LTS.- Sau ngày xâm lăng xong nước Việt Nam Cộng Ḥa của tập đoàn Việt gian cộng sản, tức đảng Cộng-sản Việt Nam từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa lấn chiếm, 30/4/1975. Hàng triệu người dân của nước VNCH đă phải bỏ nước ra đi tỵ nạn CS t́m Tự Do nơi xứ người bằng mọi phương tiện có được.

 

Cho tới nay, đă 37 năm, vết thương của Dân Tộc vẫn c̣n in đậm, và chưa kép kín!!!

 

Thế nhưng, qua những thảm cảnh hằng trăm ngàn nạn nhân trên đường t́m Tự Do đă phải đánh đổi, gánh chịu; tại hải ngoại đă và đang có những phần tử phản bội lại lư tưởng, chính nghĩa của người Việt tỵ nạn CS chúng ta. Chúng lần lượt làm tay sai cho lũ Việt gian buôn dân bán nước để cầu danh vọng và lợi lộc cho cá nhân cùng bè đảng.

 

Kính mời quư độc giả đọc lại những ḍng tự thuật của một trong muôn vàn thảm cảnh mà người dân Việt đă phải gánh chịu trên con đường t́m Tự Do.

 

 

Trường hợp của Thuyền Nhân Vũ Duy Thái


(Tự thuật từ trại tị nạn Songkhla, Thái Lan –Tháng 4,1980)



Tôi tên là Vũ Văn Thái, sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936 tại Hóa Lộc, Tuyên Sơn, Ninh B́nh (Bắc Việt). Thuở nhỏ rất nghèo, phải chăn trâu cắt cỏ từ lúc 5 tuổi. Mồ côi cha năm 10 tuổi, mẹ ốm đau thường xuyên, nhưng lần hồi đến năm 23 tuổi th́ đời sống tương đối dễ chịu hơn với nghề thợ may.


Tôi di cư vào Nam năm 1954 và lập gia đ́nh vào ngày 6-4-1958 ở xứ An Lạc, Gia Định. Nhà tôi tên là Đinh Thị Bằng, sinh năm 1940 tại Phú Nhai, Nam Định (Bắc Việt). Nhà tôi cũng thuộc thành phần di cư năm 1954. Lúc mới lấy nhau, chúng tôi rất nghèo. Tiền đám cưới có 6,000 bạc chúng tôi cũng lo không nổi phải đem bán cái máy may được hai ngàn và vay mượn bạn bè thêm bốn ngàn nữa mới tạm đủ. Như thế nhà tôi đă khởi sự chia sẻ với tôi nỗi gian nan, vất vả của đời sống ngay từ lúc mới bước chân về nhà chồng. Những năm đều sống thiếu thốn cực nhọc trôi qua trong sự đảm đang, tần tảo của nhà tôi. Là một phụ nữ yếu đuối về thể chất nhưng lại rất mạnh mẽ về tinh thần, nhà tôi đă phấn đấu, hy sinh rất nhiều để lo lắng cho chồng con. Gần như trong suốt cuộc đời, nhà tôi không được hưởng thụ ǵ, không có một thói quen giải trí nào, không ưa thích một điều ǵ ngoài niềm vui lo toan sắp xếp công việc tề gia nội trợ, chăm lo bữa ăn giấc ngủ cho chồng cho con. Lúc nào nhà tôi cũng cố gắng sắp xếp để cho chồng con được ăn ngon, mặc đủ. Dưới mắt tôi, nhà tôi là một phụ nữ tuyệt vời, một mẫu người phụ nữ Việt Nam đảm đang, trung hậu, hiền ḥa, luôn luôn là niềm an ủi khích lệ, là chỗ dựa vững chắc cho toàn thể gia đ́nh.


Chúng tôi sinh hạ được tất cả 7 con, tuần tự gồm có:


1 Giuse Vũ Duy Thanh sinh năm 1959

2. Vincente Vũ Duy Khanh sinh năm 1961

3. Phero Vũ Duy Tuấn sinh năm 1963

4. Maria Vũ Thị Thanh Thủy sinh năm 1966

5. Maria Vũ Thị Thanh Thủy Trang sinh năm 1968

6. Martin Vỹ Duy Tài sinh năm 1971

7. Phero Vũ Duy Trí sinh năm 1975


Gia đ́nh tôi được kể như hoàn toàn hạnh phúc nếu như không có sự sụp đổ miền Nam, đất nước rơi vào tay Cộng Sản (CS). Là một gia đ́nh Thiên Chúa giáo ngoan đạo, các con tôi đă thụ hưởng một nền giáo dục nằm trong t́nh yêu thương của Thiên Chúa do đó không bao giờ chúng tôi có thể sống nổi dưới ách độc tài, đàn đáp của CS. V́ thế chúng tôi đành quyết định bỏ nước ra đi.

 

 


Chuyến vượt biển thứ nhất, vợ chồng tôi cho ba cháu trai đầu đi trước. Tầu khởi hành từ bến Bạch Đằng, Sài G̣n vào ngày 1 tháng 10 năm 1978 chở theo 130 người. Nhưng chỉ đi được 4 ngày th́ chết máy. Ghe lạc vào một đảo san hô đầy đá ngầm thuộc đảo Bành Hồ (Đài Loan). Sống ở đó 50 ngày, thực phẩm hết, số người chết v́ đói cứ tăng dần và những người sống sót đành xẻ thịt người chết mà ăn để sinh tồn. Hai cháu lớn của tôi, Vũ Duy Thanh và Vũ Duy Trung đă bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát này. Các cháu đă chết và xác của các cháu đành cho bạn đồng ghe ăn thịt.


Măi tới sáng ngày thứ 50 trên đảo mới có tầu đánh cá Đài Loan tới cứu. Cả ghe 130 người chỉ c̣n sót có 60 người. Nhưng trên đường từ đảo san hô vào Đài Loan, lại có thêm một số người chết nữa v́ quá kiệt sức. Rút cục khi đặt chân lên đất liền ở Đài Loan, chỉ c̣n 34 người sống sót, trong số đó có con trai thứ ba của tôi là Vũ Duy Tuấn và một đứa con đỡ đầu của tôi nữa tên Trịnh Vĩnh Thụy. Hiện cháu đang ở Đài Bắc. C̣n cháu Thụy, nhờ có thân nhân ruột thịt bảo lănh nên đă định cư tại tiểu bang California, Hoa Kỳ.


Trước thảm kịch có hai anh ruột bị chết thảm, cháu Tuấn v́ sợ bố mẹ đau buồn nên đă dấu biệt tin tức. Măi tới ngày 20-12-1978, một người bạn của tôi tên Đỗ Minh Ngự ở Mỹ viết thư báo tin, gia đ́nh tôi mới được rơ tin tức về chuyến đi kinh hoàng đó. Vào đúng thời điểm này, gia đ́nh chúng tôi lại đang chuẩn bị vượt biển chuyến thứ hai. Chung tôi làm lễ cầu nguyện 3 ngày liền cho hai cháu ở nhà thờ An Lạc, Chí Ḥa, rồi mặc dù vô cùng đau đớn, chúng tôi vẫn tiếp tục xúc tiến cuộc hành tŕnh vượt biển với cả gia đ́nh.


Chúng tôi rời Sài G̣n vào ngày 28 tháng 12 năm 1979 lúc 4 giờ sáng để đi xuống Rạch Giá. Qua 4 giờ sáng ngày 29-12 th́ ghe của chúng tôi ra khơi, chiếc ghe mang số VNKG 0980, dài 13 m, ngang 2,5m, chở 120 người. Ghe chạy tới 7 giờ chiều ngày 30-12 th́ gặp hải tặc Thái Lan (trên tàu cướp có treo cờ Thái Lan), chúng xáp lại cướp lần đầu. Cướp xong, chúng bỏ đi. Qua 8 giờ sáng ngày 31-12 lại gặp một tầu cướp khác. Lần này cướp xong, chúng phá máy tầu. Một chuỗi 8, 9 tiếng nổ phát ra ở hầm may làm chiếc ghe lập tức bị chao đi và ch́m lỉm ngay ít phút sau đó. Tất cả mọi người trên ghe đều la khóc kinh hoàng. Vào những giây phút cực kỳ khiếp đảm này, vợ chồng chúng tôi không nói được với nhau câu nào. Tôi chỉ c̣n kịp nh́n thấy nhà tôi với vẻ mặt hết sức kinh hoàng, thảng thốt. Rồi tôi cúi xuống hôn hai con chót của tôi là cháu Tài (8 tuổi) và cháu Trí (4 tuổi). Tôi cũng nghe thấy tiếng cháu Thùy kêu la: “Cha ơi... chú Tuynh ḱa..” và cháu Trang la lên “Cha ơi ... chết rồi..” Rồi ghe ch́m lỉm. Lúc đó nhà tôi vẫn ở bên cạnh tôi. Nhưng nhà tôi không hề níu kéo lấy tôi. Đây là sự hy sinh cao cả cuối cùng của nhà tôi dành cho chồng con. Nhà tôi không muốn tôi bận bịu, vướng mắc giữa sóng biển để tôi có cơ hội cứu các con. Khốn thay, một con sóng độc ác đă ùa tới nhận ch́m tất cả những người thân yêu của tôi. Tôi không c̣n thấy ai nữa. Chỉ có sóng nước ngập đầu. Ngay lúc đó tôi được một người cháu tên Phương níu tôi lại và tôi bíu vào một cái can nước. Tôi ôm cái can một cách hoàn toàn theo bản năng. Và lúc tôi mở được mắt ra th́ tôi thấy nhà tôi vật vờ ngay trước mắt.. Rồi sau đó tôi ngất đi, không c̣n biết ǵ nữa.


Khi tỉnh dậy tôi nh́n thấy ḿnh đang nằm trên tàu của hải tặc. Bên cạnh tôi là hai em Hùng và Châu đang làm hô hấp nhân tạo cho nhà tôi, chắc là nhà tôi vừa được các em vớt lên. Tôi cũng gượng dậy để ra phụ giúp nhưng bọn hải tặc đă ra hiệu là phải hất nhà tôi xuống biển. Thật không c̣n ǵ tan nát hơn ḷng tôi lúc đó. Tôi nhào lại, ôm nhà tôi vào ḷng, đau đớn nh́n nhà tôi hai mắt vẫn c̣n mở nhưng thân h́nh đă bất động. Tôi đă đă dùng tay vuốt cho hai mắt của nhà tôi khép lại rồi tôi khiêng ở đầu, hai em Hùng và Châu khiêng ở chân hạ nhà tôi xuống biển. Đó là lần cuối cùng tôi ở cạnh nhà tôi. Những giây phút đau đớn nhất của một đời người. Một cơn sóng áp tới. Biển xanh bao vây nhiều sóng dữ đă vĩnh viễn lôi cuốn đi người vợ thân yêu nhất đời của tôi. Không bao giờ tôi c̣n gặp lại. Không có cả một nấm mồ để tôi lui tới thăm viếng. Một thoáng lay động trên mặt biển. Rồi vĩnh viễn chia ĺa. Ôi đau đớn nào cho bằng sự đau đớn mà tôi đă phải chịu đựng. Tất cả những người thân yêu nhất của tôi đă ra đi trong khoảnh khắc. Khi chết, nhà tôi bận một cái quần đen, một cái áo montagut đen. Nét mặt nhà tôi không tỏ vẻ đau đớn ǵ cả. Chỉ có nét thảng thốt thoáng qua trên khuôn mặt b́nh thản. Đó là h́nh ảnh cuối cùng của nhà tôi mà tôi ghi nhớ được trước giây phút ngàn năm vĩnh biệt.


Kiểm điểm lại, chẳng những nhà tôi chết trên biển mà tất cả bốn đứa con của tôi đều chết đuối hết, cháu Thanh Thùy, cháu Thùy Trang, cháu Duy Tài, cháu Duy Trí, những người thân yêu nhất của đời tôi đă vĩnh viễn đi vào ḷng biển sâu. Tôi tưởng rằng nếu trên đời này có những thảm họa đau đớn nào th́ thảm họa giáng xuống gia đ́nh của tôi phải kể là một trong những thảm họa lớn nhất, khủng khiếp nhất, vượt quá sức chịu đựng của một con người... Cùng số phận với vợ con tôi c̣n có 65 người khác nữa đi cùng ghe với tôi cũng đă bị chết ch́m. Như thế, cả thảy 70 sinh mạng thuyền nhân trong ghe này đă bị chết dưới bàn tay bạo tàn của hải tặc. Số c̣n lại được hải tặc đưa vào đảo Kra, một ḥn đào nằm trơ vơ giữa biển cả trong Vịnh Thái Lan. Đảo này bây giờ trở thành địa ngục của dân Việt Nam tị nạn bằng thuyền. Bởi v́ bất cứ ai bị đưa vào đây đều trở thành nạn nhân của sự bạo hành: Tra tấn đàn ông để khảo của, và bắt chỉ chỗ trốn của phụ nữ, c̣n phụ nữ th́ lẩn lút trong hốc núi, trong rừng sâu hay trong vách đá ngầm nhô ra ngoài biển. Trên đảo có nhiều dấu tích thảm thương của đồng bào đi trước để lại như những hàng chữ viết lên vách đá, những mớ tóc đàn bà vương văi rải rác khắp mọi nơi (chắc là được cắt đi để giả trai) và cả những xác thuyền, những ngôi mộ của những người đă bỏ xác ở đó.


Chúng tôi được đưa lên đảo vào lúc 6 giờ chiều ngày 31-12 năm 1979. Ḷng đớn đau, thân xác ră rời, bệnh hoạn. Các em tôi phải t́m kiếm cỏ khô trải thành nệm cho tôi nằm, lo t́m thức ăn cho tôi ăn. V́ tôi quá đau ốm nên chú Chiếu đă chịu khó đi mày ṃ ở khắp mọi chỗ, ḅn mặt ở những nơi có vật dụng vương văi của đồng b ào đi trước bỏ lại để t́m kiếm cho tôi những viên thuốc. Có những viên đă vữa nát v́ nắng mưa, có những viên ṃn vẹt chỉ c̣n lại một phần tư nhưng tôi vẫn cố nuốt để cầm cự được cho sức khỏe đă vô cùng suy sụp của tôi.


Sáu ngày trên đảo là sáu ngày buồn thảm, kinh hoàng. Đói, bệnh và những nỗi nhớ thương, đau đớn đến tận cùng của tâm hồn tôi. Trong khi ấy, các phụ nữ đi cùng ghe vẫn phải lẩn trốn như những con vật vô phương tự vệ trước những cuộc lùng sục bạo tàn của hải tặc.


Đến ngày 6 tháng 1 năm 1980, chúng tôi được Cao Ủy LHQ phát hiện (bằng trực thăng bay qua đảo) và đưa thuyền ra đón vào quận Pakphanang thuộc tỉnh Nakorn Sri Thamaraj. Ở đó 18 ngày làm thủ tục với cảnh sát Thái, th́ chúng tôi được đưa về trại Songkhla ngày 23-1-1980.

 


Hôm nay là ngày 10 tháng 4 năm 1980, là ngày thứ 100 nhà tôi và các cháu chết trên biển, trong Vịnh Thái Lan trên đường vượt thoát xứ CS để đi t́m tự do. Tôi đang ở trại tị nạn Songkhla. Cách đây 50 ngày, Cha Tuyên Úy Joe Devlin đă dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho nhà tôi và các con tôi tại nhà thờ ở trong trại. Hôm nay, nhân dịp 100 ngày, Người cũng dâng lễ cầu nguyện cho. Tôi vô cùng đớn đau, vô cùng chua xót nhớ lại những người thân yêu nhất của đời tôi. Vợ tôi, sáu con tôi đă vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại.


Lạy Chúa, xin Chúa hăy xót thương cho những linh hồn đă chết đớn đau trong thảm họa đớn đau chung của cả Dân Tộc Việt Nam chúng con. Xin Chúa hăy cứu vớt linh hồn vợ con, các con của con để đưa tất cả về nơi an nghỉ b́nh an hạnh phúc đời đời nơi nước Chúa. Xin Chúa hăy giúp con đầy đủ can đảm để đứng vững sau cơn gió băo khủng khiếp của đời người, để cho con c̣n đầy đủ minh mẫn, đủ sức khỏe để lo lắng cho đứa con trai duy nhất của con c̣n đang sống ở Đài Loan. Con đă chịu đau thương quá nhiều. Con cầu nguyện ơn Chúa ban xuống cho tất cả thân nhân c̣n lại của con, các đồng bào của con, những người sẽ vượt biển ra đi đều tới bến bờ b́nh an.


Songkhla, ngày 10 tháng 4 năm 1980

Vũ Duy Thái

(Nhân giỗ 100 ngày của vợ và các con chết trên Biển Đông) 

 

 

 

Vinh Danh QLVNCH     Tin Tức - B́nh Luận     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính