Xuân từ trong ấy...

 


 

Vơ Hương-An


 

 

Xuân từ trong ấy mới ban ra,

Xuân chẳng riêng ai, khắp mọi nhà.  

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 

Đó là hai câu mở đầu một bài thơ Xuân của Tú Xương  hồi đầu thế kỷ XX, khi vua đang c̣n ngự ở Huế.  Tín hiệu mùa Xuân không phải đến từ thiên nhiên, từ đâu đó nơi lộc non trong vườn, từ nụ mai hay cành đào trước ngơ, mà  phải từ “trong ấy”, chốn kinh đô.  Bánh xe thời gian vẫn quay nhưng vua chưa ban lịch th́ Xuân chưa tới.  Vua đă vắng bóng từ hơn nửa thế kỷ nay, không biết cái “hồi xưa” ấy, cái “lộ đồ” ăn Tết của vua có khác chi dân không?  Xem nào ...

 

 

Lễ Ban Sóc 

 

Đó là lễ ban hành lịch năm mới (âm lịch) do Khâm Thiên Giám của triều đ́nh biên sọan và ấn hành.   “Sóc” là ngày mồng 1 âm lịch (ngày rằm gọi là “vọng”).  Hằng năm, cứ đúng ngày mồng 1 tháng Chạp th́  lịch năm mới được ban hành, nên mới gọi là Ban Sóc.

 

Sáng hôm đó, các quan  và các hoàng thân, trong  phẩm phục đại triều, phải tề tựu đông đủ và sắp hàng nghiêm chỉnh trước cửa Ngọ Môn, quan Văn bên trái   (từ trong nh́n ra), quan Vơ bên phải, các hoàng thân sắp hàng cùng một phía với quan Vơ, theo thứ tự cấp lớn đứng trước, cấp nhỏ đứng sau, y như lễ thiết đại triều nghi tại điện Thái Ḥa vậy.  Đúng giờ đă định, xa giá của vua từ điện Cần Chánh ra đến cửa Ngọ Môn, chuông trống trên lầu  Ngũ Phụng (lầu trên cửa Ngọ Môn) đổ hồi, vua bước lên lầu  và an vị trên ngự tọa  th́ chuông trống cũng vừa chấm dứt.  Chín phát ống lệnh nổ vang trước Kỳ Đài.

 

Ở dưới sân , một quan đại thần thừa mệnh vua, công bố việc ban lịch mới. Tất cả các quan hướng về lầu Ngũ Phụng lạy năm lạy,  và cuộc lễ  Ban Sóc chấm dứt, đơn giản chỉ có thế.  Vua về nội điện, các quan giải tán.  Việc phân phối lịch đến các Bộ, Viện và các tỉnh do Bộ Hộ (Bộ Tài chánh và Kinh tế) phụ trách.   Cũng có năm vua không có mặt, chẳng hạn vào dịp lễ Ban Sóc cho năm Ất Măo, 1915, đời Duy Tân, tuy nhiên các quan vẫn phải hướng về cái ngự tọa trống không đó, lạy năm lạy như thường.

 

Thời xưa, lễ Ban Sóc là tín hiệu mùa Xuân.  Lộ đồ ăn Tết của tŕều đ́nh và trăm họ bắt đầu từ đây.

 

 

Lễ Phất Thức

 

Sau lễ Ban Sóc th́  mọi người có thể chuẩn bị ăn Tết theo hoàn cảnh và khả năng của ḿnh. Với triều đ́nh, bước thứ hai là lễ Phất Thức.

 

“Phất“ là phủi (bụi); “thức“ là lau chùi.  Mỗi năm một lần, triều đ́nh  đem ấn tín và các bảo vật khác của Nhà Nguyễn ra lau chùi sạch sẽ để chuẩn bị đón năm mới. 

 

Lễ này thường diễn ra vào hạ tuần tháng Chạp ta.  Nội Các - văn pḥng của vua - chọn ngày và lập danh sách những người tham dự để tŕnh lên vua quyết định.  Chỉ có các hoàng thân, các quan Văn, Vơ vào hàng Nhất, Nhị phẩm, nhân viên Viện Cơ Mật và Nội Các là trong số những người được đề nghị.  Vào đúng ngày đă định, tất cả  các thành viên được chọn phải tề tựu đông đủ tại điện Cần Chánh để làm lễ Phất Thức.  Bộ Lễ lo bày sẵn mấy cái bàn để làm việc.  Trong điện Cần Chánh có sáu tủ lớn đựng các bảo vật [1] như các lọai ấn bằng vàng, ngọc -- gọi là bửu tỷ -- của các đời vua, các bà ḥang hậu, các thái tử; và các lọai kim sách; kim bài; phù tín; ngọc diệp, bảo kiếm của vua Gia Long; sắc phong của Nhà Thanh v.v.  Sáu tủ này vốn được niêm phong, sẽ được mở ra trước sự hiện diện của vua và hội đồng Phất Thức.  Người ta dùng khăn đỏ nhúng nước thơm (hương thủy) nấu bằng các lọai hoa, để lau chùi các bảo vật. Trong khi làm việc, các quan đều đội khăn đóng và mặc áo thụng xanh.  Sau khi tất cả bảo vật đều đă được lau chùi sạch sẽ, lại được cho vào tủ như cũ và niêm lại bằng những con niêm làm  bằng một mảnh lụa nhỏ có đóng dấu Ḥang Phong.  Lễ Phất Thức đầu tiên diễn ra vào đời Minh Mạng, năm 1837, và từ đó trở thành một nghi lễ bắt buộc của triều đ́nh.  Lễ Phất thức cuối cùng diễn ra vào mùa Xuân năm 1945.

 

 

Lễ Tấn Xuân

 

Là lễ mừng Xuân trở về, do quan Thừa Thiên Phủ Dơan (tỉnh trưởng) phụ trách.  Lễ này do vua Minh Mạng qui định vào năm 1828, căn cứ vào sách Thanh Điển của Trung Quốc.

 

Lễ  thường diễn ra vào hạ tuần tháng Chạp ta, vào ngày Lập Xuân.  Vào sáng sớm ngày lễ, Phủ Thừa Thiên  (tức tỉnh Thừa Thiên sau này) cử người đến Bộ Lễ nhận ba cái bàn đă được bài trí đặc biệt:  một bàn có tượng con trâu bằng đất, một bàn có tượng Mang Thần, là thần chủ mùa Xuân, và một bàn để một ḥn núi giả gọi là Xuân sơn bửu tọa. Người ta mang cả ba bàn đến đàn Tấn Xuân thuộc ấp Tân An, phường Đệ Lục, ở phía đông Kinh thành.  Bàn Xuân Sơn Bửu Tọa bày ở giữa, hai bàn kia để hai bên. Lễ vật dâng cúng là hương, đèn, trầm, trà, cau, trầu, rượu, giấy tiền, giấy vàng bạc, xôi, thịt. Quan Thừa Thiên Phủ Doăn đứng chánh bái tại bàn giữa, Tri huyện Hương Trà và  Tri huyện Hương Thủy phụ  bái hai bàn bên. 

 

Sau lễ cúng, Phủ Dơan và một quan Bộ Lễ ( vào hàng Tham Tri, Thị Lang hay Tá Lư) sẽ rước  bàn Mang Thần và bàn Xuân sơn Bửu Tọa vào Duyệt Thị Đường trong Đại Nội. Đám rước khá  long trọng, có lọng che, có lính hầu cầm vũ khí (côn) và ban nhạc tấu nhạc suốt lộ tŕnh.  Thượng thư Bộ Lễ sau đó phải tâu lên cho vua biết là mùa Xuân đă chính thức trở về.

 

Tượng con trâu đất, sau lễ cúng, được một viên Thông phán hay Kinh lịch mang về Phủ Thừa Thiên.  Nó sẽ được cùng tượng Mang Thần và Xuân Sơn trưng bày một năm tại công đường Phủ Thừa Thiên, c̣n tượng cũ th́ đem chôn.

 

Nước ta vốn theo âm lịch nên có năm, theo tính tóan, tiết Lập Xuân đến muộn, rơi ra ng̣ai tháng Giêng.  Thế là cả triều đ́nh và dân chúng ăn tết đă đời rồi mới làm lễ Tấn Xuân.  Đó là trường hợp của lễ Tấn Xuân năm Đinh Tỵ (1917), diễn ra vào ngày 13 tháng Giêng, năm Khải Định thứ 2, khi hương vị Tết hầu như không c̣n nữa.

 

H́nh Mang thần, trâu đất và Xuân sơn bửu tọa

(h́nh vẽ của Tôn Thất Sa trong B.A.V.H.)

 

 

Lễ Thượng tiêu

           

Là lễ trồng cây nêu.  Cũng như ngoài dân gian, ngày 30 là ngày vua cúng rước tổ tiên về ăn Tết, ngày dựng nêu, chính thức đón mừng năm mới.   Bộ Lễ có nhiệm vụ lo lễ vật cúng bái sớm, tối, tại các miếu trong Đại Nội (Thái Miếu, Thế Miếu, Hưng Miếu, Triệu Miếu, điện Phụng Tiên ) suốt thời gian Tết.  Đứng chánh bái tại các miếu là những người trong Ḥang tộc ( các Ḥang tử, các Tôn tước) đă được vua ra sắc chỉ cắt cử từ trước. Đúng 8 giờ sáng ngày 30, ống lệnh trên Kỳ đài trước Ngọ Môn bắt đầu nỗ phát đầu tiên báo hiệu lễ Thượng tiêu bắt đầu.  Từ đó cho đến 5 giờ chiều, bộ phận Hỏa lệnh phải bắn đủ 100 phát qui định.  Nêu là hai cây tre đực lớn, được dựng lên trước sân của các miếu, các cung, điện trong Đại Nội và trước các công sảnh của triều đ́nh.  Tất cả mười cửa của Kinh thành và Kỳ đài đều phải treo cờ.

 

Lễ Thiết Đại Triều Nghi  mừng Nguyên Đán      

   

Đây là lễ quan trọng nhất trong năm: triều đ́nh làm lễ chúc mừng vua năm mới.

 

Từ tờ mờ sáng mồng một Tết, các bộ phận có trách nhiệm đă dàn sẵn nghi trượng lỗ bộ từ sân điện Thái Ḥa, hai bên cầu Trung Lập, ra cho đến bên trong cửa Ngọ Môn : nào ngựa với yên cương rực rỡ, voi với bành vàng , tán vàng; nào quân hầu với long trượng (côn sơn đỏ) và giáo, cùng lọng, cờ  và các lọai vơ khí xưa; nào ban đại nhạc với các nhạc công trong lễ phục. Dưới thời Pháp thuộc (từ đời Đồng Khánh trở đi) c̣n có hai toán quân nhạc, một của Pháp và một của triều đ́nh, để thổi kèn chào khi đại diện của Pháp (Khâm sứ Trung Kỳ, Ṭan Quyền Đông Dương) đến dự lễ hoặc ra về.

      

Trên sân điện Thái Ḥa, các quan, trong phẩm phục đại triều, theo phẩm sơn ( bia đá nhỏ, khắc phẩm trật) sắp xếp hàng ngũ, theo thứ tự, cấp lớn đứng trước, cấp nhỏ đứng sau, mặt hướng vào điện. Từ nhất phẩm đến tam phẩm sắp hàng ở sân trên;  từ tứ phẩm xuống đến cửu phẩm sắp hàng ở sân dưới, quan Văn bên trái, quan Vơ bên phải (Văn tả, Vơ hữu – trong điện nh́n ra).  Các Ḥang thân và Tôn Tước, các Pḥ mă và các công tử, sắp hàng chung với quan Vơ.  Riêng các ông Ḥang thuộc hàng chú bác của vua th́ được đứng bên trong điện Thái Ḥa. 

 

Trong điện, ngay căn giữa, trước ngai vàng, Bộ lễ đặt một cái bàn sơn vàng, và kế đó, nơi căn tả-nhất (căn số 1 bên trái căn giữa, nh́n từ trong ra) đặt một cái bàn màu đỏ, trên đó có hai cái tráp đựng hạ biểu ( lời chúc mừng dâng lên vua), một cái là của tất cả quan lại tại triều đ́nh, và cái kia là của quan lại các tỉnh khắp nước.  Tất cả mọi sự sắp xếp được đặt dưới sự hướng dẫn của Bộ Lễ và sự giám sát của Viện Đô Sát.

 

 

Khi mọi việc đă sẵn sàng, nghiêm chỉnh, hai viên quan một Văn một Vơ sẽ hô lớn , “Tấu, trung nghiêm!”,  “Tấu, ngọai chỉnh” và lời tâu này được truyền vào điện Cần Chánh.  Trong điện, vua đă ngồi sẵn trên sập, trong phẩm phục đại triều, với mũ cửu long, ḥang bào thêu rồng năm móng, đai ngọc và hốt ngọc trấn quê.  Bấy giờ bộ phận hộ giá mời vua lên liễn và rước vua qua cửa Đại Cung Môn, ra điện Thái Ḥa.  Trong khi di chuyển, tiểu nhạc tấu suốt lộ tŕnh, đồng thời chuông và trống trên lầu Ngũ Phụng cũng đổ hồi, báo cho biết vua đang thăng điện.  Khi vua xuống liễn, bước lên thềm điện Thái Ḥa (phía bắc) th́ tiểu nhạc chấm dứt, chuông trống trên trên lầu Ngọ Môn cũng im tiếng. Vua bước lên bệ và an tọa trên ngai vàng.  Trên Kỳ Đài phát ra 9 tiếng ống lệnh. Buổi lễ đại triều bắt đầu, dưới sự điều hợp của một quan Bộ Lễ.

 

Dưới thời Pháp thuộc, nếu có đại diện Pháp tham dự th́  khi vua vào điện Thái Ḥa cũng là lúc đại diện Pháp vừa đến cửa Ngọ Môn.  Hai quan lớn, vào hàng Thượng Thư, của triều đ́nh đă chực sẵn để đón tiếp và  hướng dẫn phái đ̣an Pháp vào điện Thái Ḥa.  Đó là lúc ống lệnh nổ và ban nhạc thổi kèn chào. Vào điện, đại diện Pháp chào vua và đọc chúc từ, vua đáp lời qua thông dịch viên, sau đó phái đ̣an Pháp đứng lui về căn cuối bên trái của điện Thái Ḥa, và lễ đại triều  mừng Nguyên Đán theo nghi thức cổ truyền bắt đầu.

   

Ban nhạc cử nhạc mừng.

 

Theo lời xướng của quan Bộ Lễ, các quan lạy năm lạy.  Xong các quan qú xuống và làm lễ dâng hạ biểu.  Sau lời xướng, một viên quan Nội Các (văn pḥng của vua) tiến đến bàn đỏ, lần lượt mang các tráp đựng hạ biểu trên bàn đỏ đem để trên bàn vàng giữa điện.  Ban nhạc cử nhạc mừng.  Nhạc dứt, một quan Bộ Lễ, vào hàng Tham Tri hoặc Thị Lang, bước ra giữa sân, qú xuống, hô lớn,  “Tấu, khánh hạ lễ thành!” (Tâu, lễ mừng đă xong).  Vua bước xuống khỏi ngai và trở về cung, nghi vệ giống như lúc ra đi. Trong Đại triều nghi, vua không nói một tiếng nào.  Thị vệ (quan hầu cận vua) sẽ phụ trách mang hạ biểu vào pḥng ngự phê (pḥng làm việc của vua).

 

Tháng 10 năm 1932, sau khi về nước cầm quyền được ít hôm, vua Bảo Đại ra ngay một sắc dụ băi bỏ việc lạy, chỉ cho chấp tay xá ba xá, gọi là hành tam khấu lễ.  Đó là dấu hiệu đầu tiên của sự thâm nhập tinh thần dân chủ Tây phương trong cung đ́nh Huế.

 

Trong chế độ quân chủ, vua tượng trưng cho quốc gia, nên quốc gia phải lo thờ phụng các vua quá cố tại các miếu.  Tại đây, đàn bà con gái không được phép tới.  V́ vậy, vua Minh Mạng phải lập thêm một nhà thờ có tính cách gia đ́nh, gọi là điện Phụng Tiên,  để làm nơi cho các bà (thái hậu, ḥang hậu, phi tần, công chúa, công nữ) và Ḥang tộc tới lui làm bổn phận hiếu kính đối với tổ tiên.   Sau lễ đại triều, vua cũng phải tới đây lễ lạy. Sau những lễ nghi chính thức này, những cuộc vui trong cung đ́nh  (múa, hát, hát bội ) mới mở ra để trên dưới cùng vui.

 

 

Lễ Hạ Tiêu

           

Sáng ngày mồng 7 tháng Giêng, chín phát ống lệnh phát ra từ Kỳ Đài trước Ngọ Môn báo hiệu lễ hạ nêu.  Những ngày Tết đă chính thức đi qua, nhịp sống thường trở lại.

 

Tuy nhiên, dưới thời Pháp thuợc, vẫn c̣n một lễ nữa th́ việc  thưởng  Xuân của vua xem ra mới trọn vẹn.  Ấy là lễ Du Xuân.

 

 

Lễ Du Xuân

 

Lễ Du Xuân là lễ vua đi dạo đầu Xuân.  Dân th́ mấy ngày Tết đi đây đi đó tha hồ. Riêng vua, coi vậy mà khó đi hơn, v́ lễ nghi và t́nh thế ràng buộc.

 

Lễ này chỉ có bắt đầu từ đời Đồng Khánh (1885-1889). Vua Đồng Khánh lên ngôi sau khi triều đ́nh Huế và người Pháp thất bại trong việc đưa vua Hàm Nghi trở về Huế -- sau vụ thất thủ Kinh đô ngày 5-7-1885.  Hầu như bị giam lỏng trong cung, vua cảm thấy tù túng,  nên cái Tết năm đó, năm Bính Tuất, 1886, vua yêu cầu Ṭa Khâm (chính quyền Pháp ở Trung Kỳ) và triều đ́nh tổ chức cho vua đi dạo kinh đô vào buổi đầu Xuân để được thấy cảnh dân t́nh sinh họat ra sao. Được sư chấp thuận của chính quyền bảo hộ, triều đ́nh tổ chức lễ  Du Xuân, và từ đó thành lệ.

 

   Sau  Tết Nguyên Đán, Bộ Lễ chọn ngày tốt để làm lễ Du Xuân. Đạo ngự (đ̣an vua đi) có tiền hô hậu ủng, có quân hầu, hộ vệ, cờ, quạt, lọng, tàn và nhă nhạc, gần giống như đạo ngự của lễ tế Nam Giao, nhưng qui mô nhỏ hơn. Theo hầu có các hoàng thân và các quan Văn, Vơ.  Quan Vơ mặc nhung phục.  Đạo ngự ra khỏi Đại Nội (Ḥang thành) bằng cửa Ngọ Môn, rồi từ đó ra khỏi Kinh thành bằng cửa Đông Nam (Thượng Tứ), qua sông Hương, vào thăm Khâm sứ Trung kỳ, rồi trở về Đông Ba, Gia Hội, theo cửa Chính Đông (Đông Ba) để vào lại Kinh thành. Cờ treo trên khắp lộ tŕnh vua đi. Đời Khải Định (1916-1925) lễ này vẫn c̣n duy tŕ.

         

Những lễ hội đem thêm màu sắc cho ngày Xuân,  và làm cho hương vị mùa Xuân thêm mặn mà.  Có lẽ dân chúng kinh đô thời ấy cũng trông cho tới ngày được thấy cảnh rước thần đầy màu sắc của lễ Tấn Xuân hay cái nghi vệ huy ḥang của lễ Du Xuân, mong được nghe trăm phát ống lệnh tống cựu nghinh tân đầy náo nức ḷng người.  Chả thế mà ngày nay tuy không c̣n vua nữa, nghe nói trong Festival 2004, người ta vẫn cố dựng lại cái cảnh đạo ngự của vua trở về Ḥang cung sau lễ tế Nam Giao, để hấp dẫn du khách; thời buổi kinh tế thị trường có khác!

 

 

Vơ Hương An

 

- Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu 1 (VNCH)

- Cựu tù nhân chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính