MÀN KỊCH ĐĂ HẠ

 

người lính già oregon

 

 

      Trong vở hài kịch nổi tiếng của Molière, Tartuffe ou l’hypocrite (1664), nhân vật chính, Tartuffe, là một gă vô lại, cơ hội chủ nghĩa, được Orgon, thuộc giới trung lưu (bourgeois), rước về nhà với sự chấp thuận của bà mẹ  mộ đạo cuồng tín, Mme Pernelle, và hai mẹ con xem gă như một thánh sống. Trong khi, ngược lại, cả gia đ́nh, từ Elmire, vợ kế của ông, đến Damis, con trai, đến Mariane, con gái, đến người anh vợ, đến cô người làm trực tính, trực ngôn, đều khinh ghét gă. Orgon, mỗi lần đi đâu về, đều ân cần vấn an Tartuffe trước tiên. Và dự tính gả Mariane cho gă, mặc dù cô đă có người yêu, là Valère. Trước mọi người, Tartuffe có thái độ khiêm cung, nói năng nhỏ nhẹ, dáng vẻ nghiêm trang, miệng lúc nào cũng kêu tên Chúa. Một hôm, có dịp gặp riêng Elmire, gă thả lời ong bướm. Từ pḥng bên, Damis nghe được, liền báo cho bố biết, nhưng Tartuffe chối bay chối biến và tố ngược Damis vu khống, khiến Orgon, v́ quá mê gă, bèn từ con, đuổi đi, và viết giấy tặng hết nhà cửa, tài sản cho gă. C̣n Elmire giả vờ nói với gă, sẽ không tiết lộ việc này nếu gă chịu từ bỏ Mariane để cho cô lấy Valère. Rồi bày mưu, hẹn gặp Tartuffe tại pḥng, làm như muốn đáp lại t́nh yêu của gă, nhưng trước đó, đă sắp xếp cho Orgon núp dưới bàn, nghe hết. Orgon bèn nổi giận lôi đ́nh, đuổi gă ra khỏi nhà, trong khi Mme Pernelle vẫn không tin. Nhưng Tartuffe lại đuổi ngược gia chủ, sau khi trưng ra đầy đủ giấy tờ. Vua biết được câu chuyện, ra lệnh bắt gă. Vở kịch kết thúc có hậu cho gia đ́nh Orgon với tin loan báo đám cưới của Mariane với Valère.

 

      I. Tartuffe trong bối cảnh Portland, Oregon:

 

      Tôi kể sơ về nội dung vở hài kịch Pháp, thế kỷ XVII, của Molière, để nhắc đến một vở hài kịch tương tự, đương thời, mà nhân vật là người thế kỷ XXI, đang sống giữa Cộng đồng của chúng tôi, tức Portland, Oregon. Anh là một nhạc sĩ nổi tiếng, đối với người Việt tỵ nạn trên thế giới, mặc nhiên trở thành người của quần chúng (public figure), nhưng tôi tạm gọi “không tên”, cho có vẻ lập dị như những bài hát của anh. Từ lúc chưa thành phó tế, anh nhạc sĩ không tên này luôn cư xử với mọi người c̣n hơn một nhà tu hành thứ thiệt: lễ độ, tươi cười, nhă nhặn, dáng vẻ e ấp như cô dâu mới về nhà chồng, và nhũn như con chi chi. Một lần, trong bữa ăn tại nhà một người bạn tôi, vốn mê những bài không tên, anh nhạc sĩ tuyên bố rằng anh đă có lời hứa với Chúa là sẽ không bao giờ hát và làm nhạc đời nữa. Liền sau đó, anh cầm đàn, hát một bài sặc mùi đạo, mà anh nói mới sáng tác. Tôi quên tựa đề, nhưng nhớ mang máng nội dung, đầy tính tượng trưng: một người leo lên dốc đá cheo leo, trượt chân ngă xuống mấy bận, cuối cùng cũng thành công, nhờ Chúa giơ tay dắt lên. Và kết thúc là một coda cao vút, ngân vang như tiếng kinh cầu, ai nghe cũng cảm động.

 

      Nhiều lần, trước đây, bạn bè, người quen, và đồng hương Portland, Công giáo hay không, vốn dị ứng với anh nhạc sĩ kiêm thầy tu này, cho anh là một tên đạo đức giả thật. Biết tôi là con chiên trong giáo xứ Mỹ mà anh đang phục vụ, họ đă mớm ư cho, và thúc giục, tôi viết một bài tố anh ta về ba tội: làm ăng-ten trong trại tù cải tạo, làm thầy sáu mà không thuộc giáo lư, lợi dụng tiền bá tánh để làm giàu cá nhân… Tôi từ chối, bác bỏ những lời buộc tội mà tôi cho hoặc quá cũ, hoặc thiếu bằng chứng cụ thể, hoặc không đủ thuyết phục. Và qua đó, vô t́nh đóng vai luật sư bào chữa cho anh ta –điều mà anh chưa hề biết. Như sau:

 

A.   Làm ăng ten trong tù?

 

      Tôi nói với họ rằng tôi cũng đă ở tù tám năm ngoài Bắc, nhưng không  chung trại, chung đội với anh ta, nên không chứng kiến tận mắt, và bởi vậy, không dám lên tiếng bàn bạc về điều ǵ ḿnh không rơ, không thấy, mặc dù đă đọc nhức mắt nhiều bài viết kư tên tác giả đường hoàng, và nghe rát tai những tin đồn nặc danh, nửa thực nửa hư, thuộc loại tabloids, rất tiêu cực về anh. Tuy nhiên, tôi thắc mắc, về từ ngữ, khi các tác giả, độc giả, và tù nhân cải tạo gọi anh là ăng-ten, không biết có đúng (lắm) không. Bởi một lư do đơn giản: hệ thống ăng-ten trong tù được bố trí ngầm –không, hoặc khó, có ai phát giác được, và làm sao?– và đôi khi ăng-ten chính là thằng bạn tù tử tế, hiền như ma sơ, nằm cạnh bên. Thông thường, bọn ăng-ten được giao phó nhiệm vụ theo dơi và báo cáo, một cách bí mật, cho cán bộ trại về những hành động, và tư tưởng, của đồng đội, đặc biệt âm mưu trốn trại –là điều mà bọn cai tù lo sợ nhất. Nhưng để lập công, chúng báo cáo, hoặc bịa ra, đủ thứ chuyện, thượng vàng hạ cám, kể cả thở dài trong đêm, ngủ gật trong giờ “học tập”, hay lén hôn vợ trong nhà thăm nuôi v.v...

 

      Riêng anh nhạc sĩ, qua lời của nhiều nhân chứng, có thời gian được cử làm thi đua, và đội trưởng một đội, với nhiệm vụ báo cáo một cách công khai, hợp pháp, về người và việc trong trại, trong đội, và mặc t́nh hành hạ đồng tù. Tôi nghĩ, đă là công khai th́ không c̣n bị gọi ăng-ten nữa. Phải chăng v́ hành động hắc ám, muốn lấy điểm với cai tù, mà anh đă bị những nạn nhân và nhân chứng quen miệng gán cho cái nickname ăng-ten, là danh xưng nặng nề và bỉ ổi nhất, mặc dù về hậu quả, tội làm ăng-ten hay làm đội trưởng, mà ác ôn, cũng ngang nhau, bên tám lạng bên nửa cân? Hoặc giả, có thể ở trại này, anh ta làm ăng-ten, ở trại nọ, làm đội trưởng ác ôn? Hoặc có thể ở cùng một trại, có lúc anh làm đội trưởng ác ôn, có lúc làm ăng-ten, cho nên lẫn lộn về chữ dùng chăng?  

 

      B. Làm thầy sáu dỏm?

 

      1) Năm 1992, tôi đang nghỉ hè ở San José. Anh nhạc sĩ không tên, lúc ấy mới qua Mỹ, dự định tổ chức buổi tái ngộ với những fans của ḿnh trong một hội trường gần đó và anh ta bị một số cựu quân nhân cảnh cáo, tẩy chay, và dọa hành hung, và cửa hội trường bị họ chận, cấm không cho ai vào dự, bởi bất măn với thành tích “ăng-ten” của anh. Cho nên, tôi biết rất rơ. Anh bèn chạy lên Portland, để tỵ nạn. Tại đây, theo tin đồn miệng, hay phổ biến trên Mạng, nhưng không ai dám xác nhận: đầu tiên, anh ta vô chùa xin quy y. Bị chùa từ chối, anh bèn nhảy sang nhà thờ Tin Lành. Bị từ chối nữa, anh chưa biết đi đâu, th́ bất ngờ được tiến cử lên LM chánh xứ La Vang bởi những người thân cận của ông. Biết anh là nhạc sĩ nổi tiếng, LM chánh xứ nhận ngay, cho vào ca đoàn và sau giữ chức “sứ vụ tông đồ mục vụ” (?), nhưng anh rất mù mờ về giáo lư, khiến giáo dân bàn tán, khó chịu. Về sau, không biết bằng cách nào, anh thuyết phục được ông LM chấp thuận cho học làm thầy sáu, mà không qua thủ tục bắt buộc cho tất cả ứng viên phó tế khác: phải đi học lấy bằng MA về Thần học (theology) tại University of Portland. V́ kém Anh văn, lại không có BA ở Mỹ, anh được Ṭa Tổng Giám Mục Portland –thời đó, c̣n quá dễ dăi–  châm chước cho tham dự các lớp Kinh Thánh căn bản do giáo phận tổ chức và học thần học “hàm thụ” tại chỗ với một LM trẻ, đệ tử của LM chánh xứ, và với sự giúp đỡ làm homework của một giáo viên dạy giáo lư tại La Vang. Năm 2001, anh được phong chức phó tế. Theo thiển ư, anh làm thầy sáu ngang, tức là tắt, cũng như làm quan tắt, chứ không phải làm thầy sáu chui hay dỏm, như dư luận dị nghị. Lúc ấy, LM chánh xứ đă đổi đi và một LM khác lên thay, và với ư kiến của giáo dân, ông cha xứ mới này từ chối, không nhận anh về giáo xứ La Vang, mặc dù đang rất cần một phó tế người Việt.

 

      2) Rồi thầy sáu Việt Nam này được Ṭa Tổng Giám Mục Portland bổ nhiệm về phục vụ một giáo xứ Mỹ, từ 2001 cho đến hôm nay.

      a. Trong buổi lễ chiều Chúa Nhật, có tôi, anh được cha xứ Mỹ mời đứng lên tự giới thiệu, trước giáo dân Mỹ và thiểu số, gồm khá đông người Mễ, Phi, Nga… và lèo tèo vài bổn đạo Việt Nam. V́ thế, anh tha hồ bốc phét, khiếp quá, tuy không ác liệt như kho đạn Long B́nh, hoặc văng miểng tới mây xanh như vài vị thuộc hàng cự phách trong Làng Nổ Oregon, về thân thế và lư lịch. Anh ta nói, và tôi c̣n nhớ rơ, tuy là một Trung úy Phật tử, nhưng anh đă có ơn gọi đi tu theo Công giáo, từ lúc c̣n ở Việt Nam trước 1975, sau khi một cô bạn gái dạy anh học kinh Kính Mừng, và đi đánh trận [hồi nào?], nhờ đọc kinh Kính Mừng, anh đă nhiều lần thoát chết, và sau 1975, trong tù VC, cũng nhờ đọc kinh ấy, anh đă khỏi bệnh mất ngủ [sic]. Nào là qua Mỹ, bị bệnh gần chết, anh đă nhờ Chúa và Đức Mẹ Maria cứu khỏi. Nào là anh có bằng Cử Nhân Luật ở VN, đặt nhạc trữ t́nh, nhưng, anh thêm, với thiên chức thầy sáu, từ nay anh sẽ quên đi “quá khứ sai lầm” đó. Nào là, động trời hơn, chức vụ cuối cùng của anh, trước ngày Sài G̣n sụp đổ, là chỉ huy Bộ Thông Tin của chính phủ Miền Nam và dùng chữ minister –bởi, tôi tự hỏi, anh cố t́nh nổ sảng hay không hiểu chữ đó có nghĩa “bộ trưởng”? Nào là anh bị giam nhiều năm tại những trại tù khắc nghiệt của VC, và ở đó được bạn bè rửa tội cho… Giáo dân Mỹ ṭ ṃ lắng nghe, không phản ứng, một phần v́ lịch sự, một phần v́ không ở trong chăn nên anh nói hươu nói vượn ǵ cũng tin tuốt luốt, một phần v́ chỉ hiểu lơm bơm, cũng như tôi, tiếng Anh đầy accent An Nam Mít của anh.

 

      b. Trung b́nh mỗi tháng, anh đến nhà thờ một lần để phụ giúp cha xứ làm lễ, và mỗi lần, trước và sau lễ, thấy tôi, anh ta gật đầu chào, và ngược lại, nhưng không bắt tay nhau, bởi mặc cảm từ cả hai phía. Tiếp xúc với anh, tôi cảm thấy khó thoải mái, nếu không muốn nói khó chịu, v́ cử chỉ và lời ăn tiếng nói, khiêm nhường, hay nhún nhường quá đáng, của anh, có cái vẻ ǵ đó không thật, nếu không muốn nói giả tạo, làm tôi nghĩ đến vở kịch và nhân vật của Molière. Càng khó chịu hơn khi, sau này, nghe tin về một phép lạ, được ai đó đồn ầm trên báo và Mạng Việt Nam, đă xảy ra cho cặp kính mát của anh, nghĩa là giơ nó lên ánh mặt trời người ta thấy có h́nh Đức Mẹ hiện ra rơ ràng. Phép lạ nhảm nhí, lố bịch đó, ít lâu sau, không c̣n được ai nhắc nữa, nhưng nhiều người vẫn nhớ, để kể lại với ít nhiều châm biếm, mỉa mai.

 

      C. Làm giàu từ những hoạt động từ thiện?      

  

      Ṭa Tổng Giám Mục Portland và cha chánh xứ cho anh thời gian rộng răi để lo cho Hội Từ Thiện, mà anh sáng lập năm 2005, và quảng cáo rầm rộ trong một flyer (đính kèm).   

 

      Phải công nhận anh điều hành Hội một cách khoa học và qui mô, gồm cả việc bán điện thoại V247 và dược thảo chữa bách bệnh (trong đó có thuốc “tăng cường hạnh phúc gia đ́nh”) và đă kiếm được tiền một cách hợp pháp, ít ra theo giấy tờ và báo cáo. Được tờ The Sentinel của Giáo phận và cha xứ nhiệt liệt ca ngợi, và anh mặc nhiên trở thành thầy sáu cưng của Ṭa Giám Mục Portland. Thậm chí, cũng năm ngoái, 2016, cha xứ đă đi Manila, Philippines làm từ thiện, cùng với anh ta.

 

      Có một điều làm đồng hương chê bai: thành công như thế, nhưng anh không bao giờ tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, không đóng góp tài năng hay tài chánh cho Cộng Đồng khi cần. Nhưng sau hai mươi năm, vẫn né, vẫn núp dưới chiếc veste đen và cổ cồn trắng, và những ngày Chúa Nhật, dưới lễ phục –được sử dụng như một áo giáp vững chắc. Và rất tự tin, tưởng rằng người ta đă quên.

 

      Nhưng người ta vẫn nhớ. Tôi thành thật nói với những kẻ c̣n căm ghét anh rằng, dù có tội ǵ chăng nữa, anh đă cải tà qui chánh và chọn con đường tu rồi th́ hăy cho anh ta một cơ hội làm lại cuộc đời. Bằng cách để yên cho anh tu hành, leave him alone, như người Mỹ thường nói. Và tôi im lặng. Kiên nhẫn chờ đợi, và cầu mong, một ngày anh sớm thành “chánh quả”.

 

      II. Áo gấm về làng:

 

      Đùng một cái, có tin anh nhạc sĩ kiêm thầy tu này trở về Việt Nam làm một tua ra mắt và bán sách (Chuyện t́nh không tên) viết kể lại chuyện t́nh “hàm thụ” ngày xưa một cách vô duyên, lẩm cẩm, vớ vẩn (đối với một người trên bảy bó, quá tuổi hồi xuân, nếu không vớ vẩn, lẩm cẩm, vô duyên th́ c̣n là cái ǵ?), đồng thời tổ chức hát những bài không tên cũ rích, cùng với những ca sĩ hải ngoại cóc nhái, vô liêm sỉ, mùa chay nào cũng có nước mắt, cộng với vài ca sĩ lô-can quốc nội, suốt tháng 8 này, tại Hà Nội, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Quảng Ngăi, và Sài G̣n. Tin được tung ra, chuyền đi nhanh như tên bắn, làm mọi người sửng sốt, thất vọng, nhưng không ngạc nhiên, v́ bản chất là bản chất, ở đây, giả dối, và, như VC nói, không bao giờ thay đổi. Đối với anh ta, vấn đề chỉ là thời gian cho vở kịch bịp bợm, có lớp lang, dài đến hai mươi năm, hạ màn, trót lọt.

 

      Hôm nay, tôi không c̣n chọn lựa, v́ anh nhạc sĩ kiêm phó tế này đă vượt qua lằn ranh đỏ (red line). Nh́n những bức ảnh của anh chụp ngày 28/7 tại phi trường Nội Bài, và phổ biến tràn ngập trên Mạng, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao, hớn hở, khác xa hồi mới đến Portland, vào đầu thập niên 90, c̣n lẻ loi, lêu bêu, bèo nhèo, và cười nói tươi rói với các ca sĩ địa phương, bạn bè và thân nhân ra đón, tặng hoa, níu lấy tay, khiến những người tỵ nạn chống VC và các cựu tù binh cải tạo hiện ở hải ngoại không khỏi thấy ngứa mắt và ứa gan.

 

      Mặt nạ rơi xuống, anh ta hiện nguyên h́nh một Tartuffe bằng xương bằng thịt đă đóng vai tṛ của ḿnh quá xuất sắc, và bây giờ, cụ thể hơn, đă trở thành một công cụ ngu ngốc, nhưng hănh diện, của VC, trong việc thực thi Nghị quyết 36, cũng như hơn bốn mươi năm trước, tại các trại tù, trong việc đối xử ác độc với các sĩ quan VNCH đồng đội của anh. V́ sao?

 

     1) Thời điểm trở về (tự nguyện, hay được VC mời dụ?) của anh rất phù hợp với “ư đồ” và kế hoạch thâm độc của VC và t́nh thế hiện tại trong nước. Xin nhắc, tháng 8 là tháng VC kỷ niệm Hà Nội khởi nghĩa (19/8/1945), c̣n gọi là “Cánh mạng tháng 8”. Không phải bởi trùng hợp, ngẫu nhiên, hay tự phát, mà có đến hơn hai trăm người dân (ở không, rảnh quá sao?), được gọi là fans, đội mưa hàng giờ để đón nhạc sĩ thần tượng, tại phi trường, theo tin báo chí quốc nội  –một vinh dự hăn hữu mà từ trước đến nay, không có Việt Kiều nào được nhận lănh… VC là một lũ lưu manh, xảo quyệt, biết tận dụng mọi thủ đoạn. Khi cần đàn áp biểu t́nh, hay đập phá nhà thờ, tu viện, chúng điều động hàng trăm côn đồ, thay v́ công an, và tuyên bố đó là “hành động tự phát” của nhân dân. Làm sao có một “hành động tự phát” nào dưới chế độ độc tài, đảng trị hiện nay, mà không được bọn lănh đạo cho phép, sắp xếp, cổ vơ, hoặc ngược lại, mà không bị ngăn chận, trừng phạt, đàn áp dă man?

 

      Vai tṛ của anh này rất cần thiết cho VC trong giai đoạn và bối cảnh hiện tại bởi anh ta là một phó tế Công giáo và một nhạc sĩ nổi danh. Nhất cử lưỡng tiện. Như sau:

 

     a. Về mặt nổi, anh ta trở về trong tư cách nghệ sĩ tŕnh diễn, được nhiều người hâm mộ tiếp đón –theo dàn dựng của VC, là chuyện thường t́nh đối với công luận. Ngoài ra, VC ngu ǵ mà không biết anh là cựu sĩ quan bị tù cải tạo nổi tiếng, nhưng vẫn cho phép về tŕnh diễn, mà không qua thủ tục kiểm duyệt khắt khe, cấm cản ǵ ráo, không bắt “cởi quần áo khám nghiệm” như những ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại khác (nghĩa bóng) về nước tŕnh diễn, hay những cô gái quê (nghĩa đen) muốn lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, kể cả những thằng ngựi nửa điên nửa khùng, đui què sứt mẻ. Qua việc dành mọi ưu đăi cho anh nhạc sĩ này, phải chăng chúng muốn tuyên truyền, một lần nữa, chính sách “ḥa hợp ḥa giải”, “xóa bỏ hận thù” bịp bợm, mà chúng đă khổ công khua chiêng gơ mơ ầm ỉ, nhưng vẫn thất bại, suốt bao năm qua?

 

      b. Về mặt ch́m, là phó tế, anh bị dùng như một đối trọng (contrepoids) với những vị linh mục và giáo dân dũng cảm trong nước, từ mấy tháng nay, đă và đang ngày đêm xuống đường biểu t́nh chống tập đoàn Formosa và bọn lănh đạo tham nhũng bán nước cầu vinh, cũng như, ở hải ngoại, chúng đang sử dụng những linh mục trẻ, quốc doanh, bố lếu bố láo, hay giả mạo, tại Texas, Florida hay Connecticut –đă lợi dụng bục giảng để công khai tuyên bố những lời mất dạy về VNCH và Ngày Quốc Hận 30/4. Cho phép một nhà tu hành Công giáo, dù chỉ là phó tế, chức nhỏ nhất trong hàng giáo phẩm, về nước ca hát, VC muốn chứng tỏ cho cả thế giới thấy rằng chúng không kỳ thị tôn giáo, và qua đó, và cùng với sự im lặng của Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng có thêm đồng minh và phương tiện để tiêu diệt một cách tinh vi và mạnh mẽ hơn những linh mục và giáo dân đang biểu t́nh phản kháng chúng. Đă không ủng hộ họ th́ chớ, mà vô t́nh (hay nhận lệnh) anh thầy tu tắt này cũng không nhiều th́ ít đă đồng lơa, tiếp tay triệt tiêu sự chiến đấu đầy chính nghĩa của họ, trước công luận?

 

      2) Ngoài ra, khi về VN tŕnh diễn nhạc đời, mà là nhạc t́nh sa đọa, đương nhiên anh ta đă tự lột bỏ chức thánh cao quư và chiếc áo tu hành mà anh, một Xuân Tóc Đỏ mới, đă may mắn vớ được –đă tạm thời che chở anh trước cơn thịnh nộ của những đồng hương tỵ nạn và các sĩ quan tù nhân cải tạo, một thời là nạn nhân trực tiếp, hay gián tiếp, của anh.

 

      Thêm nữa, phải chăng v́ chóa mắt trước danh và lợi, và ḷng trần chưa dứt bỏ được tham sân si, anh ta đă vi phạm trầm trọng lời thề hứa, với Chúa, mà trong vai tṛ Tartuffe, anh thường lớn tiếng rêu rao, khi có dịp, là từ bỏ những bài trữ t́nh, dù có tên hay không tên, của anh?

 

      Nhân tiện, NLGO tôi, trong tư cách một khách thưởng ngoạn, xin có lời bàn nhỏ về những bài không tên: nhạc th́ ủy mị, rên siết, sướt mướt, nghĩa là tầm thường, và nội dung bài nào, nhất là bài không tên cuối cùng, cũng xúi giục người đàn bà có chồng ngoại t́nh, trong tư tưởng, với thằng bồ cũ rất bựa, rất nham nhở, rất cà chớn và rất độc ác đă công khai khoe khoang thành tích chơi gái, không biết giữ ǵn thanh danh, bảo vệ hạnh phúc gia đ́nh cho người đă (lỡ dại) trao thân cho nó. Tôi thực t́nh không hiểu nổi, về mặt nghệ thuật, và nhất là đạo đức, năo trạng nào đă khiến người ta, ở hải ngoại hay trong nước, có thể mê mẩn những bài hát có nội dung vô luân đến thế, đến nỗi phải tiến cử anh ta học làm thầy sáu, hoặc phải đứng hàng giờ dưới mưa, chờ đón anh ta trở về nước, hoặc phải tranh nhau để được hát chung trong cuộc lưu diễn này. Trước 1975, chẳng hạn, một con bé hàng xóm của tôi, mới mười tuổi, thường nghêu ngao hát những câu, “mưa bên chồng có làm em khóc… có làm em nhớ những khi ḿnh mặn nồng…”. Đúng là bệnh hoạn!

 

     Tôi nghĩ rằng Ṭa Tổng Giám Mục Portland và cha xứ họ đạo Mỹ chưa biết mục đích thật sự về VN lần này của anh. Nhưng tôi tin rồi họ cũng sẽ biết, kể cả việc làm “ăng-ten”, bức hại đồng đội trong tù, và việc rửa tội chui, c̣n là một nghi vấn đối với nhiều người. V́ tôi tin vào công lư tuyệt đối của Thiên Chúa, hay luật nhân quả (karma) trong đời thường. C̣n anh dại ǵ mà khai thật. Họ cứ tưởng anh về VN lần này, cũng như mọi lần trước (và chắc chắn đă được nêu lên trong đơn xin phép của anh), là để làm từ thiện.

     

      III. Thay cho lời kết:

     

      Có lẽ sau bài viết này, tôi sẽ phải đi lễ tại một nhà thờ khác trong khu vực. Lư do duy nhất là để tránh nh́n thấy bộ mặt tởm lợm của một kẻ mà từ nay sẽ tiếp tục là chỗ trú ẩn an toàn cho sự lừa bịp và gian dối hóa thân. Một Tartuffe thời đại, mà những hành vi vừa qua tại Việt Nam có hậu quả rất khốc hại và lâu dài trên cả nước –c̣n tồi tệ hơn chính nhân vật đạo đức giả trong vở kịch của Molière.

 

 

Portland, 24/8/2017

NLGO

----------------------------

 

                                 Vũ Thành Antenna

 

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính