LTS: Một thân hữu gửi cho Hồn VIệt UK online bài giảng của Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh nhân Thánh lễ cầu nguyện cho Công Lư và Ḥa B́nh ngày 31/12 / 2012 vừa qua tại nhà Thờ Ḍng Chúa Cứu Thế, Sài g̣n.

 

Là một Lm. trong nước, với truyền thông bưng bít và một chiều của chế độ cai trị gian ác của đảng Cộng sản VN, Lm. Nguyễn Ngọc Tỉnh đă nói lên t́nh h́nh nước nhà hiện tại cùng gương trung liệt hy sinh của tiền nhân trong các giai đoạn lịch sử đấu tranh để dựng và giữ nước, đồng thời mời gọi mọi tín hữu nh́n lại bổn phận của chính ḿnh, trách nhiệm của con dân đối với Tổ Quốc Việt Nam trước t́nh trạng suy đồi của xă hội, và thảm cảnh lệ thuộc giặc Tàu không xa do đảng Cộng sản VN gây ra.

 

Tuy nhiên, với hệ thống bưng bít tin tức và truyền thông một chiều "lề phải" nêu trên, Lm. Nguyễn Ngọc Tỉnh đă không tránh khỏi khi dùng một vài hiện tượng c̣ mồi do chính đảng CSVN cùng các băng đảng tay sai của chúng diễn ra.

 

Để rộng đường dư luận, kính mời quư độc giả cùng theo dơi và cùng chung tay góp sức cho một Việt Nam tự do, độc lập, tự quyết, cường thịnh không Cộng sản trong tương lai.

 

 

Bài Giảng Của Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh

 


 

 

 

 

Hôm nay, Chúa nhật sau lễ Giáng Sinh, Hội Thánh mừng lễ Thánh Gia, mừng Con Thiên Chúa làm người, sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh, gia đ́nh Đức Mẹ Ma-ri-a và Thánh Giu-se.

 

Bài Tin Mừng ngày 1 tháng Giêng ghi lại biến cố xảy ra 8 ngày sau lễ Giáng Sinh, đó là việc Hài Nhi chịu phép cắt b́ theo đúng luật Mô-sê để đích thực trở thành một con dân Ít-ra-en, mang tên Giê-su.

 

C̣n bài Tin Mừng hôm nay th́ ghi lại một biến cố xảy ra khi Đức Giê-su lên 12 tuổi, cùng với cha mẹ trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Sau đó gia đ́nh trở về Na-da-rét là nơi Đức Giê-su sinh sống cho đến lúc ra hành đạo. Sau này khi nói về Đức Giê-su người ta thường thêm “người Na-da-rét”, hẳn là để phân biệt với những người khác cùng tên.

 

Mừng lễ Thánh Gia, chúng ta suy gẫm về mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến chia sẻ phận người với chúng ta khi chấp nhận sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh, từ đó ta mới t́m hiểu xem hôm nay đến lượt chúng ta, chúng ta phải sống thế nào cho xứng danh Ki-tô hữu.

 

Gia đ́nh nhỏ bé của mỗi chúng ta không thể tồn tại nếu không có những đơn vị lớn hơn chở che bao bọc, đó là khu phố hay thôn làng, là quận huyện, cuối cùng là quốc gia gồm những con người, cùng ṇi giống, cùng ngôn ngữ, cùng truyền thống, sống với nhau trên một lănh thổ. Quốc gia là một gia đ́nh, dân tộc là một gia đ́nh.

 

V́ đây là thánh lễ cầu nguyện cho Công Lư và Hoà B́nh nên tôi xin phép làm một chuyện ngoại lệ, đó là vượt ra khỏi cái gia đ́nh nhỏ bé của mỗi chúng ta để nói đến một gia đ́nh rộng lớn hơn, đó là quê hương, là đất nước, là tổ quốc, là dân tộc.

 

 

Bắt đầu từ những chuyện xa

 

Trước khi trực tiếp đề cập đến “chuyện nhà”, chuyện đất nước, chuyện dân tộc chúng ta, ta hăy bắt đầu từ mấy câu “chuyện người ta”.

 

Chẳng hạn nếu theo dơi tin tức thế giới trong thời gian qua, ta thấy nước Anh là một nước dân chủ, tự do, thế nhưng khi mừng nữ hoàng Ê-li-sa-bét được 60 năm trị v́, mọi người đều tích cực tham gia, ta thấy người dân Anh không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, chính kiến, ở bất cứ vị trí nào trong xă hội, tất cả đều một ḷng quư mến nữ hoàng, v́ nữ hoàng là biểu tượng của quốc gia, của dân tộc. Một ví dụ khác : Trong suốt thời gian tranh cử tổng thống tại Pháp, rồi tại Mỹ vừa qua, các đảng phái không tiếc lời chỉ trích nhau, có khi thậm tệ, nhưng khi kết quả ngă ngũ rồi th́ mọi người chấp nhận. Một đảng viên cộng hoà tại Mỹ khi được hỏi th́ nói : “Tôi đâu có bàu cho ông Obama, nhưng nay th́ ông ấy là tổng thống của chúng tôi”. Là v́ cuối cùng th́ quyền lợi đảng phái phải nhường chỗ cho quyền lợi thiêng liêng, quyền lợi tối thượng của quốc gia, của dân tộc.

 

Xin thêm một ví dụ nữa không xa chúng ta, đó là Miến Điện (cũng gọi là Myanmar). Từ nửa thế kỷ nay, chế độ cai trị tại Miến Điện là chế độ độc tài quân phiệt. Nhưng cái phúc lớn của Miến Điện là đă không theo chế độ cộng sản. Khi những người cai trị Miến Điện thức tỉnh và khám phá ra cho dù ḿnh nắm quyền sinh sát trong tay, nhưng giữa thời toàn cầu hoá mà đất nước bị cô lập, ngày càng tụt hậu, càng nghèo đói, dân t́nh bất măn, khổ sở v́ một chế độ hà khắc, nghiệt ngă, th́ họ đă mạnh dạn thay đổi. Và động thái đầu tiên của họ là không tiếp tục xây con đập Myitsone khổng lồ trước đó đă kư hợp đồng với Trung Cộng. Động thái này vừa giúp họ bảo vệ môi trường thiên nhiên, tôn trọng nhiều ngàn dân sống trong vùng ảnh hưởng, vừa giúp họ dần dần thoát ra khỏi nanh vuốt của anh hàng xóm khổng lồ Trung Cộng. Tiếp theo sau là việc chấp nhận đối thoại với các đảng phái đối lập mà nhân vật hàng đầu là một người đă được giải Nobel hoà b́nh, bà Aung San Suu Kyi. Dĩ nhiên là sau nhiều thập niên tŕ trệ, nay để nhân dân được hạnh phúc, đất nước có điều kiện phát triển, Miến Điện c̣n nhiều việc phải làm. Nhưng những cánh cửa đang từ tử mở ra. Và các nước dân chủ như Mỹ, Nhật, và nhiều nước trong cộng đồng Châu Âu đă chụp ngay lấy cơ hội để giúp Miến Điện hoà nhập vào cộng đồng thế giới tự do. Được vậy là nhờ lănh đạo Miến Điện đă biết đặt quyền lợi quốc gia, quyền lợi dân tộc trên tất cả.

 

 

Nay đến chuyện nhà

  

Sau khi nói mấy “chuyện người ta”, bây giờ ta hăy nói “chuyện nhà”, chuyện Việt Nam.

 

Là người Việt Nam, chúng ta cùng chung một quê hương, một tiếng nói, một lịch sử, một nền văn hoá. Tất cả những giá trị đó liên kết chúng ta lại với nhau bằng một sợi dây thiêng liêng vô h́nh mang nhiều tên khác nhau như t́nh đồng bào, ḷng yêu nước, yêu quê hương, yêu tổ quốc. T́nh cảm này là điều hết sức tự nhiên, chúng ta mang trong tim từ khi lọt ḷng mẹ như ta có thể thấy trong một bài hát của Phạm Duy :

 

Việt Nam ! Việt Nam nghe tự vào đời,

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi…

Việt Nam ! Việt Nam tên gọi là người,

Việt Nam hai tiếng nói sau cùng khi ĺa đời…

 

Một khi đă trưởng thành, ta hiểu ra rằng yêu nước, giữ nước, là một bổn phận. Thế kỷ 11 tướng Lư Thường Kiệt đă để lại áng văn bất hủ là bài hịch chúng ta học thuộc ḷng hồi c̣n nhỏ, bài đó mở đầu với câu “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư”… để khẳng định chủ quyền trên lănh thổ : đất nước Nam th́ vua Nam ở. Đến thế kỷ 13 th́ vua Trần Nhân Tông ra lệnh cho thần dân : “Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. V́ rằng họ cho ḿnh cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, th́ gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn : ‘Một tấc đất của Tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác’. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”

 

Giá hôm nay, trong vụ tranh chấp ở Biển Đông chẳng hạn, lănh đạo chúng ta thay v́ cứ ngâm nga bài ca “bốn tốt” và mân mê mười sáu cái chữ vàng mà khỏi cần biết đó là vàng thật hay vàng giả, giá mà lănh đạo chúng ta có được ḷng yêu nước, có được khí phách của Trần Nhân Tông hay Lư Thường Kiệt, biết đặt quyền lợi dân tộc trên tất cả, liên kết với các quốc gia lân bang đồng cảnh ngộ, và trên hết mọi sự, dựa vào sức mạnh của nhân dân, th́ ta không có ǵ phải sợ.

 

 

Nỗi ḷng những người yêu nước

 

Và v́ chẳng có chính quyền nào thay thế được nhân dân, nên trách nhiệm của mỗi người dân là phải bảo toàn và phát huy cái di sản chúng ta thừa hưởng được của tổ tiên. Di sản đó là ǵ ?

 

Trước hết về mặt địa lư, đó là một lănh thổ, một dải đất, dải đất h́nh chữ S như người ta thường nói, chỉ trong thế kỷ trước đă trải qua 30 năm chiến tranh khiến linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng đă phải thốt lên :

 

Đất nước tôi là một cỗ quan tài vĩ đại

Dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau

(trong “Kinh sầu trên Quê Hương”)

 

C̣n Trịnh Công Sơn nh́n lại lịch sử th́ ngậm ngùi :

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu,

Một trăm năm đô hộ giặc Tây

Hai mươi năm nội chiến từng ngày

Gia tài của mẹ để lại cho con

Gia tài của mẹ là nước Việt buồn.

 

Một thi sĩ khác là Trần Trung Đạo từ một chân trời tự do, nh́n về th́ thấy :

Dải đất Việt Nam

Nằm co ro như một kẻ ăn mày

Đang thoi thóp cuộc đời trên góc phố,

Như giọt lệ chảy dài nhưng chưa nhỏ,

Như chiếc lưng kḥm Mẹ gánh cả trời thương.

(trích “Thưa Mẹ, chúng con đi”)

 

Người ta có những ư kiến, những tâm trạng khác nhau, từ những góc nh́n, những hoàn cảnh, những thời điểm khác nhau, nhưng ḷng yêu nước đ̣i người dân phải chấp nhận hy sinh để bảo toàn lănh thổ, hy sinh cả tính mạng v́ tổ quốc nếu cần. Hồi c̣n học trung học, có một bài thơ đă gây cho tôi nhiều cảm xúc, đó là bài “Đêm liên hoan” của Hoàng Cầm, viết tháng 10 năm 1947, thời chiến tranh chống Pháp để giành lại độc lập. Tôi xin trích mấy câu sau đây, ghi lại mẩu đối thoại giữa hai người lính trẻ :

 

“- Anh từ đâu tới đó ?

- Tôi đi giết giặc Tây

Hôm nay gặp bạn ta cùng hẹn

Lấy máu thù kia rửa nhục này.

- Gia đ́nh anh ở đâu ?

- Mẹ hiền tôi đă khuất

Nhưng trước khi nhắm mắt

Mẹ mừng cho đàn sau

Máu tôi mai sẽ chảy

Trôi phăng kiếp ngựa trâu.

Xương tôi tôi bắc nhịp cầu

Cho đàn em bước lên lầu Tự Do.

- Trong tiểu đội của anh,

Những ai c̣n ai mất ?

- Không, không ai c̣n, ai mất

Ai cũng chết mà thôi !

Người sau kẻ trước lao vào giặc

Giữ vững ngh́n thu một giống ṇi.

Dù ta thịt nát xương phơi

Cái c̣n vĩnh viễn là người Việt Nam…”

 

Qua mấy câu thơ này ta thấy được t́nh yêu quê hương mănh liệt, thấy được chí can trường của người chiến sĩ sẵn sàng bỏ ḿnh v́ tổ quốc. Đó là thời “một trăm năm đô hộ giặc Tây.”

 

 

Khóc cho tổ quốc hôm nay

 

C̣n hôm nay trước những hành động xâm lăng, trước thái độ ngang ngược, hung hăn của giặc Tàu th́ Việt Khang nghẹn ngào :

 

“Giờ đây, Việt Nam c̣n hay đă mất

Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta

Hoàng Trường Sa đă bao người dân vô tội

Chết ngậm ngùi v́ tay súng giặc Tàu…”

 

Cùng một hoàn cảnh, một tâm trạng như Việt Khang, từ Hải Pḥng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đă không kềm giữ nổi ḷng uất hận :

 

Tổ quốc tôi như miếng da lừa

Một lần ước, mất đi một góc.

Ước phồn vinh: rừng mất cây, biển mất cá

Ước vẹn toàn: mất hải đảo, mất Cao Nguyên.

Tôi đứng ôn ḥa, biểu ngữ chống Bắc Kinh

Người đến đầu tiên là cảnh sát

Họ nh́n tôi như nh́n loài chó ghẻ

Tôi ngă rồi họ dựng chúng tôi lên

Những nắm đấm thôi miên vào mặt.

Họ là người Việt Nam như tôi

Ở chung với tôi trên mảnh đất cỗi cằn sỏi đá

Ở chung với tôi trên mảnh đất ngàn năm vật vă

Lo sinh nhai, lo giữ chốn sinh tồn.

Tôi nằm lăn ra đất

Nước mắt nuốt vào ḷng

Lịch sử 4 ngàn năm triều đại nào như thế ?

 

C̣n Trần Mạnh Hảo th́ phẫn uất đến độ dám gọi vong hồn các anh hùng dân tộc lên để đặt câu hỏi :

 

Có nơi đâu trên thế giới này

Như Việt Nam hôm nay

Yêu nước là tội ác

Biểu t́nh chống ngoại xâm bị Nhà Nước bắt ?

Các anh hùng dân tộc ơi !

Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ơi !

Nếu sống lại, các ngài sẽ bị bắt !

Ai cho phép các ngài đánh giặc phương Bắc ?

 

Sau những cuộc xuống đường chống Trung Cộng xâm lược, mới đây nhất nhà thơ Đỗ Trung Quân như muốn dùng lưỡi dao của bác sĩ để mổ xẻ một khối u khi phân tích nỗi đau của những người công dân yêu nước đi biểu t́nh bị lực lượng cảnh sát đối xử vô cùng thô bạo. Ông đă diễn giải như sau :

 

Các anh bẻ quặt tay tôi

Dẫu ǵ cũng không đau lắm.

Các anh thúc cùi chỏ vào hàm tôi

Thú thật, cũng không đau lắm.

Các anh đạp vào mặt tôi, dẫu ǵ

Cũng không ê ẩm lắm.

Các anh dúi chúng tôi vào xe,

Thú thật cũng chỉ ngồi chật một tí.

Các anh kẹp cổ, lên gối tôi

Dẫu ǵ cũng chỉ bầm dập chút.

Cái chúng tôi đau, rất đau…

Cái chúng tôi bầm dập,

Cái chúng tôi ê ẩm chính là

Các anh thay mặt kẻ cướp nước

Bọn cướp biển

Bẻ tay, đánh đập, bắt bớ, đàn áp

 

CHÍNH-ĐỒNG-BÀO-M̀NH.

 

Quê hương như là một huyền nhiệm khiến nhà thơ Đỗ Trung Quân đặt vào miệng em bé câu hỏi thơ ngây :

Quê hương là ǵ hở mẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

 

C̣n Trần Trung Đạo th́ từ xa hướng về quê mẹ mà khắc khoải :

Chúng con đă bao lần suy niệm

Bốn ngàn năm lịch sử của ông cha :

Thuở Hùng Vương đi chân đất dựng sơn hà

Bao nhiêu máu đă âm thầm đổ xuống !

Khi Trưng Trắc trầm ḿnh trên sông Hát

Chỉ mong giữ tṛn trinh tiết với giang san.

Trần B́nh Trọng chịu bêu đầu để làm quỉ nước Nam

Cũng chỉ v́ tấm ḷng tha thiết.

Mẹ ơi, trăng c̣n có khi tṛn, khi khuyết

Nhưng t́nh yêu quê hương chẳng khuyết bao giờ.

(trích : “Thưa Mẹ, chúng con đi.”)

 

Sở dĩ tôi trích khá nhiều các nhạc sĩ, thi sĩ v́ nếu nói đến ḷng yêu nước, yêu quê hương, có thể người dân thường như chúng ta không thua kém ǵ họ. Nhưng họ khác ta, hơn ta ở độ nhạy bén của cảm xúc cũng như ở khả năng dùng giai điệu hay h́nh ảnh, màu sắc để diễn tả tâm t́nh và ư tưởng của ḿnh theo phong cách nghệ thuật, và nhờ đó dễ gây xúc động nơi người đọc, người nghe. Hy vọng những tâm t́nh của các văn nhân nghệ sĩ tôi vừa nêu tạm đủ để khơi gợi nơi mỗi chúng ta t́nh yêu quê hương, yêu tổ quốc, nhất là trong hoàn cảnh dầu soi lửa bỏng hôm nay.

 

 

Những người đang trả giá

 

Chúng ta hẳn biết chuyện bạn trẻ Nguyễn Chí Đức đi biểu t́nh chống Trung Cộng xâm lăng th́ bị đạp vào mặt, một số người khác kẻ bị đánh tàn nhẫn, người bị nhốt vào tù khiến Trần Mạnh Hảo đă phải thốt lên :

 

Tôi yêu tổ quốc tôi mà tôi bị bắt !

Tổ quốc ! Yêu Người phải lấy máu mà yêu.

 

Đúng vậy, bất chấp mọi phiền toái, mọi hiểm nguy đă có 11 cuộc biểu t́nh diễn ra trong năm 2011, gần đây là vào tháng 07 và tháng 08. Gần hơn nữa là ngày Chúa nhật 9 tháng 12 này. Trong những năm qua, những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, cho toàn vẹn lănh thổ của Tổ Quốc đă lần lượt vào tù như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh, Nguyễn Khắc Toàn… Sau đó th́ đến Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Hồ Thị Bích Khương, Tạ Phong Tần, Phạm Thanh Nghiên, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… Điều đáng ngạc nhiên và đáng mừng là sau đó có một thế hệ trẻ hơn đă xuất hiện, đó là những Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Thị Minh Hạnh, Việt Khang, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hoàng Vy, Trịnh Kim Tiến, 15 bạn sinh viên Công Giáo gốc Vinh… và mới đây nhất là cô bé Phương Uyên, cũng là một sinh viên vừa tṛn 20 tuổi. Những người đang tuổi trung niên chấp nhận hy sinh sự nghiệp, hy sinh hạnh phúc gia đ́nh, những bạn trẻ đang tràn trề sức sống, hy sinh tương lai, hy sinh tất cả để tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nền độc lập quốc gia, cho toàn vẹn lănh thổ, đó chính là niềm hy vọng của dân tộc, của tổ quốc trong hoàn cảnh bi đát hôm nay.

 

 

Hai khuôn mặt yêu nước trong hàng giám mục

 

Sau khi đưa ra một số gương mặt yêu nước, đặc biệt trong giới văn nhân nghệ sĩ, tôi thấy trong hàng giám mục Việt Nam có hai khuôn mặt đáng chúng ta nể phục và noi gương về ḷng yêu nước trong thời đại chúng ta hoặc chưa xa xôi ǵ cho lắm. Cả hai không có tên trong số những vị đă kư vào thư chung năm 1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mà tiêu chí có thể tóm gọn trong mấy chữ “Đồng hành với dân tộc” để rồi cuối cùng cũng chỉ dừng lại nơi nguyên tắc trừu tượng đó, nhưng cả hai giám mục tôi muốn nói đă có những việc làm rất cụ thể cho thấy các ngài gắn bó với quê hương, tha thiết với vận mệnh đất nước, với tiền đồ dân tộc tới mức nào.

 

Người đầu tiên là đức cố hồng y Nguyễn Văn Thuận. Bị bắt ít lâu sau biến cố 30-04-1975, ngồi tù 13 năm, rồi bị quản thúc, cuối cùng phải sống lưu vong, ngài ít có cơ hội cho ta thấy ḷng yêu nước của ngài. Nhưng có một câu chuyện do chính ngài kể lại và ai nghe cũng phải nể phục óc sáng tạo, tài thuyết phục, và trên hết mọi sự là ḷng yêu nước, đó là chuyện xảy ra khi ngài ở trong trại tù Vĩnh Quang trên núi Vĩnh Phú, và công việc của ngài là cưa gỗ. Ngài biết gỗ đó lấy từ núi Vĩnh Phú là nơi có đền thờ các vua Hùng nên được xem như điểm xuất phát của dân tộc Việt Nam. Ngài muốn có dụng cụ cần thiết để làm một tượng thánh giá bằng chính thứ gỗ đó. Thật ra ước muốn có một tượng thánh giá để đeo không phải là chuyện khác thường, nhất là đối với một giám mục. Nhưng trong hoàn cảnh của ngài mà thuyết phục được cán bộ trại giam để cuối cùng đạt được ư nguyện th́ quả là chuyện phi thường. Nhưng muốn hiểu được ư nghĩa sâu xa của việc làm đó th́ ta phải nghe chính ngài giải thích : Ngài nói : “Gỗ thánh giá ấy lấy từ núi Vĩnh Phú, nơi có đền Hùng thờ các vua Hùng, tổ tiên chúng ta đă có công dựng nước. Đi đâu tôi cũng mang thánh giá ấy, mang trên ḿnh Chúa Giê-su và quê hương Việt Nam”. (“Năm chiếc bánh và hai con cá” trang 40). Qua lời nói đơn sơ mộc mạc đó, ta thấy được niềm vui của một Ki-tô hữu muốn diễn tả đức tin, thấy được ḷng tự hào của một người gắn bó với dân tộc, thấy được ḷng yêu nước tha thiết đến độ nào.

 

Ví dụ thứ hai là đức cha Vinh-sơn Nguyễn Văn Long, giám mục phụ tá giáo phận Melbourne ở Úc. Ngay từ khi mới được bổ nhiệm làm giám mục, với tấm huy hiệu trên đó nổi lên h́nh lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới dạng những đợt sóng gợi lại chuyện vượt biên, với việc công khai căn cước tỵ nạn cộng sản, ta đă thấy con người đó gắn bó với quê hương, hănh diện về nguồn gốc của ḿnh như thế nào. Sau đó là các bài giảng tại những nơi có người Việt, bất luận là ở Úc hay Hoa Kỳ, đức cha Nguyễn Văn Long đều bày tỏ ước mơ sớm thấy đất nước có tự do dân chủ, công lư được thực hiện, nhân quyền được tôn trọng.

 

Và ví dụ gần đây nhất là bài giảng của ngài ngày lễ các thánh 2012 và cũng là ngày giỗ thứ 49 của cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Đức cha Long đă nói về cố tổng thống Diệm như sau : “Ở một góc cạnh nào đó, cụ là một con người thật bất hạnh. Cụ chết trong sự phản bội, trong gian ác, trong tủi hờn, trong cô đơn, trong đớn đau ngút ngàn. Đă gần 50 năm từ ngày định mệnh phũ phàng, nhưng cụ và bào huynh c̣n chưa có một nơi an nghỉ xứng đáng, tên tuổi cụ bị ch́m trong quên lăng và danh dự của cụ chưa đựơc phục hồi… Phải chăng tấm gương vị quốc vong thân, phải chăng ước mơ xây dựng một triều đại chính trực trên quê hương của cụ sẽ măi măi làm ngọn đuốc soi đường cho thế hệ mai sau?” Sau khi nhắc lại cái chết bi thảm của người đă khai sáng nền Đệ Nhất Công Hoà tại Miền Nam Việt Nam, đức cha Long chia sẻ suy tư của ngài : “Có lẽ đây cũng là một vấn nạn cho những ai đang t́m kiếm và tranh đấu cho tự do, nhân quyền và công lư, nhất là trên quê hương Việt Nam: Khi kẻ chính nhân th́ bị hăm hại, ngược đăi hay quên lăng, trong khi kẻ gian tà th́ được tôn vinh… Nhưng Lời Chúa nhắc nhở chúng ta là phần thưởng của kẻ chính nhân không phải là ở đời này mà ở đời sau.”

 

 

Đến lượt chúng ta

 

Cuộc sống mỗi ngày của chúng ta xem ra khá êm ả, tưởng chừng như chẳng có ǵ phải lo lắng, nhất là theo truyền thông nhà nước và các báo lề phải. Nhưng bất cứ ai quan tâm theo dơi thời cuộc qua các diễn đàn mạng th́ sự thật không hề đơn giản. Việt Nam đang đối mặt với sự xâm lăng trắng trợn và ngày càng hung hăn của Trung Cộng bất chấp những lời lẽ hoa mỹ không lường gạt được ai. Chỉ trong tháng này thôi, ta có thể ghi nhận một chuỗi những hành động gây hấn : phát hành hộ chiếu in h́nh bản đồ chủ quyền trên đó có h́nh lưỡi ḅ, cắt cáp (lần thứ hai) tàu thăm ḍ dầu khí B́nh Minh 2, cho bộ đội biên pḥng Hải Nam quyền ngăn chặn, kiểm soát, trục xuất tàu nước ngoài xâm phạm cái gọi là chủ quyền h́nh lưỡi ḅ, thực chất là nhằm vào tàu cá của ngư dân Việt Nam.

Mà chẳng phải trên Biển Đông mới có vấn đề. Không kể những người Hoa từ bao đời lập nghiệp ở nước ta, những năm gần đây, từ nam chí bắc, đi đâu cũng thấy người Hoa, có hàng chục hay hàng trăm ngàn người qua Việt Nam với hộ chiếu du lịch hay lao động đi khai thác bô-xít hay trồng rừng, có khi lập thành những làng mạc hay thị trấn nội bất xuất, ngoại bất nhập, có khi dành công ăn việc làm với người Việt Nam dù họ chỉ là những lao động phổ thông. Đi vào các tiệm buôn hay siêu thị, hàng hoá phần lớn là của Trung Cộng, phim ảnh Việt Nam làm ra không ai muốn xem. Không sao cả. Chỗ trống đó đă có phim ảnh Trung Cộng điền vào. Môn sử lẽ ra phải làm cho con em say mê khi t́m hiểu nguồn gốc tổ tiên th́ đă bị biến thành món ăn nuốt không nổi làm cho người học ngán ngẫm đến chán ghét. Trong khi đó th́ cách đây không lâu bộ Giáo dục Đào tạo đă đề ra ư kiến dạy tiếng Hoa ngay từ cấp tiểu học. Thế th́ thử hỏi cái thế của dân tộc Việt Nam hôm nay có phải là cái thế của một dân tộc đang đối mặt với thù trong giặc ngoài hay không ? Thử hỏi: mất nước mà không đau, mất nước mà không nhục, th́ chúng ta có c̣n xứng đáng là người Việt Nam nữa hay không ?

 

Chuyện động trời đang xảy ra hôm nay là chúng ta đang mất nước. Nhưng sở dĩ xă hội cứ b́nh chân như vại, một phần v́ thiếu thông tin, phần khác v́ sợ hăi. Là v́ mọi chế độ độc tài đều làm cho người dân ra hèn nhát và mê muội. Dân tộc muốn tự cứu ḿnh, chỉ c̣n cách thoát ra khỏi sợ hăi mà thôi. Đâu phải t́nh cờ mà vào cuối triều đại cộng sản tại Liên Xô và các nước Đông Âu, chính xác là vào năm 1978, ngay sau khi đắc cử Giáo Hoàng, lần đầu tiên xuất hiện trước quảng trường Thánh Phê-rô, lời đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II là “Anh chị em đừng sợ !”. Thật ra th́ ngài chẳng làm ǵ khác hơn là lặp lại lời Chúa Ki-tô nói với môn đệ sau khi Phục Sinh : “Chính Thầy đây, đừng sợ !”.

 

Tôi biết trong thâm tâm nhiều anh chị em đang tự hỏi: “Nhưng làm ǵ được bây giờ ?” Dĩ nhiên là không ai trả lời thay cho ai được. Nhưng để gợi ư, tôi đề nghị anh chị em nhớ lại vị giám mục sống ở nước ngoài, cách xa quê hương nhiều ngàn cây số, nhưng chỉ v́ nặng ḷng với đồng bào, với quê cha đất tổ, vẫn t́m ra cách diễn tả t́nh yêu của ḿnh. Thậm chí một người tù mất hết tự do có khác ǵ con chim găy cánh hay con thú bị nhốt trong chuồng. Nhưng tù nhân Nguyễn Văn Thuận vẫn để lại cho ta tấm gương xán lạn của một người đầy óc sáng tạo, chỉ v́ yêu tổ quốc Việt Nam với một t́nh yêu nồng nàn tha thiết.

 

 

Kết luận

 

Và để kết luận, tôi xin mượn lời của Đức Cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận qua bài thơ chính ngài sáng tác như một lời nhắn gửi mỗi anh chị em chúng ta. Bài thơ mang tựa đề “Con có một Tổ Quốc” :

 

 

Tiếng chuông ngân trầm, Việt Nam cầu nguyện.

Tiếng chuông năo nùng, Việt Nam buồn thảm.

Tiếng chuông vang lừng, Việt Nam khởi hoàn.

Tiếng chuông thanh thoát, Việt Nam hy vọng.

 

Con có một tổ quốc :

Việt Nam, quê hương yêu quư ngàn đời.

Con hănh diện, con vui sướng.

Con yêu non sông gấm vóc, con yêu lịch sử vẻ vang.

Con yêu đồng bào cần mẫn, con yêu chiến sĩ hào hùng.

Sông cuồn cuộn, máu chảy cuộn hơn.

Núi cao cao, xương chất cao hơn.

Đất tuy hẹp, nhưng chí lớn.

Nước tuy nhỏ, nhưng danh vang.

Con phục vụ hết tâm hồn,

Con trung thành hết nhiệt huyết.

Con bảo vệ bằng xương máu,

Con xây dựng bằng tim óc.

Vui niềm vui đồng bào,

Buồn nỗi buồn của dân tộc.

Một nước Việt Nam.

Một dân tộc Việt Nam,

Một tâm hồn Việt Nam.

Một văn hoá Việt Nam.

Một truyền thống Việt Nam.

Là người Công Giáo Việt Nam,

Con phải yêu Tổ quốc gấp bội.

Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con,

Cha mong gịng máu ái quốc,

Sôi trào trong huyết quản con.

 

 

Nhà thờ Ḍng Chúa Cứu Thế Sài G̣n,

Thánh lễ 20 giờ, ngày 30 tháng 12 năm 2012

Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm



 

Bài Giảng Của Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh



 

http://www.youtube.com/watch?v=BlIYXeA5HMY

 

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính