Ngh́n Trùng Cách Biệt!

 

BK Bùi Đức Tính

 


Từ giữa năm 1954 đến năm 1956, cả triệu người phải bỏ lại quê nhà cùng thân quyến ở miền Bắc, di cư vào Nam để lánh nạn cộng sản dă man. Chưa kể những người liều mỉnh lén trốn đi như đội trưởng Vinh trong Chúng Tôi Muốn Sống. Năm 1975,mặc dù bị ngăn chận ruồng bắt, cũng v́ Tự Do hàng triệu thuyền nhân đành phải chấp nhận mọi thương đau, kể cả mạng sống để vượt thoát loài cộng phỉ man rợ. Triệu ngườ́ may mắn c̣n sống sót th́ hàng trăm ngàn thân xác đă ch́m trong ḷng đại dương, vùi dập trong tù đày và rừng thẩm. Dân miền Nam than oán rằng: cột đèn mà đi được, cũng t́m đường để vượt biên!


Lúc chờ đợi th́ tháng ngày tưởng như không bao giờ đến, đến ngày ra đi th́ thời gian c̣n ở lại với quê hương như hôm nay sao quá ngắn ngủi. Vũ với tôi bây giờ ngồi thừ người ra với những luyến tiếc, ưu tư, lo nghỉ, biết bao điều chồng chất và xoáy ṿng trong đầu óc. Phần tôi, khi từ giả để trốn xuống tàu với Vũ, gia đ́nh đă coi như là đă mất tôi rồi. Ba tôi có một thời đóng quân ở Phú Quốc, nên khá quen thuộc với tàu thuyền qua lại trên biển. Ba rất lo âu khi thấy chiếc tàu của chúng tôi. Vỏ tàu mũi bầu đă cũ, loại người ta chỉ dùng để chở cây chở hàng trên sông. Với cái mũi bầu bằng như thế này, tàu sẽ khó điều khiển, không thể chẻ sóng biển để chạy được mà c̣n dễ bị sóng đập bung ván lườn. Cái máy th́ lấy từ chiếc John Deer rỉ sét, bị bỏ phế từ khi miền Nam bị cộng sản chiếm đoạt; và chúng tôi th́ trên sông c̣n chưa từng biết cầm lái tàu mà bày tính chuyện vượt đại dương. Ba về than với mẹ, chúng tôi có thoát được là phải trông nhờ vào ơn phước. Cha mẹ thương con nên lo lắng, thực ra ai cũng biết đồng bào ḿnh v́ Tự Do đă sẵn sàng vượt biển, bất chấp sóng to hay thuyền bè mong manh. Có được bất cứ phương tiện nào để trốn đi, đă là ơn phước to lớn lắm rồi. Hôm nay, tôi trốn đi đơn độc, phận ḿnh phải chết th́ không có ǵ phải lo âu vướng bận. Nhưng Vũ th́ c̣n nhiều gánh nặng lắm, nh́n thằng bạn cứ mồi thuốc hút liên tục tôi biết nó rất bồn chồn lo lắng cho gia đ́nh, nhất là vợ trẻ bồng bế con thơ. Tôi nghỉ là nên khuyên nó đi sớm lên chợ cho khuây khoả, hơn là ngồi đây chờ anh Ba đem tin xuống. Hơn nửa, tin tức và bàn tính công việc trên chợ vẫn dễ hơn là ở đây, ghe tàu đậu vách kề vách. Tôi bàn với Vũ:


- Ê, chuyến xe đầu cũng sắp tới bến rồi. Tao coi tàu, mày thả lên bến đón anh Ba với mấy cháu… đi ăn sáng cho vui.


- Ừ, …tao đi chợ với anh Ba luôn thể. Mày giúp tao kiếm thằng Hải, nhắc nó đi kêu ghe “đổi nước”, tao có dặn nó hôm qua.


Chiếc xuồng chở cái thùng phuy, chứa gần hai trăm lít nước, nặng khẳm, nằm lấp lé mặt sông. Tôi ái ngại nhỉn người đàn ông trọng tuổi, dáng nhỏ gầy vừa giữ thăng bằng cho chiếc xuồng, vừa múc chuyền từng thùng nước lên cho tôi. Đến tuổi làm ngoại nội, ông c̣n vất vả lo t́m từng hạt gạo. Nước cho chuyến đi đă được chúng tôi kín đáo dự trử trong các thùng nhựa, do công ty ứng cấp cho các tàu vận chuyễn để chứa hàng đông lạnh. Trưa nay, chỉ cần châm thêm một lần nữa để bù lại khoảng nước đă dùng, nếu tiết kiệm th́ hai tuần vẫn c̣n nước uống.


Bác Sáu kéo khăn lau mồ hôi trên mặt, thăm chuyện:


- Bửa nay chạy hướng nào đây cậu?


Tôi trả tiền công và dặn ḍ thêm:


- Máy hư, hai ngày rồi bác ơi, chưa biết chừng nào mới chạy được… Bửa nay c̣n sửa máy chắc cần xài nhiều nước. Trưa, chừng 11 giờ bác trở lại, cho tụi cháu “đổi” thêm nước nghen bác.


Đây là ghe “đổi nước” mà Hải đă giúp gọi đem nước đến.


Mới nghe qua tiếng rao mời “đổi nước” trên sông, hầu như ai cũng ngạc nhiên, suy nghỉ. Hiểu ra, tôi thêm thán phục tinh thần quư trọng Tổ Quốc của dân tộc ḿnh. Đó là những người dùng chiếc xuồng nhỏ, chở cái thùng “phuy” chứa nước, để cung cấp nước ngọt cho ghe tàu ở vùng nước mặn. Họ làm cái nghề ít vốn này, lấy công sức chở nước để “đổi” lấy tiền mà sinh sống và gọi là “đổi nước”. Người Việt Nam, từ người b́nh dân ít học cũng đă biết ư nghĩa vô cùng nhục nhă của từ ngữ “bán nước”.


Đồng bào ḿnh không ai chịu rao gọi “bán nước”!


Trong khi quân đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà anh dũng hy sinh, quyết chiến đấu với cộng sản và quân xăm lược Trung Cộng để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, th́ từ ngày 14 tháng 9 năm 1958 Phạm văn Đồng đă kư công hàm dâng đảo, bán nước Việt Nam cho quan thầy Trung Cộng của chúng nó. Bè lũ hồ cáo súc sinh cộng sản đă nhẫn tâm bán nước Việt Nam để được vinh thân và vênh váo trơ tráo xưng tụng nhau là đảng viên của đảng cộng sản.


Tội bán nước nhơ nhuốc của đảng cộng sản Việt Nam muôn đời không bao giờ rửa sạch được. Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ tha thứ cho bè lũ phản quốc “bán nước” đang xưng danh là cộng sản Việt Nam. Tổ Quốc Việt Nam với ngàn năm hồn thiêng sông núi, với ngần ấy tội ác của cộng sản, với oán hận chất ngất cùng khắp ba miền đất nước, tôi tin chắc rằng:


Sẽ có một ngày,

Đêm đen chợt bừng sáng.

Người gọi người:

Thức tỉnh cơn mê!

Phá gông cùm!

Xé cờ đỏ!

Bỏ đảng, cứu dân oan!

Hết cộng phỉ, đêm tàn ngày rạng!

Ánh cờ vàng rực sáng nước Việt Nam.


Đang đứng trong ḷng tàu múc nước châm vào cái thùng nhỏ để đem lên mui uống, thấy tàu chợt nghiêng chóng vánh, và có tiếng chân bước lên mũi tàu, tôi ngó lên:


- Mới tới hả anh Ba? Anh có gặp thằng Vũ?


- Có, mấy cha con ăn sáng với nó trên quán chú Hón nảy giờ… Hai đứa khoanh tay thưa “củ” Vinh đi con … Nó gặp bè bạn kéo lại, c̣n ngồi nói dóc ngoài chợ.


Anh làm rể gia đ́nh người Tiều, có khi xưng là “hia” và gọi “củ” thay v́ cậu, hoặc cậu em. Thấy anh vui vẻ tôi an tâm ngay về việc di chuyển của nhóm đầu, hầu hết là thanh niên trai trẻ. Để tay mắt trong xóm và phường khóm không nghi, anh Ba dẫn con đi trước. Chị Ba chờ trưa trưa một chút, sẽ lẻn đi lấy xe đ̣ xuống tàu sau.


- Mới “đổi nước”, sàn tàu ướt trơn lắm… Hiền, Hiếu lại đây cậu bồng thả vào trong cho đừng trợt té nghen.


Tôi nói và đưa tay đón con anh Ba, bồng thả vào phía trong ḷng tàu. Trẻ con lớn thật nhanh, Hiếu là đứa em, chắc cũng sắp đi học. Hai anh em rất ngoan hiền, càng lớn trông càng giống anh Ba, nhất là ba cha con mới đi hớt tóc một lượt, một kiểu. Anh rể của Vũ có vóc dáng như nhân vật tên Vọi của Khái Hưng và trông rất chất phát, nhưng nghề may đồ “tây” trong xă của anh Ba th́ nhàn hơn chàng Vọi trong truyện Trống Mái. Anh c̣n có tài nấu ăn, làm đồ nhậu cũng rất nghề.


Anh Ba chuyền mấy bịt đồ mua để nấu ăn xuống cho tôi:


- “Củ” để đâu đó trong mui dùm, rồi lên chợ… Vũ nó chờ ở trển


Tôi hiểu ư anh Ba, Vũ không tâm trí đâu mà “ngồi nói dóc”. Trên này, chợ sáng ồn ào, dễ bàn tính công việc hơn ở dưới bến, ghe tàu đậu san sát nhau. Vũ kéo cái ghế ở bàn bên cạnh sang, cho tôi xen vào ngồi ăn và bàn tính cách bốc rước người hôm nay. Tôi mừng tin bà con đến đầy đũ, nhưng rất thất vọng về phần trang bị vũ khí bị thất bại. Người quen biết với gia đ́nh Vũ, đi nghĩa vụ, chuyên móc nối mua bán súng đạn cho tàu vượt biên đă bị bắt. Nh́n qua khách trong quán, tôi thấy em của Vũ là Tài, Dân, Duy ngồi với một nhóm người trong góc quán. Hai cái bàn gần cửa cũng có vài thanh niên trang lứa với Tài, tôi nhớ là con của chú Chín. Phải công nhận, anh Ba và Vũ khéo dặn ḍ, nếu tôi không biết mặt th́ không biết họ là phe ta.


Bàn tính xong, em của Vũ và con của chú Chín, làm như thợ máy cùng bè bạn theo chúng tôi xuống ghe để giúp sửa máy rồi gầy độ nhậu. Ghe tàu kéo rũ bè bạn xuống ăn nhậu là việc rất b́nh thường, nhất là khi bị hư máy nằm bến như tàu chúng tôi. Những người lạ mặt, sau khi được dẫn xuống tàu, ngồi ăn uống trên mui một lúc, sẽ rút êm xuống bên dưới ẩn thân. Anh Ba ngồi trên mui, vừa làm “chủ xị” đám nhậu, vừa sắp xếp người lên bến và xuống trốn dưới khoan, vừa canh chừng t́nh h́nh xung quanh. Chốc chốc, có người thay nhau lên bến đi mua thêm rượu hoặc đồ nhậu, khi xuống sẽ dẫn thêm vài người khác theo. Đi lên ít người, xuống nhiều người hơn, cứ thế mà thay và ḷn người xuống tàu. Người lên ngườ́ xuống, làm rối mắt người chung quanh, và nếu không chú tâm theo dỏi kỹ, quanh đi ngó lại th́ thấy chỉ có lố nhố sáu bảy người ăn nhậu trên mui, không có ǵ là khác thường cả. Phần Vũ và tôi ráp lại các bộ phận lặt vặt đă tháo ra để nguỵ trang máy bị hư từ hôm qua và dọn dẹp hầm máy. Biết máy vẫn chạy tốt, mọi thứ cần thiết cho vận chuyển cũng đă lo xong, chúng tôi chỉ kéo dài cái cảnh vừa sửa máy vừa ăn nhậu, để xuống người.


Vũ rủ tôi lau tay, leo lên mui với anh em. Nó đưa ly rượu cho anh Ba và chỉ chiếc xuồng đang cặp vào bến, nháy mắt với ông anh rể:


- Vô với tui một cái đi “hia”, rồi làm vài câu cho bà con nghe.

 
- Khà!... Ḥ ơ...!... à!


Vị rượu đế gắt quá, anh Ba tằn hắng, lấy lại giọng, mắt nh́n cô nàng bán xôi mà thằng em vợ mới chỉ điểm:


“Ḥ ơ… ơ… ơ… chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm.


Công tôi cực lắm, mưa nắng dăi dầu.


Chiếu này tôi chẳng bán đâu.


T́m cô không gặp...


Ḥ ơ... t́m cô không gặp, tôi gối đầu mỗi đêm...”


Bản ruột của anh Ba, anh hay hát bài T́nh Anh Bán Chiếu này lằm. Anh cất giọng th́ mấy cái miệng rượu vào lời ra ồn ào trên mui đều yên lặng hết. Anh hát không thể nào bằng bậc thầy Út Trà Ôn được, tôi không biết phê b́nh người hát vọng cổ hay dở ra ra sao, nhưng chắc chắn một điều là anh Ba hát ḥ rất có duyên. Anh Ba ḥ ơ đến đây th́ cô nàng bán xôi không c̣n giữ e dè được nửa, nghiêng vành nón, ṭ ṃ liếc mắt ngó t́m người ḥ và gặp ngay anh Ba đang nh́n cô tủm tỉm cười. Anh Ba nhịp nhàng tiếp ngay vào đoạn vọng cổ:


“Ghe chiếu Cà Mau đă cắm sào trên bờ kinh Ngă Bảy,

Sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra.... chào!”


Chữ “chào” anh xuống câu, làn hơn âm a ngân nga chưa hết, bốn ánh mắt lại gặp nhau. Tôi nghỉ, nếu không có cái đám nghí ngố ăn uống này th́ thật là một đoạn phim t́nh, rất là t́nh.


Anh Ba cũng biết, gần hai năm nay, vóc dáng và những bài vọng cổ mộc mạc của anh đă giúp khoả lấp những nghi ngờ có mưu đồ vượt trốn của chiếc tàu này rất nhiều. Anh sắm tuồng và nhập vai thật sống động. Chúng tôi rất may mắn có anh theo giúp lâu nay và mang ơn anh Ba rất nhiều.


Ngồi lai rai một lúc, thấy gần tới giờ hẹn rước người ngoài chợ, chúng tôi tuột xuống hầm, lo cho máy chạy. Nhóm người ẩn bên dưới thấy chúng tôi xuống, nh́n dọ hỏi. Vũ nói với tôi, cũng để nhắn gởi cho bà con dưới tàu bớt lo âu:


- Tụi ḿnh cho tàu chạy một ṿng ra chợ.


Vũ làm cho cái John Deer ngoan ngoản của chúng tôi phải khởi động nhiều lần rồi mới nổ máy chạy đều. Biết thằng bạn cố t́nh khoá ống dẫn dầu vào máy một lúc, để làm như máy sửa chưa được tốt lắm, tôi yên tâm đi ra phía trước để tháo dây mũi.

- Máy sửa được rồi hà anh Vinh?


- Hồi nảy đề sao thấy c̣n hục hặc quá. Tụi tui tính là chạy thử một ṿng rồi quay về sửa tiếp.


Tôi trả lời thằng Biên, đang đứng trên bờ thăm hơi. Biên là nhân viên giữ chiếc tàu của công ty. Chiếc tàu này đă neo cột ở bến không biết từ lúc nào, khi chúng tôi gia nhập đoàn tàu vận chuyễn th́ đă thấy nó nằm sát bờ. Chưa bao giờ nghe thấy tàu rời bến đi đâu cả và cái tên Biên này cũng chẳng thấy làm ǵ khác hơn là ngày qua ngày tà tà “giữ tàu cho công ty”, như nó bảo với mọi người. Ai cũng nghi là thằng Biên nó “nằm vùng” để nghe ngóng t́nh h́nh dưới bến, nên thường tránh đậu gần. Chúng tôi nghỉ, cáng tránh né nó càng nghi, chi bắng cứ liều đậu sát bên, cho thằng Biên yên tâm và dần dà sinh lơ đểnh, gần quá biết đâu làm nó khó thấy hơn. Cho nên, lúc nào về bến, có chỗ trống là đậu cặp vào chiếc tàu của công ty rồi kết thân với thằng Biên.


Lâu ngày, biết được rồi, th́ Biên không c̣n đáng ngại lắm. Ngày và giờ làm việc, hể bày ra uống rượu ồn ào th́ Biên lại không dám sáp vào, nó sợ bị kiểm điểm. Hơn nửa, Biên lại có thói quen, sáng nào cũng lên quán ăn sáng, la cà ngoài chợ, mua thức ăn… đến sau 11 giờ mới trở vể tới tàu.


Biên thăm ḍ:


- Mấy anh thợ máy này coi bộ cũng biết sửa quá chứ.


- Ừ, tụi nó làm cho công ty nhà nước mà,.. d́a thăm nhà nghe anh Ba nói, đi theo xuống sửa giùm… Máy hư nằm húp cháo, sáng giờ cho uống rượu trừ công.


Tôi nói và lấy gói thuốc hút, đưa mời thằng Biên cùng đám bạn ghe tàu đứng gần, để cắt câu chuyện thăm hỏi về tàu, rồi đi tháo dây mũi:


- Chạy được rồi anh Ba ơi!


Vũ và anh Ba cũng nghe thấy Biên la cà thăm hỏi tôi nảy giờ, hiểu ư tôi, cho tàu rời bến ngay.


Mới đến trưa, chợ vẫn c̣n đông. Lợi dụng cảnh lên xuống mua bán lu bu ở bến tàu ngoài chợ, chúng tôi bốc thêm một số thân quyến. Đây là nhóm người lớn tuổi, có gia đ́nh dẫn theo trẻ con; họ giả bạn hàng hoặc dân đi chợ đến thăm hỏi và xin có giang tàu.


Khi tàu rời bến công ty, th́ đám thanh niên ăn nhậu trên mui hồi sáng đă rút hết xuống dưới khoang. Bây giờ có người xuống tàu, để hợp lư, năm bảy người trông giống dân địa phương ngồi lại trên mui với thúng rổ đựng hàng hoá rau cải, c̣n lại lánh mặt dưới khoang. Tuy chợ đông người xô bồ, nhưng công an và tay mắt cũng rất đông, nấn ná lâu rất dễ bị lộ, tôi hỏi thăm Vũ:


- Anh Ba? chị Ba?


Vũ lo âu nói nhỏ với tôi:


- Ảnh lên chợ mấy lượt mà vẫn chưa t́m được chỉ… nảy giờ ảnh mất biệt ở trển.


- Mày dọt lên ngó tiếp ảnh?


- Ừ, tao đi, nán thêm vài phút, không thấy chỉ th́ tao kéo ảnh xuống, lâu quá bể mẹ nó hết.

Vũ nói rồi lấy cái giỏ xách, đi lên chợ.


Trên tàu bây giờ đă hơn hai chục người, tôi chỉ biết mấy đứa em của Vũ và con của chú Chín mà thôi. Tôi nghỉ, không lấy được vũ khí, nhưng c̣n mấy đứa em ngang tàng chịu chơi này cũng an ủi cho tàu lắm. Cũng nhờ cái mui lá để che nước đá và hải sản đông lạnh mà công ty bắt phải làm khi kư hợp đồng, hôm nay dễ dấu người trong tàu.


Nh́n anh Ba đi cùng Vũ trở xuống tàu với dáng mệt mỏi, tôi biết ḿnh không nên hỏi thêm điều chi về chị Ba, mà t́m cách cho anh được nghỉ ngơi:


- Chắc tôi coi lái, cho anh rảnh tay để xem hai cháu có cần ăn uống ǵ thêm, nghen anh Ba?


- Ừ, … “củ” lái giùm!


Anh Ba thẫn thờ bảo tôi, rồi vào trong mui. Bên dưói có tiếng hai anh em Hiếu và Hiền theo anh Ba hỏi nhắc mẹ. Ở một nơi nào đó, chăc chị Ba cũng rất lo sợ khi bị lạc nơi xa lạ, gia đ́nh bị phân ly, không biết khi nào mới được gặp lại chồng con. Từ tháng Tư năm 75, tang thương đă theo chân loài cộng sản tràn ngập xuống miền Nam, biết bao gia đ́nh bất chợt phải vương vào cảnh tử biệt đớn đau.


Rời chợ, trong ṿng chạy thử máy, tàu ghé các nhà quen rước thêm người. Chúng tôi hy vọng chị Ba lạc sang các nơi này, nhưng rồi không ai thấy biết ǵ thêm. Vũ đứng lặng thinh ngó t́m theo những chiếc xuồng bơi chèo hai bên bờ, mong sao thấy được chị của nó


Tôi hạ bớt tốc độ máy, nói với Vũ:


- Nhắc bà con bên dưói kín đáo và ráng giữ mấy em nhỏ yên lặng, ḿnh sắp vào bến công ty.


Thật may, đúng như chúng tôi định, thờ́ điểm này có nhiều ghe tàu chở hàng về bến. Bến tàu đang đầy ghe tàu, và công nhân lên hàng chộn rộn. Tôi cho tàu chạy thật chậm, làm như muốn t́m chỗ vào bến đậu. Thấy tàu về, Biên bước ra đón và thăm hỏi:


- Chạy ngon chưa anh Vinh?


Tôi nói vọng sang trả lời, cũng để các ghe tàu khác cùng nghe:


- Chưa! Lúc được lúc không...Mới nằm ngoài chợ đây…Tính ghé vô nghỉ mệt mà hỏng có chỗ. Thôi, tụi tui chạy luôn qua xưởng ông Năm đậu sửa tiếp cho dễ, với lại nhờ ổng coi lại con “heo dầu”… Sửa xong, d́a lại bến, tối nay phải nhậu bù mới được. Ê, c̣n nồi canh chua anh Ba nấu hồi trưa, ngon hết xẩy, tối qua lai rai nghen!

- Ừa, ông Năm ổng canh “heo dầu” nghề lắm… Tối, tui qua chơi!


- Ừ, tối nay ḿnh nhậu!


Tôi vẫy tay cười và đẩy cần lái hướng mũi ra ngoài sông, cho tàu chạy tiếp. Vậy là Biên và đám ghe tàu trong đoàn đă thấy chúng tôi c̣n quay về, và nghe là chúng tôi qua xưởng máy để sửa tiếp. Họ sẽ không thắc mắc lắm, nếu không thấy chiêc 3392 này về bến đêm nay.


Rời bến công ty, chạy sang xưởng sửa máy tàu của ông Năm, chúng tôi mướn cắt hàn ống khói tàu, để ráp bộ hăm thanh khác. B́nh thường, phải để tiếng máy nổ cho giống như các tàu khác. Tối nay, chúng tôi rất cần tránh để tiếng máy vang xa lên bờ, cho dễ len lỏi ra cửa biển. Bộ giăm thanh này, đă đặt làm riêng, cất dưới tàu chờ dịp chạy trốn. Có đo tính trước, nên cắt ráp nhanh gọn, chốc lát th́ xong. Chúng tôi kéo dài thời gian, để nương nhờ bến tàu của ông Năm mà rước thêm người.

Vũ rất mừng, vợ con của nó và gia đ́nh người anh thứ Hai cũng đă đến điểm và xuống được tàu. Bây giờ, anh Ba càng ch́m sâu vào trong lo sợ và bối rối khi chị cũng không đi theo gia đ́nh Vũ. Anh Ba không thể bỏ đi, khi không biết chị đang ra sao, trở về nhà an toàn hay đă bị bắt, ai sẽ thăm nuôi và lo lót cho chị được thả về. Anh về t́m vợ th́ Hiền và Hiếu thành hai trẻ không mẹ cha, ai lo cho con ḿnh lúc nguy biến bằng mẹ cha. Mang hai con về theo, th́ tương lai con trẻ lại chui trở vào mù mịt trong xă hội ngục tù cộng sản. Đến lúc này th́ không c̣n thời gian chờ t́m chị Ba, tàu phải tiếp tục cuộc hành tŕnh để rời cửa biển trước khi trăng lên. Đây c̣n là trạm cuối, để đi bộ lên chợ. Giờ này, xe về thành phố không c̣n bao chuyến sót lại. Mỗi phút qua, lại thêm bồn chồn lo lắng. Ở ngoài mũi cuộn dây, cất neo vào hầm mũi cho gọn và an toàn để chuẩn bị chạy trên sóng to ngoài biển, tôi biết bên dưới tàu buồn lo ngột ngạt lắm. Gia đ́nh Vũ phải có quyết định. Anh Ba vỗ về Hiền và Hiếu rồi gởi hai con cho anh chị Hai cùng vợ chồng Vũ. Nh́n anh ôm lau nước mắt cho hai đứa con, tim gan nào cũng thấy đau xót!


- Anh phải đi kiếm chị.


Anh Ba dừng lại nói nhỏ với tôi vài lời, rồi vội vă rời tàu đi lên bến t́m xe về thành phố. Dù biết anh không thể cùng chúng tôi trốn đi, khi chị đă bị lạc và không tin tức, tôi vẫn lặng người nghe anh từ biệt. Chung sống với nhau trên tàu, chúng tôi như ba anh em ruột, bây giờ tôi đứng đây, chỉ c̣n biết nh́n anh đơn độc rời tàu!


Xưởng của ông Năm cách công ty một đoạn sông khá xa. Đứng đây, nh́n ngược về bến cảng quen thuộc, nó đă khuất sau khúc sông uốn quanh. Đếm luôn Vũ và tôi, th́ con tàu mười lăm tấn này đang mang theo bảy nươi ba người. Ngần ấy sinh mạng đang nằm trọn trong con tàu cùng định mệnh. Hành tŕnh vượt sóng t́m tự do chưa đi được bao xa, khắc nghiệt đă đến với gia đ́nh anh chị Ba, thương và tội nghiệp hai đứa trẻ vô cùng.


Nước đă đổi chiều, giữ con tàu chậm chậm nương theo gịng nước đang chảy đổ ra cửa biển. Quay nh́n lại gịng sông đục màu phù sa phía sau, tôi thấy quặn đau trong ḷng, chúng tôi đang xa rời quê mẹ Việt Nam cùng những người thân thương yêu dấu.


Một lần đi có phải chăng sẽ là ngh́n trùng cách biệt!


Vẫn nhớ thương anh & chị Ba cùng hai cháu Hiền và Hiếu!

 


Để nhớ Tháng Tư Đen!

BK Bùi Đức Tính - 323

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo