|
Đường lên Hiên, lên Giàng
Vương Mộng Long

(Hồi kư của Vương mộng Long k20)
Gia đ́nh tôi dọn về khu chùa Âm-Bổn, Hội-An khi tôi học xong Đệ Lục trung
học Trần Quư Cáp. Tôi có bốn người bạn thân, Trần ngọc Lợi, Lê văn Bảy,
Ngô Rân, và Lê hữu Mục. Năm đứa chúng tôi chơi với nhau từ Đệ Thất. Tối
tối chúng tôi tụ họp trên lề xi măng sát bờ sông Thu-Bồn, trên đường
Bạch-Đằng, đối diện với nhà bác Trần ngọc Mai, thân sinh của anh Trần ngọc
Lợi. Chúng tôi tâm sự, chuyện văn, học bài dưới ánh điện đường. Đôi khi
cao hứng, chúng tôi ngâm nga những bài thơ vừa học trong giờ giảng văn,
thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tản Đà, thơ Xuân Diệu… vân vân.
Thời cụ Ngô Đ́nh Diệm, đất nước thanh b́nh. Nhà, phố, ban đêm không cần
khóa cửa. Tuổi trẻ hồn nhiên. Tâm hồn tôi thơ thới. Đời tôi chưa vướng
chút âu lo ǵ về ḥa b́nh hay chiến tranh. Có khi, Thứ Bảy, tôi và bạn
quây quần bên nhau cho tới nửa đêm mới chia tay, ai về nhà nấy. Trừ những
ngày nước lũ, mùa dông, ḍng Thu-Bồn lúc nào cũng mờ mờ hơi khói sương,
đầy nét mơ màng. Ḍng sông ấy là một trong những ḍng sông tôi yêu quư
nhứt. Lớn lên, tôi sống xa Hội-An, nhưng mỗi khi có dịp ghé về, tôi thường
lang thang nhiều giờ, bên bờ sông, nh́n những con đ̣ ngang, đ̣ dọc, nh́n
bèo trôi, mây bay…
Lên tới Đệ Ngũ, bạn bè tôi phần nhiều, đă biết yêu. Thư qua, thư lại giữa
các cặp t́nh nhân trao đổi ngay trước mắt tôi, hằng ngày, trong lớp. Những
mối t́nh đầu ở thành phố Fai-Foo cổ lỗ, nhỏ bé này cũng thường bị nhiều kẻ
xâm lăng đe dọa. Trước khi có lệnh động viên v́ t́nh h́nh đất nước lâm
nguy, thầy giáo là địch thủ đáng gờm nhất của những chàng học tṛ đang
yêu. Lớp tôi có chị Tô thị Vân, Bắc-Kỳ, tóc dài. Nhà chị Vân ở gần giếng
Bá-Lễ. Ngơ vào giếng, có cây hoa mộc lan; đêm đêm, mộc lan tỏa hương, thơm
ngát một vùng. Tết Trung-Thu hàng năm, chị Vân và em gái chị là Tô thị Lan
được chọn đóng vai Hai Bà Trưng, ngồi trên xe hoa diễn hành. Năm chúng tôi
lên Đệ Tứ th́ thầy Huy dạy Quốc-Văn làm giáo sư hướng dẫn. Thầy Huy mê chị
Tô thị Vân ra mặt. Dù chị Vân không ưa ǵ thầy Huy, nhưng những người đang
theo đuổi chị Vân như anh Bảy, anh Rân, đều ghét thầy cay đắng. Những lúc
thầy ấp cái h́nh Hai Bà Trưng (Vân, Lan) vào ngực, đôi mắt hiu hiu, th́
bọn bạn tôi ức lắm, họ chỉ muốn thoi cho thầy vài thoi.
Nhưng, xem chừng như nhiều cô nữ sinh trường tôi cũng thích nâng khăn sửa
túi cho các giáo sư. Con đường Hoàng-Diệu chỉ dài khoảng hai trăm thước,
mà cũng có cả tá nam sinh ôm hận, bỏ ăn, bỏ học, ngẩn ngơ khi cô nữ sinh
xinh đẹp con gái quan phó tỉnh lên xe hoa về nhà… thầy.
Bạn tôi, có đứa đă trải qua vài trận thất t́nh. Người thất t́nh thường hay
làm thơ buồn day, buồn dứt. H́nh như người thất t́nh dễ trở thành thi sĩ
lắm! Thi sĩ nào cũng biết hút thuốc lá. Khói thuốc làm cho thi nhân có
hứng để viết. Thuốc Cotab thơm ngon hơn Ruby nhiều, nhưng đắt lắm, chỉ có
thầy giáo mới hút Cotab. C̣n học sinh chỉ dám rít Ruby, hợp với túi tiền.
Ba đồng, bốn điếu Ruby. Buổi đó chưa có Ruby Quân-Tiếp-Vụ loại bao in h́nh
anh Chiến Sĩ Cộng-Hoà chân co, chân duỗi. Mới chỉ có Ruby loại bao màu
hồng, có h́nh những đồng tiền vàng dính nhau. Khói Ruby vào phổi làm cho
tâm hồn ta dạt dào, lâng lâng, ngẩn ngơ. Trong sân trường tôi, thi sĩ lềnh
bềnh, phiêu dạt đầy sân… Những tập thơ bằng giấy “pơ lua pho” với chữ viết
bằng ng̣i bút “rông” được chuyền tay, nâng niu như trứng. Trong số những
công tử mới tập tành phun châu, nhả ngọc thời ấy, có vài vị sau này trở
thành thi sĩ thực thụ như (Huỳnh) Hoàng Quy, Thái tú Hạp, Phùng Tiến… Tôi
chưa biết thất t́nh là ǵ nhưng cũng cố theo kịp bạn bè, bắt đầu tập tành
hút thuốc lá. Dù bị mẹ tôi cấm đoán, đôi lúc, tôi vẫn lén mua vài điếu
Ruby lẻ, kiếm nơi thanh tịnh, ngồi hút một ḿnh. Tôi không biết cách ém
khói, rồi để khói ph́ ra đàng mũi, hay nhả khói thành ṿng tṛn, như những
tay lăo luyện. Tôi hớp từng ngụm khói vào mồm, rồi thở ra bằng mồm. Tuổi
tôi lúc đó làm ǵ có nhiều kinh nghiệm sống để mà viết lên cho thành
truyện? Tôi đành tưởng tượng. Cứ ngồi một ḿnh, cho trí tưởng tượng phiêu
du theo khói thuốc, thế là có bao nhiêu đề tài để viết. Mỗi khi làm được
bài thơ nào ưng ư, tôi thường lấy phấn đủ màu mè ngũ sắc “yết” nó lên cái
bảng đen giữa lớp để chia sẻ công tŕnh của ḿnh với bạn bè. Vài tháng một
lần, tôi và mấy người bạn cùng lớp, “xuất bản” một tập thơ viết tay trên
giấy “pơ lua”, chỉ để tặng, không bán (v́ có ai mà thèm mua!) Chúng tôi
sưu tầm những bài thơ hay trên các nguyệt san, đặc san, rồi sao chép lại
thành tuyển tập chuyền tay nhau.
Một hôm, tôi vớ được bài “Paris Có Ǵ Lạ Không Em” của Nguyên Sa, tôi viết nó
lên bảng cho bạn bè thưởng lăm, ai cũng khen thơ ông này có cái phong thái
mới lạ, dễ thương…
Thường th́, khi mê thơ của ai, tôi hay ṭ ṃ t́m hiểu xem người thơ ấy
sống cuộc đời thường ra sao? Ngày đó tôi mê thơ Thái Can. V́ thế, lúc rảnh
rang, tôi hay đạp xe qua phố Nguyễn thái Học. Đường Nguyễn thái Học có nhà
của Bác sĩ Thái Can. Bác sĩ Thái Can chính là tác giả bài thơ bất hủ “Anh
Biết Em Đi Chẳng Trở Về”. Bác Can cũng là thân sinh của chị Thái thị Mai
và anh Thái Thanh, bạn học (Đệ Tứ 1) ngang lớp với tôi trong trường Trần
Quư Cáp. Xe đi ngang nhà Bác sĩ Thái Can thế nào tôi cũng nghển cổ nh́n
vào, quan sát. Đă nhiều lần bác Can bắt quả tang đôi mắt láo liên, dớn dác
của tôi, khiến tôi đỏ mặt. Tôi phải ra sức g̣ lưng, đạp cho xe lướt nhanh.
Chắc bác tưởng tôi bắng nhắng lạng xe trước nhà bác chỉ v́ nhan sắc của cô
con gái cưng của bác? Thực t́nh, tôi không nghển cổ kiếm h́nh bóng chị Mai
đâu, mà tôi ḍm xem bác Thái Can vui hay buồn? Tôi cứ thắc mắc rằng, bị
một trận t́nh, thua thất điên bát đảo như thế, chắc tim bác phải ê ẩm, rầu
rĩ, lâu lắm? Lời thơ của bác buồn ghê…
“Anh biết em đi chẳng trở về!
Dặm ngàn liễu rũ với sương che.
Thôi đừng quay lại nh́n anh nữa.
Anh biết em đi chẳng trở về!”
(Thơ Thái Can)
Bạn cùng lớp tôi ai cũng rơ tôi là “Công-Tử Nhất-Bộ” v́ mỗi năm, tôi chỉ
có một bộ đồng phục. Tôi may bộ đồng phục đó sau khi lănh học bổng mỗi
cuối niên khóa. Một cái sơ-mi trắng và một cái quần xanh. Tôi mặc đồng
phục đi học. Về tới nhà, tôi thay quần áo ra, đem giặt. Khi ở nhà hoặc đi
kèm trẻ, tôi mặc quần áo nhà binh, vừa rẻ, vừa bền. Mờ sáng, đi gánh nước,
tôi cởi trần, mặc quần dài xăn tới đầu gối. Đoạn đường từ nhà tôi tới
giếng nước nhà cô Cư, đèn đường mờ mờ. Lịch tập thể dục hàng tuần của
trường Trần Quư Cáp chia ra, học tṛ con trai tập thể dục vào những ngày
chẵn, Thứ Hai, Tư, Sáu. Học tṛ con gái tập thể dục vào những ngày lẻ, Thứ
Ba, Năm, Bảy. Bạn gái cùng lớp tôi, đi tập thể dục, thường xuyên đụng đầu
một “thi nhân” đang hùng hục leo dốc với hai thùng nước đầy, đung đưa bên
hông. Bọn nữ tặc túm năm, tụm ba, chặn đường tôi, réo gọi om x̣m:
“Anh Vọi ơi! Anh Vọi ơi! Dừng chân cho chúng em tỏ một đôi lời đi!… Anh
Vọi ơi!”
Tiếng chúng nó the thé vang vang trong phố. Cường độ âm thanh tiếng réo
của bọn yêu tinh ấy chắc cũng cao cỡ vài trăm decibels, làm cho những trái
sung trên cây, trong vườn, sau chùa Âm-Bổn rơi lộp độp. Bạn bè trong lớp
thường gọi tôi là anh Vọi. Số là, trong chương tŕnh Quốc-Văn lớp Đệ-Lục
do cô Bạch Vân dạy, mỗi đứa trong lớp tôi phải chọn thuyết tŕnh một tác
phẩm của Tự-Lực Văn-Đoàn. Tôi đă chọn tiểu thuyết “Trống Mái” của Khái
Hưng. Vọi là tên một anh dân chài khù khờ, nhân vật chính trong “Trống
Mái”. V́ tôi cũng có vẻ khù khờ như Vọi, nên sau buổi thuyết tŕnh, tôi
mang thêm một cái tên nữa là anh Vọi. Gặp nhau, thay v́ kêu tên tôi, bạn
tôi cứ, “Anh Vọi ơi!… Anh Vọi ơi!”
Thét rồi, cái tên “Anh Vọi” thành quen.
Ngày tháng thoi đưa, chúng tôi lớn lên lúc nào không nhớ rơ… Trong lớp
tôi, cũng có đôi người thầm thương anh Vọi. Măi sau này tôi mới biết.
Một hôm, Đệ Tứ, gần vào hè, giờ ra chơi, tôi và vài anh bạn ra khu tập thể
dục quay xà ngang. Áo tôi bị quấn vào xà, xẻ dọc. Mấy cô bạn gái xúm vào
vá víu áo tôi. Vá giùm áo tôi xong, bạn đă tan hàng, riêng một nàng chần
chờ không chịu rời gót. Cô ấy tên Thu-Cúc. Phạm thị Thu-Cúc tuổi Mùi,
người Vĩnh-Điện, trọ học ở nhà bà con, gần Chùa Cầu. Thu-Cúc tóc thề ngang
vai, trắng trẻo, dễ thương, nhưng hơi đẫy đà. Tôi hỏi Cúc, “Ủa! mọi người
đi hết rồi, Cúc c̣n đứng đây làm ǵ?”
Cúc đỏ mặt lí nhí hỏi lại, “Áo Long bị rách, về nhà có bị mẹ la rầy
không?”
Tôi cảm động, “Chắc không đâu! Cũng gần hè rồi, mặc cái áo này vài tuần
nữa, nghỉ học, lănh học bổng xong là Long có áo mới liền!”
Thấy xung quanh không có ai, Cúc bạo dạn hỏi tôi, “Cúc có chuyện riêng
muốn nói, Long có nghe không?”
Tôi ngạc nhiên nhưng trả lời ngay, “Ừ! Cúc muốn ǵ cứ nói đi!”
Cúc tuôn ra một tràng mà tôi không ngờ:
“Cúc thương Long, Long có thương Cúc không? Có người đi dạm hỏi Cúc đấy!
Nếu Long không thương Cúc th́ Cúc về quê lấy chồng!”
Tôi điếng người. Người ta nói con gái Quảng thật thà, bạo dạn, nồng nàn,
quả đúng! Tôi nh́n bạn: “Thực ra, cho tới giờ này Long cũng chưa rơ ḿnh
đă yêu ai hay chưa! Long coi Cúc là bạn thôi. Nếu có người thương Cúc, hỏi
cưới Cúc, th́ Cúc về lấy chồng đi!”
Tôi thấy đôi mi Thu Cúc sụp xuống, vài giây sau đôi mắt ấy ngước lên nh́n
tôi u uẩn:
“Dù sao Cúc cũng phải nói cho bạn rơ rằng, gần ba năm nay có một người con
gái đă yêu bạn vô cùng… thôi nhé ngày mai… Cúc sẽ về quê…”
Bạn tôi nhanh chân trở gót vào lớp. Tôi thấy tay nàng đưa lên quệt nước
mắt. Đôi chân nàng như díu vào nhau… Hôm sau Thu Cúc không tới trường. Mọi
người không rơ nguyên do v́ sao cái máy thuộc bài ấy lại vắng mặt ngày thi
Vạn-Vật đệ nhị lục cá nguyệt. Cuối niên khóa, bạn bè trong lớp Đệ Tứ 3
kháo nhau chuyện Thu Cúc về quê, lấy chồng…
Sắp lên đệ nhị cấp, ḷng tôi cảm thấy lo lắng bâng khuâng. Chúng tôi đă
chuẩn bị kỹ và đă chọn lựa xong con đường khoa bảng tương lai. Những người
bạn thân chia tay nhau nơi ngă ba phân ban (A,B,C) của hệ thống giáo dục
đương thời. Ba con đường dẫn tới ba cái bệ phóng vào đời khác nhau. Tôi sẽ
lên Đệ Tam ban Toán (B). Những người quen trong lớp, như chị Tô thị Vân,
theo ban Vạn-Vật (A), anh Phùng Tiến theo ban Văn-Chương (C). Bốn anh bạn
thân của tôi không có ai chịu dấn thêm bước nữa. Anh Bảy thi đậu vào
trường Sư-Phạm Tiểu Học. Anh Rân và anh Mục đứng lại nơi ngă ba, học Đệ Tứ
thêm năm nữa. Riêng anh Lợi th́ nghỉ học để lấy vợ. Không biết anh Trần
ngọc Lợi và chị Ngô thị Xuân Lan tí toáy làm sao mà chị Xuân Lan có bầu.
Chị Lan đi sanh trước ngày chúng tôi đi thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp vài
tuần.
Tôi có hẹn với Nguyễn Nhị (anh bạn quê quán ở Nông-Sơn) rằng, sau khi thi
trung học, tôi sẽ lên nhà anh, cùng anh mượn cái trường tiểu học của xă để
dạy hè, kiếm chút tiền c̣m. Trong hành trang, ngoài sách vở, quần áo, tôi
c̣n mang theo những tập thơ chép tay của tôi và những bạn đồng học khác.
Nông-Sơn trùng điệp núi đồi. Mặt đất khu nhà máy và mỏ than th́ màu đen.
Những ngọn đồi khác vây quanh toàn là rừng thưa và cỏ tranh chen lẫn nhau.
Dưới thung lũng là những khe ruộng lúa mùa và những cánh đồng mía. Mía
đang lên cờ. Gió lượn quanh khe, làm rạp những ngọn cờ mía. Gió vô h́nh,
vậy mà tôi có cảm tưởng rằng ḿnh đă nh́n thấy gió đang “đi” trong thung
lũng. Gió đi từ ruộng mía, lên đồi tranh, rồi gió trốn vào rừng. Ngôi
trường làng bé tí teo. Học tṛ tới trường, có em chỉ bận trên ḿnh cái
quần xà-lỏn. Mỗi em h́nh như chỉ có một tập vở bẩn thỉu, góc tập bị cuốn
cong veo. Tôi bùi ngùi tự nhủ thầm rằng, tuổi thơ của tôi, về phần vật
chất, c̣n sáng sủa hơn tuổi thơ của những em bé này. Buổi chiều không có
lớp; học tṛ mắc đi kiếm củi, giữ trâu, ṃ cua, trong lạch. Hoàng hôn, tôi
thường tản bộ ra ngồi bên ghềnh đá. Đây là đầu nguồn của sông Thu-Bồn.
Ḍng nước uốn khúc quanh chân núi Chúa. Dưới thung lũng, trong ruộng bùn,
những con trâu đang thoải mái nằm dầm ḿnh nghỉ ngơi. Chiều hè, sương
trắng rơi từ từ trên rừng xanh. Gió nhè nhẹ đưa những sợi mây mỏng như tơ
bay về cuối trời. Tôi lần dở những tập thơ viết tay trên giấy pơ-lua và
trên tập vở, ḷng chợt buồn vô cớ. Tuổi thanh niên, mà sao có những lúc
tôi thấy ḷng trống vắng quá? Tôi bâng khuâng nghĩ về tương lai, mà không
biết tương lai ḿnh sẽ ra sao…
Ở Nông-Sơn được một tuần lễ, th́ chị Quá và chị Thảo (bị ở lại Đệ Tứ) nhắn
tôi về gấp để kèm toán cho họ luyện thi trung học, tiền công hai chị hứa
trả cho tôi cao hơn nhiều so với số tiền sẽ nhận được do dạy học ở
Nông-Sơn. Thực t́nh, tôi không muốn rời Nông-Sơn. Nơi đây xa hẳn phố
phường phồn hoa, tục lụy. Cảnh ở đây như cảnh tiên. Người ở đây tuy nghèo
nhưng rất hiền hoà, hiếu khách. Tôi không muốn chia tay những đứa học tṛ
nhỏ của tôi, những bé quê chăn ḅ, mót củi, thực thà, dễ thương. Nhưng tôi
chợt nghĩ tới niên học sắp đến. Chính phủ sẽ không trợ cấp học bổng cho
học sinh đệ nhị cấp. Tôi rất cần tiền để mua sách vở, áo quần, giày vớ.
Tôi buồn rầu lên xe đạp rời núi Chúa.
Vào năm Đệ Tam, v́ không c̣n học bổng, trong niên khoá, tôi phải đi dạy
kèm buổi tối. Học tṛ của tôi là hai bé trai tiểu học, em của chị Thảo.
Cuộc sống của gia đ́nh tôi khá hơn, v́ mỗi tháng tôi kiếm thêm được ba
trăm đồng, nhưng công việc học hành của tôi lại bận bịu hơn. Tôi phải học
hành chăm chỉ hơn, v́ lệnh động viên đă bắt đầu. Chậm chân rớt lại đàng
sau, có thể bị gọi đi lớp hạ sĩ quan. Đối với vấn đề văn nghệ, văn gừng,
thơ phú, tôi cũng thờ ơ. Thời gian này tôi không có bạn gái, v́ không có
nữ sinh nào theo phân ban Toán (B). Nhiều lần áo tôi rách bươm, không
người vá giùm.
Suốt mùa hè cuối năm Đệ Tam tôi kèm Toán, Lư, Hóa cho hai chị em con nhà
giàu ở đường Cường-Để. Cô chị tên là Tuyết Huệ đă có bồ là anh Tung, con
trai ông trưởng ty Thú Y. Anh Tung học ngang lớp với tôi. Cô em tên là
Thục Anh. Hai chị em nhà này tính t́nh trái ngược hẳn nhau. Tuyết Huệ lúc
nào dáng dấp cũng đượm buồn. Thục Anh th́ vui tươi, nói cười như con sáo
suốt ngày. Thục Anh học nhanh hơn Tuyết Huệ. Bạn bè tôi thấy tôi có hai cô
học tṛ xinh đẹp, lại con nhà giàu, họ thường nói bóng gió để ghẹo tôi,
“Mi đúng là chuột sa hũ nếp!”
Thuở đó, ở Hội-An, chuyện gia sư thương học tṛ, học tṛ thương gia sư,
không có ǵ là lạ. Đôi lần cuối giờ học, khi Thục Anh tiễn tôi ra cửa, tôi
thấy có những cặp mắt ṭ ṃ của xóm giềng theo dơi. Tôi cũng thấy những
cái nguưt dài, đuôi mắt đắng cay, của chị em nhà kia bên đường đối diện.
Tôi th́ cứ ngơ ngơ chẳng có ư thương ai. Anh Vọi chỉ mong dạy cho xong
bài, chiều về rủ anh Sếu Vườn hàng xóm là Doăn thiện Niệm, phóng xe đạp
xuống đập Phước-Trạch câu cá. Gần năm mươi năm sau (2006), cô học tṛ ngày
xưa, từ Oakland (CA) gọi điện thoại cho anh gia sư đang ở Seattle (WA),
giọng Thục Anh vẫn liến thoắng, trách móc, “Ngày đó anh bỏ Hội-An, anh lên
Pleiku. Anh mê ‘em Pleiku má đỏ môi hồng’ anh quên Hội-An” Tôi chợt chạnh
ḷng, bâng khuâng…
Rồi ba năm vất vả, bù đầu, bù cổ cũng qua. Xong cái bằng Tú Tài 2, tôi nhờ
anh bạn Hồ Hùng giới thiệu với người anh của anh ta là hiệu trưởng một
trường bán công ở Điện-Bàn, ông ta thuê tôi dạy giờ môn Toán những lớp nhỏ
đệ nhứt cấp. Người ta nói rằng, nếu làm thầy giáo, có thể xin hoăn dịch.
Thời gian này chiến tranh đă bắt đầu nhen nhúm ở đâu đó, xa xa…
Tôi mới mở hàng nghề gơ đầu trẻ được một tuần lễ th́ bọn bạn cùng lớp tôi
ùn ùn kéo nhau ra Huế thi vào Đại-Học Y-Khoa. Học nghành này cũng được
hoăn dịch. Tôi bỏ dạy học, theo chân tụi bạn đâm đơn xin học nghề thầy
thuốc. Tôi được chấm đủ điểm theo học lớp Dự-Bị Y-Khoa năm ấy. Trước khi
vào trường để học cái nghề bác sĩ “hái ra tiền”, tôi phải lo cho cái dạ
dày trước đă. Thế là, suốt một tháng mùa hè nắng cháy, tôi lang thang
trong đường phố Cố Đô, thăm ḍ những nhà cần người kèm trẻ, dạy giờ. Mỏi
chân, tôi dừng bên ḍng An-Cựu, vớt nước sông ấp lên mặt cho mát. Người ta
thường hát, “An-Cựu nắng đục mưa trong” Thực tế h́nh như không đúng như
vậy?
Hè đó, tôi đă ngồi trên bực thang bên bờ, soi bóng ḿnh trong nước An-Cựu
biết bao lần. Tôi thấy nước trong veo, nh́n rơ tận đáy. Dưới đáy nước,
những con cá bống thệ to bằng ngón chân cái, ḅ từ từ trên nền cát. Con
bống quẫy đuôi. Cái quẫy đuôi tạo nên những quầng cát cuộn, lập lờ, lấp
lánh. Trên mặt sông, từng cụm lục b́nh hoa tím lững thững trôi. Trong ḷng
sông, in h́nh một bầu trời xanh, mây trắng dật dờ. Nhăn hai bên đường đă
có lồng. Phượng nở hoa, ve sầu hát, chim hót, bướm bay. Mùa hè, dưới nắng,
nước An-Cựu trong vắt.
Tôi ở trọ tại số 1 đường Báo-Quốc. Chùa Báo-Quốc nằm trên đỉnh đồi. Nhà
tôi trọ ở dưới chân đồi, bên kia đường. Đêm đêm nghe kinh kệ, chuông chùa;
đôi lúc tôi đă có ư giă từ cuộc đời ô trọc, đi tu, để t́m đường cứu nhân
độ thế…
Tháng 9 năm 1963, một người bạn tôi đi khám sức khoẻ ở Quân Y Viện
Duy-Tân, Đà-Nẵng. Anh ta lo hoàn tất hồ sơ sức khoẻ để theo học khóa Sĩ
Quan Hải-Quân. Tôi theo bạn vào thăm Quân Y Viện. Khi tôi đang lang thang
quanh khu nhận bệnh th́ một chiếc xe Jeep tải thương ào tới. Bên hông xe
có treo cái bánh sơ-cua vẽ h́nh đầu cọp nhe nanh. Xe đậu trước cửa pḥng
nhận bệnh. Trên băng-ca, một thương binh, đầu, ḿnh băng kín. Chiếc Jeep
thứ hai, có cần câu máy truyền tin, bám đuôi sau xe thứ nhứt. Một sĩ quan
nhảy xuống. Anh ta ôm xốc người thương binh, chạy ào vào pḥng nhận bệnh.
Anh trung úy Biệt Động Quân hối hả, “Cấp cứu! Xin quư vị cứu giùm người
lính này cho tôi! Thủ tục nhập viện sẽ làm sau! Mau lên! Quư vị làm ơn!”
Cả pḥng nhận bệnh nhốn nháo. Bác sĩ, y tá, nhân viên cứu cấp, vội vă
chuyển người thương binh sang xe đẩy, đưa anh vào pḥng mổ. Anh trung úy
không được phép vào pḥng giải phẫu. Anh bồn chồn, đi loanh quanh bên cái
xe Jeep. Miệng anh bập bập điếu thuốc lá, khói phà liên hồi. Một sĩ quan
khác, một thiếu úy, trên ngực có huy hiệu h́nh con rắn leo trên cây kiếm
chúi đầu xuống (quân y) ngồi chờ trước vô-lăng xe tải thương, dáng băn
khoăn. Tôi mon men làm quen,
- “Thiếu úy! Đánh nhau ở đâu vậy, thiếu úy?”
- “Trên Giàng! Cậu có nghe Hiên, Giàng không? Trên núi, sát biên giới
Lào.”
- “Đánh lớn lắm hả thiếu úy?” Tôi ṭ ṃ hỏi thêm.
- “Cũng không lớn lắm. Đại đội chạm đại đội. Có điều là đụng địch trong
rừng già, tản thương chậm trễ, khó khăn…”
- “Bên ḿnh bị thiệt hại có nặng không thiếu úy?”
- “Thường thôi! Một chết, năm bị thương. Chỉ một ca này là nặng.”
- “Ông trung úy kia làm chức vụ ǵ vậy hả thiếu úy? Sao ổng có vẻ lo lắng
cho anh lính bị thương quá vậy?”
- “Trung úy đại đội trưởng đó! Chúng tôi sống chết có nhau. Anh binh nh́
bị thương, ông trung úy lo lắng cũng là chuyện thường ngày ở đây thôi! Khi
nào cậu vào lính, có dịp ra chiến trường, cậu sẽ thấm cái t́nh huynh đệ
chi binh…”
Suốt mấy ngày sau, trong đầu tôi cứ ám ảnh với khúc phim tản thương đầy
xúc cảm trong quân y viện. Không bút nào tả nổi vẻ đẹp vừa oai dũng, vừa
cảm động của một sĩ quan hai tay ẵm một thuộc cấp bị thương ào vào pḥng
nhận bệnh. Câu “Xin quư vị cứu giùm… Quư vị làm ơn!” cứ văng vẳng bên tai
tôi. Tiếng cầu xin của người chỉ huy ấy thống thiết như tiếng của một
người mẹ. Hoạt cảnh ngắn ngủi hôm đó đă khiến đời tôi thay đổi.
Tuần sau tôi ra Đà-Nẵng, hướng về cầu Tŕnh minh Thế, t́m pḥng Tuyển-Mộ
Nhập- Ngũ Quân-Đoàn 1. Tôi xin cái đơn gia nhập Khóa 20 /Trường Vơ-Bị
Quốc-Gia Việt-Nam. Từ đấy, tôi vẫn mê thơ Nguyễn Bính, Thái Can, Nguyên
Sa, nhưng tôi hút thuốc lá Lucky và bắt đầu đọc “L’Art De Commander” và
“Tôn Ngô Binh Pháp”. Cũng từ đấy, tuổi thanh niên của tôi không c̣n những
lúc thấy ḷng ḿnh trống vắng nữa. Có cả trăm con đường trước mặt dẫn vào
tương lai, nhưng tôi đă quyết định chọn con đường lên Hiên, lên Giàng để
phục vụ quê hương.
Đầu năm 1966 tôi về lại Hội-An. Thành phố đă đổi thay nhiều. Dinh cơ của
Ty Cảnh-Sát Tỉnh và Quận Hiếu-Nhơn đă được xây dựng trên ngơ vào giếng,
sau nhà cô Cư. Biết t́m đâu dấu tích con đường ṃn ngày xưa anh Vọi đi
gánh nước sớm mai? T́m đâu những tiếng réo lanh lảnh của bọn nữ yêu tinh
đi tập thể dục mỗi sáng tinh mơ ngày lẻ? Có chăng, không đổi, là ḍng
Thu-Bồn, chiều chiều sương giăng, buồn muốn chết, “Yên ba sầu sát nhân” –
(Bạch cư Dị)
Đi ngang qua trường Trần Quư Cáp, tôi chợt nhớ, năm nào, trong một giờ
giảng văn, thầy Huy có nói “Thầy đoán rằng, sau này em Vương mộng Long và
em Phùng Tiến sẽ thành công trong nghề viết văn…”
Thầy ơi! Không phải vậy đâu! Thực tế đă không diễn ra như thầy từng tiên
đoán! Ḍng đời không lững lờ như mặt nước Thu-Bồn lúc xuân về. Bằng cớ là,
thầy đă cưới một cô không phải chị Tô thị Vân. Bạn bè tôi, mỗi đứa đă đi
mỗi phương. Anh Lê hữu Mục đă lên tới cấp trung sĩ nhứt, đồn trú măi trong
vùng 3. Anh trung sĩ Trần ngọc Lợi đă có thêm hai đứa con. Anh giáo viên
Lê văn Bảy qua đời v́ bạo bệnh. Anh Ngô Rân vừa nối nghiệp ông cụ thân
sinh, thành ông Cảnh-Sát. Tôi, anh Vọi Fai-Foo của trường trung học Trần
Quư Cáp, đă trở thành một thiếu úy đại đội trưởng của Tiểu đoàn 11/ Biệt
Động Quân.
Sau những lần chạm địch ở Tháp Bằng-An, Ải-Vân, Trà-Đ́nh, Bà-Rén,
Hương-An, tôi theo xe tải thương tới Quân Y Viện Duy-Tân, gởi gấm những
thuộc cấp bị thương của ḿnh cho nhân viên pḥng nhận bệnh. Lâu dần, tôi
thành người quen của pḥng nhận bệnh. Trong thời gian gần nửa năm, tôi đă
hành quân qua nhiều thôn làng hẻo lánh triền sơn Trà-Kiệu, Thăng- B́nh.
Tuy tôi chưa có dịp lên Hiên, lên Giàng, nhưng tôi đă biết thế nào là,
“cái t́nh huynh đệ chi binh”. Tôi đă hiểu lư do tại sao ngày đó, ông trung
úy lo lắng bồn chồn, khi anh binh nh́ thân ḿnh đầy máu được đưa vào pḥng
mổ. Cái t́nh huynh đệ chi binh ấy không bút giấy nào mô tả rơ ràng được.
Chỉ biết rằng, thiếu nó, chúng tôi không sống được. Cái t́nh ấy nặng và
sâu không có ǵ so sánh nổi. Nó là sợi giây vô h́nh cột buộc chúng tôi
khắng khít với nhau, thượng cấp và thuộc cấp, thầy và tṛ, anh và em. Cái
t́nh ấy không thể dùng tiền mà mua. Không có nó, chúng tôi không c̣n là
quân nhân…
Vương Mộng Long
(Viết để nhớ về bạn bè của tôi ở trung học Trần Quư Cáp Hội-An, và nhớ về
những thuộc cấp của tôi trong binh chủng Biệt Động Quân/QLVNCH).
Seattle, tháng 11 năm 2006
|