về, và tôi đă từ chối không tham gia cuộc “đào ngũ” này…

 

Mặc dầu biết Mẹ gạt, nhưng tôi không giận mà c̣n lại thương bà vô cùng, h́nh ảnh bà đội nón lá đi xe ôm lên Phú Hoà Đông, nơi đóng quân thăm tôi, và mang nhang đèn, hoa trái lên cúng vái Thần Đ́nh xă Tân Thạnh Đông lúc tôi về đó giữ chức vụ Phân Chi Khu Phó hiện ra rơ mồn một…

 

 Tắm rửa, ăn cơm với gia đ́nh, ngủ lại một đêm… Sáng sớm 29, t́nh trạng Thiết quân luật được ban hành.. Đeo ba lô lên vai, sau khi kiểm soát lại khẩu Colt 45 đă lên đạn, tôi nói lời từ giă Bố Mẹ để trở về đơn vị. Mẹ đang ngồi têm trầu, c̣n Bố th́ hút thuốc lào. Lời từ giă của tôi khiến bà bật oà lên khóc và nói với bố bằng giọng hốt hoảng: “Ông, sao ông nỡ để con đi vào cơi chết….” rồi bà khóc oà lên.

Ngược lại. Trong lúc đó, Bố rất trầm tĩnh nói với tôi: “Bố không có ǵ để nói với con cả. Đây là giây phút của con quyết định. Sự quyết định này sẽ làm cho con sau này con có thể ngước mắt nh́n anh em, binh lính của ḿnh mà con không hổ thẹn….” Lời ông nói như một nguồn năng lượng làm bừng nóng chạy dài theo suốt cột xương sống.

 

Tôi cắm đầu bước nhanh ra khỏi cửa, không đủ cam đảm quay lại nh́n Mẹ tôi.

Hôm nay viết vài hàng về Bố. Bố ơi, nơi suối vàng, chắc Bố cũng nở nụ cười măn nguyện v́ con của bố lúc nào cũng:

 

“Ngước thẳng vào đời không hổ thẹn

Hiếu Trung trọn vẹn với lương tâm. 

 Con của Bố Mẹ: Vũ Ngọc Hiến”

 

* * * * *

 

Ôi! Bố Mẹ yêu con mênh mông vô hạn. Đúng như đă được diễn tả trong ca dao.

Bằng trời, bằng bể.

 

 

Bảo Anh 

05/2022

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính