Khóc bạn

 

Ấu Oanh

 

 

“Bác Dương thôi đă thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi ḷng ta…”

 

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong kư ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đă xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, c̣n tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

 

Ngày c̣n học Trưng Vương th́ Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Măi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô t́nh làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau th́ không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và c̣n được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.


Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi ǵ chưa được giải đáp. Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính t́nh đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.

 

Đời học tṛ, dẫu rằng lớp học tṛ này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bă. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.

 

Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu v́ Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, c̣n tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài gịng. “Ồ, thư t́nh”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vă quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc th́ biết ngay đó là thư t́nh, thư t́nh cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn th́ có muôn ngàn cách để bày tỏ t́nh yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.

 

Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ c̣n cách bệnh viện khoảng 100m th́ bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa ḷng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu ḷng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quưnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy ḷng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Ḿnh không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.

 

Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, c̣n Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, c̣n có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đă được gần nhau, cuộc t́nh dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu ḷng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong ṿng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài g̣n th́ Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 th́ dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.

 

Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công c̣n dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không c̣n thời giờ dành cho các con nữa th́ Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn ḿnh”, rồi Oanh xuống giọng “Ḿnh phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.

 

Nói là chăm sóc con chứ thật ra th́ lúc đó gia đ́nh nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh v́ thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường c̣n viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đ́nh mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.

 

Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.

 

Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài th́ ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đ́nh chúng tôi. Ông xă tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đ́nh chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đ́nh quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, ŕnh rập, theo rơi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cơi ḷng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc.

 

Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đ́nh văn nghệ sĩ, càng bị để ư, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội t́nh. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nh́n những cuốn sách ḿnh từng nâng niu yêu quư từ từ đội nón ra đi, ḷng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xă tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng th́ lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!

 

Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra th́ một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên t́m mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt c̣n sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất v́ thiếu dinh dưỡng, v́ đói ăn đó Oanh ạ!”

 

“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh th́ cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu th́ chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, c̣n Oanh th́ đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.

 

Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi c̣n rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Ḍ la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng th́ cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong ṿng 10 ngày để đi tŕnh diện”. Ông xă tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, c̣n anh Cường th́ ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món ǵ để được lâu, thuốc nào cần nhất v...v... để mang lên trại.

 

Tôi c̣n nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đă có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng v́ nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi c̣n có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.

 

Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:

– Hôm nay Oanh có chuyện ǵ không mà như mất hồn vậy?

 

Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:

– Có việc ǵ hả Oanh?

 

Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:

– Ta nói cái này, đừng giật ḿnh nhé…Ḿnh có bầu.

 

Tôi giật thót ḿnh, hai lỗ tai lùng bùng.

– Oanh nói ǵ? Ai có bầu?

– Ḿnh.

– Hả?

– Ḿnh có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.

 

Tôi trân trối nh́n Oanh, vẫn không tin ở hai tai ḿnh. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:

– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…

 

Tôi thở phào như trút được cho chính ḿnh gánh nặng ngh́n cân. Oanh nói tiếp:

– Oanh ơi, dẫn ḿnh đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.

 

Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:

– Phá? Sao lại phá?

– Chứ để th́ làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…

– Th́ nói ra cho mọi người biết.

– Ai tin? Bạn bè, rồi c̣n học tṛ nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng ḿnh rồi.

 

Tôi chợt thấy Oanh có lư. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “thằng ngụy”. Tôi thở dài:

– Ừ, để ḿnh tính xem.

 

Nói vậy cho Oanh yên ḷng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đ́nh, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.

 

Mẹ tôi bảo:

– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.

– Mẹ hỏi ǵ hả mẹ?

– Có phải Oanh toàn con gái không?

– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 c̣n 6, toàn là gái cả.

– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.

– Trai hay gái th́ thay đổi được ǵ hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.

– Ḿnh sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, v́ sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của ḿnh th́ sẽ mang tội con ạ.

 

Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài t́nh để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học măi không thuộc (v́ ḿnh có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đă chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đă không cánh mà bay.

 

Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước ḿnh có đủ cả trai lẫn gái.

 

Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không c̣n nghĩ đến việc phá thai nữa v́ tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quư tử.

 

Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Pḥng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc ǵ đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đă cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại c̣n gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đă thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rơ th́ anh Cường được về.

 

Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà th́ đă thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đă vào đề liền:

– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.

– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quư tử, phải ăn mừng thôi.

 

Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh ch́a ra mảnh giấy cỏn con nói:

– Oanh gửi chị cái này.

 

Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho ḿnh mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.

 

Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vă đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có ǵ nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi v́ những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về th́ đói ră răng). Chị lại có ḷng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.

 

Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong ḷng vẫn vui v́ mừng cho bạn, càng mừng hơn v́ thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.

 

Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đ́nh văn nghệ sĩ Miền Nam c̣n kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đ́nh chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi c̣n có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đă giúp được gia đ́nh chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoăn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lư Thụy Ư, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố c̣n viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, ḥng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số c̣n lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xă tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngă như vậy.

 

Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi th́ mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.

 

Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lư lịch đă khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xă tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về t́nh h́nh gia đ́nh, chồng con, công việc v...v... và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lư lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều ǵ đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đ́nh vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đă chấm dứt v́ hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đ́nh đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi v́ họ không c̣n nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không c̣n lo sợ v́ phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han ǵ cả.

 

Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong ḷng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.

 

Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà th́ cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”.

 

Khi tôi bước chân vào đến nhà th́ thấy Oanh đang vật vă vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một ḿnh đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một ḿnh đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, ḷng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc t́nh tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đă quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “để yên cho mẹ nghỉ một chút”.

 

Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.

 

B́nh tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đ̣i gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết th́ mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa pḥng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra th́ thấy bố cháu đă mất rồi.”

 

Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đă đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đă lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?

 

Có lẽ nó đă chảy ngược vào ḷng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ư:

“Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Ôm mồ cứ tưởng ôm ṿng người yêu”

 

Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.

 

Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu th́ 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu ḷng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đă không bao giờ tới bến. Chỉ trong ṿng 4 tháng Oanh đưa h́nh hai người thương yêu nhất đời ḿnh lên chùa…

 

Rồi ḍng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vă bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con c̣n lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn v́ mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc th́ quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.

 

Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết ḿnh không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng ḿnh không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đă chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xă tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đă đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng t́nh trạng h́nh như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.

 

Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đă khép lại vĩnh viễn… Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, ḿnh đây, ḿnh đang ở bên Oanh đây, ḿnh không c̣n giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem ḿnh có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không… Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đă cố dằn v́ chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, ḿnh thương Oanh lắm, có nghe ḿnh nói không?”

 

Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà d́ Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ c̣n mềm, thay dễ”.

 

Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu c̣n dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, h́nh như vỡ xương hông th́ phải. Ôi, đau đớn biết bao!

 

Măi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đă gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lư Thường Kiệt để vào ngơ th́ bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.

 

Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.

 

Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quư, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đă mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đă duy tŕ được mức sống đầy đủ cho gia đ́nh mà các cháu c̣n d́u dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn th́ chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đă quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.

 

Hôm nay ngồi viết những ḍng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đă dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn ṃn mỏi v́ lo toan cơm áo, c̣n mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cơi ḷng đứt đoạn v́ bầy con thơ dại.

 

Oanh ơi, những ḍng hồi ức hôm nay cũng c̣n là những nén hương muộn màng ḿnh thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quăng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học tṛ cho đến khi vĩnh biệt.

 

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,

Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng

Chuông chùa vọng giữa thinh không

Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.

 

 

Ấu Oanh

 

Tác giả Ấu Oanh là Phu nhân của Ca nhạc sĩ Duy Trác. Hồi kư này bà viết để khóc một người Bạn - Phu nhân của nhà văn Dương Hùng Cường, cũng như để thuật lại những ǵ đă xảy đến cho gia đ́nh tác giả và gia đ́nh nhà văn Dương Hùng Cường sau cuộc "đổi đời" gây ra bởi Ngày Quốc Hận 30-4-1975.
(Lê Thy giới thiệu)

 

 

Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường

 

 

Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Pḥng Tâm Lư Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài G̣n, ông có 3 tác phẩm đă xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính