Nói lại cho đúng

 

Vơ Hương An

 


 

 

Tôi muốn nói về cuốn H́nh ảnh Bảo Đại, các chính khách quốc gia và Hội nghị Hương Cảng 1947 (HABĐ) của Nguyễn Khắc Ngữ, do Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản ở Canada năm 1991.  Tôi t́nh cờ bắt gặp cuốn này tại Thư viện Martin Luther King của thành phố San Jose (California), trong khu sách tiếng Việt.

 

            Tác giả là một nhà biên khảo Sử Địa quen thuộc tại miền Nam từ trước 1975.  Cuốn sách tŕnh bày và chú thích một số h́nh ảnh do tác giả sưu tầm được về các đề tài như đă nêu ở tựa sách.  Sách cung cấp những h́nh ảnh hiếm thấy, hoặc chưa hề được xuất bản, nên đấy là những tài liệu sống động, rất hữu ích cho các nhà biên khảo lịch sử và xă hội Việt Nam.  Điều đáng tiếc là v́ một lư do nào đó – có thể là do thiếu tài liệu – tác giả đă chú thích sai lạc, đặc biệt là phần đầu, những h́nh ảnh về Huế, về triều Nguyễn, rút ra từ những sách báo của Pháp xuất bản trong thời Pháp thuộc.

 

  E rằng điều này sẽ dẫn đến những hậu quả sai lầm dây chuyền về sau nên tôi không ngại kiến thức hạn hẹp, xin dẫn chứng chỗ sai và đề nghị nói lại cho đúng.

 

H́nh 4. Vua Khải Định dùng bữa ( Sách đă dẫn, Sđd., tr.8 )

 

 

       Nói rằng vua Khải Định đang dùng bữa th́ không sai -- v́ vua đang ngồi tại bàn ăn,  có người hầu -- nhưng không chính xác, v́ tài liệu cho biết đây không phải là bữa ăn thường.

 

H́nh này đă được đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hue (B.A.V.H.), số 2,  tháng 4-6 năm 1924, với ghi chú: Planche LV.- Le Quarantenaire de S.M. Khai Dinh: Empereur ( Phụ bản 55: Lễ Tứ tuần vua Khải Định:  Ḥang đế).  Đây là một trong những phụ bản đính kèm bài viết của H. Délétie, Episode des Fêtes du Quarantenaire de S.M. Khai Dinh (Các giai đọan trong lễ Tứ tuần của vua Khải Định).

 

 Bài viết cho biết lễ chính thức diễn ra ngày 29/9/1924 tại điện Thái Ḥa, nhưng ngày trước đó, vua đă đăi tiệc các quan lớn trong  Đại Nội. Ng̣ai ra, mục Ephémérides Annamites (Lịch Triều đ́nh Huế) của Hồ Đắc Hàm đăng trên B.A.V.H., số 3, năm 1925, trang 203, có ghi rằng: Ngày 28/9/1924, nhằm ngày 30 tháng 8 năm Khải Định thứ 9, vào lúc 10 giờ sáng, vua đăi tiệc các quan  tại điện Cần Chánh.

 

Như vậy, dù không có chú thích rơ ràng ảnh chụp vào lúc nào trong dịp lễ Tứ tuần đại khánh năm 1924, nhưng những bằng cớ gián tiếp vừa nêu cho chúng ta hiểu rằng đây là h́nh chụp vua Khải Định đang chủ tọa tiệc khỏan đăi các quan lớn của triều đ́nh Huế tại Điện Cần Chánh  vào dịp mừng thọ nhà vua được 40 tuổi (Tứ tuần đại khánh).  Kèm theo đây là h́nh chụp cảnh các quan đang dự tiệc vào dịp đó, cũng tại điện Cần Chánh, để làm mạnh thêm dẫn chứng của tôi.

 

Về việc dùng bữa của vua Khải Định, tôi có ghi lại trong bài viết Chuyện cung đ́nh nghe kể lại ( niên san Tiếng Sông Hương, Dallas, 1997.  Phụ lục 1 trong sách này hoặc

 www.khoahoc.net/baivo/vohuongan/chuyencungdinhnghekelai.htm ) dựa vào kư ức của thầy tôi, một Thị vệ của vua Khải Định.

 

      

 

 H́nh 5. Từ Cung  Hoàng Hậu vợ vua Khải Định (Sđd. tr. 9)

 

 

 

Chú thích này có hai điểm sai.

 

      Thứ nhất, người trong h́nh không phải là bà Từ Cung, vợ thứ hai của vua Khải Định, thân mẫu của vua Bảo Đại.  Người trong h́nh là bà Hồ Thị Chỉ, con gái của quan Học Bộ Thượng Thư Hồ Đắc Trung , được vua Khải Định cưới làm chánh phi (vợ chính)  vào tháng 12 năm 1917, và phong ngay làm Nhứt giai Ân Phi. Người Huế thường gọi là Bà Ân.  Bà này không có con.  Trong bài viết Chuyện cung đ́nh nghe kể lại (Tiếng Sông Hương, Dallas, 1997) tôi có viết vài ḍng về cuộc hôn nhân của bà.

 

            Trên website: http://nguyentl.free.fr/index.htm, một h́nh tương tự đă được đưa lên, với chú thích ban đầu khá  mơ hồ,  “Một bà ḥang hậu”, nhưng sau đó, có lẽ nhờ có thông tin mới, nên tác giả đă  sửa lại và  ghi rơ rằng “Bà Ân phi Hồ Thị Chỉ, vợ của vua Khải Định (theo ông Nguyễn Duy Chính ở Việt Nam) “  Sự cập nhật đó rất đáng quí.

 

            Thứ hai, sai lầm về cách gọi.  Nói “Từ Cung Ḥang Hậu, vợ vua Khải Định “ là không được chỉnh.  Lư do sẽ được tŕnh bày rơ ràng khi nhận xét về H́nh 12, h́nh của bà Từ Cung thật. 

 

H́nh 12. Hoàng tử Vĩnh Thụy và mẹ là Hoàng Hậu Từ Cung   (Sđd., tr.14)

 

 

 

 

Về bức h́nh này, nội dung đúng như chú thích, v́ đó là hai mẹ con, nhưng cách gọi th́  không chỉnh,  như đă nêu trong H́nh 5.  

 

            Và , một cách chính danh, th́ triều Nhà Nguyễn không  có nhân vật nào gọi là Hoàng Hậu Từ Cung cả.

           

Triều Nhà Nguyễn có 13 đời vua, chỉ có hai đời lập Ḥang Hậu, đó là vua Gia Long ( đă lập bà chánh phi họ Tống, mẹ của Ḥang tử Cảnh, làm Hoàng hậu vào năm 1806, tức Thừa Thiên Hoàng Hậu ) và vua Bảo Đại  (lập Nam Phương  Hoàng Hậu).  C̣n các đời vua khác, đều tuân theo qui định của vua Minh Mạng , không lập hoàng hậu. Vợ chính thức được phong tới bậc Phi mà thôi, ví dụ bà Ân Phi, vợ chính của vua Khải Định, như đă  nói ở trên.

 

            Vua Khải Định khi chưa làm vua, là một ông hoàng với tước Phụng Hóa Công, đă ăn ở với  bà Hoàng Thị Cúc, xuất thân b́nh dân, không cưới hỏi, sinh ra một người con trai vào năm 1913, đặt tên là Vĩnh Thụy. Năm 1916, sau khi lên làm vua, vua Khải Định đă phong cho bà Hoàng Thị Cúc làm Tam giai Huệ Tân (1917), rồi thăng dần lên Nhị giai Hữu Phi (1918), và  cuối cùng là Nhất Giai Huệ Phi (1923).   Bà Hồ Thị Chỉ tuy là kẻ tới sau (đám cưới vào tháng 12 năm 1917) nhưng danh nghĩa to lớn, v́ xuất thân thế gia, lại được triều đ́nh chính thức cưới hỏi, nên được phong ngay Nhất giai Ân Phi, làm vợ chính.

 

 Chỉ sau khi làm vua ( sau1925) vua Bảo Đại  mới tấn tôn mẹ làm Đoan Huy Ḥang Thái Hậu. Đó là tước vị chính thức, c̣n trong đời sống thường th́ giới cung đ́nh cũng như ngoài dân chúng, gọi bà là Đức Từ Cung, hay có khi chỉ vắn tắt là Đức Từ, một cách đơn giản để gọi bà mẹ của ông vua đang tại vị.  Điều đó cho ta hiểu rằng chỉ sau khi vua Khải Định mất (1925), danh xưng  Từ Cung mới xuất hiện. 

           

V́ vậy, tôi nghĩ , nếu nói về mối quan hệ giữa hai người  trong h́nh, th́ nên chú thích:  Ḥang tử Vĩnh Thụy và mẹ là bà Huệ Phi, tức Đoan Huy Ḥang Thái Hậu  sau này (tục gọi là Đức Từ Cung  ).

 

 

H́nh 13. Hoàng tử Vĩnh Thụy  ngồi với bà nội, Hoàng Thái Hậu,

và vua cha, Hoàng đế Khải Định (Sđd., tr.15)

 

 

Cách chú thích tấm h́nh này cũng không được chỉnh, sơ suất cũng  như trong trường hợp H́nh 12 ở trên. 

      

Nên viết:  Vua Khải Định, với mẹ ruột, Khôn Nghi Ḥang Thái Hậu ( tục gọi là Đức Tiên Cung) và con là Ḥang tử Vĩnh Thụy.

 

            Vua Khải Định có hai bà mẹ.  Khi lên làm vua, ông đă tấn tôn mẹ đích (vợ chánh của vua Đồng Khánh) làm Khôn Nguyên Hoàng Thái Hậu, thường gọi là Đức Thánh Cung ; và tấn tôn mẹ ruột (vợ thứ của vua Đồng Khánh) làm Khôn Nghi  Hoàng Thái Hậu, thường được gọi là Đức Tiên Cung.   Khi lên làm vua, vua Bảo Đại đă tấn tôn hai bà nội lên làm Thái Hoàng Thái Hậu. Do đó, nên lấy vua Khải Định làm chuẩn để chú thích th́ nghe thuận tai hơn.

 

H́nh 23. Tượng thần bằng đồng (Sđd., tr.20)

 

 

 

Đây là tượng đồng nhân, nghĩa là tượng người bằng đồng , dùng trong lễ Tế Nam Giao của triều Nguyễn, chứ chẳng phải tượng thần nào cả.  H́nh này đă xuất hiện hai lần trong tập san B.A.V.H. , số chuyên đề về Tế Nam Giao (Số 2 năm 1915, và số 1 năm 1936).

 

            Theo điển lệ Nhà Nguyễn, bốn ngày trước ngày tế, Bộ Lễ rước tượng đồng nhân vào ḥang cung hoặc trai cung (nhà tại đàn Nam Giao để vua tạm trú chờ cử hành lễ tế) để vua bắt đầu một cuộc trai giới ba ngày, giữ ḿnh trong sạch, chuẩn bị lễ tế thiêng liêng.  Tượng là một h́nh người mặc lễ phục, đứng thẳng, hai tay chắp lại, cầm thẻ bài có khắc hai chữ “trai giới”.  Trong thời gian trai giới, tượng được để trước mặt vua, có công dụng giúp cho vua  tập trung nghĩ tưởng điều trong sạch.

 

H́nh 25 Kỳ đài khi đ̣an kỵ binh Hoàng gia diễn hành (Sđd., tr.21)

 

 

 

            Kỳ đài, tức Cột Cờ, như dân Huế thường gọi, là đúng, nhưng tôi t́m ḥai mà chẳng thấy cái gọi là “đ̣an kỵ binh Hoàng gia” ở đâu cả.   Trên các bản đồ vẽ kinh thành Huế cũng như trên các bài viết, khi nói về Kỳ đài, người Pháp thường ghi là “le Cavalier du Roi” , và đó là lư do có chú thích “đ̣an kỵ binh Ḥang gia”.

 

       Tác giả không cho biết trích từ tài liệu nào.  Căn cứ vào bài viết về lễ Tứ tuần đại khánh  của vua Khải Định (1924) cùng những h́nh ảnh đi kèm đăng trong B.A.V.H., số 2, năm 1925 -- như đă dẫn, khi nhận xét về H́nh 4 ở  trên  --  có thể nói không sợ sai rằng  đó là cảnh dân chúng kinh đô đi xem triển lăm các lễ vật do các quan và các địa phương dâng mừng nhà vua vào dịp lễ Tứ tuần.

 

            Vào dịp lễ này, quan lại và các địa phương đều có dâng lễ vật để mừng thọ.  Nhà vua cho dựng tám cái nhà  theo kiểu xưa, chia làm hai dăy, ṭan bằng cót nhưng sơn vẽ như thiệt, ngay truớc sân Ngọ Môn (sau Kỳ đài), để chưng bày các lễ vật đó, và mở cửa cho dân chúng vào xem. 

 

            Sau đây là h́nh ṭan cảnh cuộc triễn lăm, trích từ B.A.V.H, trong số báo đă dẫn.

 

H́nh 38. Quân vũ (múa quân) (Sđd.; tr. 30)

 

Tác giả không ghi xuất xứ tấm h́nh, nhưng tôi tin rằng đây là h́nh chụp đội múa vơ đang chuẩn bị tŕnh diễn để dâng cúng trong lễ Tế Nam Giao.

 

            Trong suốt mấy chục năm tồn tại trên kinh đô Huế, tập san B.A.V.H. đă hai lần dành hai số cho chuyên đề Tế Nam Giao , do hai cây bút chủ lực là  R. Orband và L. Cadière phụ trách.  Lần thứ nhất đăng ở số 2 năm 1915, và lần thứ hai tái bản có bổ sung, đăng trên số1 năm 1936.  Bài viết và h́nh ảnh rất giá trị.  Trong các h́nh ảnh đó có h́nh tương tự như trên.

 

             Bộ phận ca-vũ-nhạc của Nhà Nguyễn được thành lập, ban đầu gọi là Thanh B́nh Thự, sau đổi tên là Vơ Can Thự, rồi cuối cùng là Ban Ba Vũ  (từ đời Đồng Khánh , 1885-1889, trở đi).  Ca-múa-nhạc không phải chỉ để giải trí cho Ḥang gia mà c̣n là một bộ phận không thể thiếu trong nghi lễ của triều đ́nh.  Trong Tế Nam Giao  , tùy giai đọan, phải có múa vơ và múa văn.

 

            “Vũ sinh chia làm hai đội, múa vơ trước, múa văn sau.  Đội vơ 64 người, 8 hàng, người cầm đầu mang cờ Tiết, đội văn cũng chừng ấy người, người cầm đầu mang cờ Mao. Vũ sinh đội vơ một tay cầm mộc sơn son thếp vàng, một tay cầm búa (bằng gỗ) vừa hát vừa múa, lên xuống trong vị trí 8 hàng hay di chuyển thành đội h́nh tám hướng.” (PHƯƠNG ANH TRANG, Vang bóng một thời: Các điệu múa cung đ́nh, Tiếng Sông Hương, Dallas, 1994, p.114)

                         

            V́ vậy, đề nghị nên chú thích rằng: Ban Ba Vũ múa vơ trong lễ Tế Nam Giao năm... th́ có lẽ rơ ràng hơn là nói rằng “quân vũ” hay “múa quân”, v́ chữ dùng không đúng.  H́nh sau đây trích từ B.A.V.H, cho thấy một vũ sinh trong trang phục múa vơ cùng các trang cụ cần thiết.

 

 

H́nh 39. Ninh điện, nơi bà Từ Cung Hoàng Thái Hậu ở.  Sau điện này bị hư, bà phải sang ở Vạn Thọ cung (Sđd. tr. 31)

 

 

H́nh này được chú thích khá dài, chứng tỏ tác giả nắm được nhiều thông tin, nhưng sai lầm ḥan ṭan về nhiều điểm; thật đáng tiếc.

 

            Thứ nhất, Lâu đài trong h́nh không phải là Ninh điện, mà là cung An Định ; ḍng sông trong h́nh là sông An Cựu. Nhà nhiếp ảnh đă đứng dưới sông chụp lên để lấy ṭan cảnh cung An Định.  Người Huế, nếu quen thuộc cố đô, nh́n bức h́nh này có thể nhận diện được ngay.  Cái tháp nổi trên sông cho phép chúng ta suy đoán rằng h́nh này được chụp vào một dịp lễ nào đó khá quan trọng nên có trang hoàng cờ xí và có kết thuyền hoa.

 

            Tiền thân của cung An Định là phủ Phụng Hóa, do vua Đồng Khánh (1885-1888) xây cho hoàng trưởng tử là Phụng Hóa Công Bửu Đảo.  Sau khi trở thành vua Khải Định (5/1916), nhà vua đă cho xây dựng lại,  to lớn, đẹp đẽ hơn, theo kiểu thức phối hợp Âu-Á, với vật liệu và kỹ thuật xây dựng mới du nhập từ phương Tây, và đổi tên thành An Định Cung, dành cho Đông cung Thái tử Vĩnh Thụy.

 

            Thứ hai, trong danh mục các cung điện của cố đô Huế không có một kiến trúc nào mang tên là Ninh Điện hay Vạn Thọ Cung cả.

 

            Chúng ta thường nghe nói đến Tam cung lục viện.  Về mặt kiến trúc, triều Nguyễn quả có xây ba cung và sáu viện.  Ba cung là Khôn Thái , Trường Sanh   và Diên Thọ, trong đó, cung Khôn Thái cùng sáu viện đều nằm trong Tử Cấm thành.  Sáu viện là Thuận Huy, Đoan Huy, Đoan Tường, Đoan Trang, Đoan Thuận, và Đoan Ḥa.   

                                         .

            Cung Trường Sanh xây từ đời Minh Mạng (1822), ban đầu có tên là Trường Ninh, sau  vua Khải Định đổi làm Trường Sanh.

 

            Cung Diên Thọ xây từ đời Gia Long (1803), ban đầu có tên là Trường Thọ, sau nhiều lần đổi tên (Từ Thọ, Gia Thọ... Muốn rơ, xin xem Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Kinh sư) qua các triều, cuối cùng mang tên Diên Thọ dưới triều Khải Định. Cung này hiện đang c̣n  nguyên vẹn tại Đại Nội.

 

            Khi vua Khải Định mới lên ngôi, bà Từ Cung  , lúc đó mới chỉ là Tam giai Nghi Tân, chưa đủ tư cách để ở cung Khôn Thái. Cung Diên Thọ bấy giờ dành cho bà Thánh Cung (mẹ đích của vua Khải Định), cung Trường Sanh dành cho bà Tiên Cung (mẹ ruột của vua Khải Định).   Bà Thánh Cung mất năm 1940, bà Tiên Cung mất năm 1944.  Thế có nghĩa là bà Từ Cung chỉ có thể ở cung Trường Sanh sau năm  1940, và ở cung Diên Thọ sau năm 1944, theo thời gian mà đuợc đôn lên, khi các người ở trước đă ra đi.  Điều tôi biết ch& là sau  khi vua Bảo Đại thóai vị vào tháng 8 năm 1945, bà về ở tại cung An Định , sau đó, khi Cựu ḥang Bảo Đại làm Quốc Trưởng , bà lại vào ở cung Diên Thọ vào năm 1950, tại lầu Tịnh Minh.  Sau khi Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại (1955), cung An Định bị tịch thu, bà  Từ Cung xây một biệt thự khác gần  đấy để ở cho tới ngày măn phần.  Nói tóm lại, tùy theo từng thời kỳ, bà Từ Cung quả có ở tại các cung Trường Sanh, Diên Thọ và An Định, nhưng chắc chắn không hề và không thể ở Ninh Điện và Vạn Thọ Cung v́ không có hai cơ sở đó, dù chỉ là cái tên.

Cung Trường Ninh bị hư hỏng nên được triệt hạ năm 1907,  sau đó Bộ Công đă thiết kế để xây dựng lại với tiện nghi mới.  Sau khi ḥan tất đâu vào đấy, bà mẹ của vua Duy Tân đă dọn vô ở ngày 1/10/1914 ( B.A.V.H., số 4, 1914, p.333).  Có lẽ tác giả biết được nguồn tin này nên mới ghi rằng “sau điện này bị hư” chăng?

 

H́nh 40. Lính Thị vệ canh pḥng Hoàng thành Huế.

Ở góc là Binh Bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài  (Sđd.; tr. 31)

 

Ở góc phải của ảnh, đúng là h́nh của Thượng thư Bộ Binh Nguyễn Hữu Bài. Nhưng nói rằng lính Thị vệ canh pḥng Ḥang thành Huế là sai ḥan ṭan, không biết ǵ về qui chế Thị vệ của triều Nguyễn.

            Bằng hiểu biết riêng của tôi th́ h́nh đó là cảnh lính Thân binh đang dàn nghi trượng (tàn, lọng, cờ... ) trong một buổi lễ long trọng nào đó, có sự hiện diện của vua,  tại Huế.

 

           

            Trong quan chế Nhà Nguyễn, không có lính Thị Vệ, v́ Thị vệ thuộc về hàng quan Vơ đặc biệt, lập thành một bộ phận riêng trong Đại Nội, gọi là Thị Vệ Xứ.  Trong bài viết Chuyện Cung đ́nh nghe kể lại (đă dẫn ở H́nh 4), tôi đă có dịp nói  về công việc của Thị vệ. Vai tṛ quan trọng nhất của Thị vệ là bảo vệ an ninh cho vua, ngoài ra, như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 122, cho biết Thị vệ xứ đảm nhận công việc đóng ấn, kiểm sóat thẻ bài, hầu hạ vua trong công việc cũng như cuộc sống riêng, truyền đạt mệnh lệnh của vua, truyền đưa các phẩm vật, tiếp nhận chương sớ v.v. Thị vệ có năm bậc, thấp nhất là Ngũ đẳng và cao nhất là Nhất đẳng.

 

            Quan chế Nhà Nguyễn chia làm hai ban là Văn và Vơ. Mỗi ban lại chia làm 9 bậc, thấp nhất là cửu phẩm, cao nhất là nhất phẩm.  Mỗi phẩm lại chia làm hai trật, là chánh và ṭng.  Ngũ đẳng Thị vệ là quan Vơ, hàng chánh lục phẩm.  Đối với quan Văn, đó Hàn lâm viện trước tác, Đồng Tri Phủ, Tri huyện.  C̣n Nhất đẳng Thị vệ là chánh tam phẩm, ngang hàng với Thị Lang, Bố Chính, Phủ Dơan bên Văn.  V́ vậy không thể nói  “lính Thị vệ canh pḥng Ḥang thành Huế” được, v́ Thị vệ  thuộc hàng sĩ quan, có lính để sai khiến.

 

            Như đă nói từ đầu, v́ sợ sự sai lầm này sẽ dẫn đến sai lầm dây chuyền mai sau nên tôi mạo muội lên tiếng.  Ước mong có chút hữu ích chung.

 

 

Vơ Hương An

Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu I (VNCH)

Cựu Tù nhân Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

__________________________

 

 

Lời giới thiệu

 

VÀI CẢM NGHĨ VỀ CUỐN SÁCH  CỦA MỘT BẠN VĂN

 

BS. Lê văn Lân

 


 

          Anh bạn văn Vơ Hương An thấy tôi cùng loại máu ṇi t́nh mê bút mực như anh nên mới hoàn tất tập bản thảo cuốn  Vua Khải Định – H́nh ảnh & Sự kiện,  anh bèn gửi bưu điện ưu tiên cho tôi đọc và viết thêm ít gịng:

 

Đây chỉ là một tṛ chơi chữ nghĩa thừa nhàn vào tuổi đời bóng xế mà tôi vừa đam mê rị mọ làm xong sau vài tháng âm thầm trước màn h́nh vi tính.  Nếu anh thấy nó khả dĩ ra mắt bạn đọc bốn phưong  được th́ xin anh viết cho vài gịng giới thiệu. 

 

Tôi thú thật đă vồ lấy nó và đọc một cách thống khoái như vừa được dọn cho ăn một món ăn thơm ngon nóng sốt: B́a sách tŕnh bầy trang nhă quí phái, chương mục phân chia mạch lạc, lời văn tuy chứa nhiều chữ Nho cổ kính của thời đại quân chủ nhưng được dẫn giải một cách tinh nghĩa và trong sáng và nhất là được minh chứng bằng rất nhiều h́nh chụp cũ ngày xưa được phục chế lại.  

Chuyện đời của vua Khải Định và Triều đ́nh Huế dưới áp lực của Pháp vào thế kỷ 20 xảy ra vài chục năm trời trước khi tôi ra đời mà tôi thủa nhỏ được  người dân Cố Đô xầm x́ kể lại như chuyện cổ tích th́ nay nhờ công lao sưu khảo của anh bạn Vơ Hương An hiện ra như một điều hiện thực. Xin bạn hăy nhận một lời cám ơn nồng hậu của tôi nhé đối với việc làm đầy tính tài tử nghiệp dư của bạn Vơ Hương An nhưng nặng phần hoài cổ.

 

Theo tôi, một cuốn sách dù tŕnh bầy về bất cứ một vấn đề ǵ mà cung cấp cho người đọc càng nhiều dữ kiện kiến văn tri thức là một cuốn sách thành công, nó xứng đáng cho ta bỏ th́ giờ mà đọc v́ nó bồ ích, không cho  chiều sâu th́ ít ra cũng cho chiều rộng của trí tuệ.

 

Sở dĩ tôi nói kiến văn tri thức là v́ hoạt động của bộ óc con người thường trải qua một quá tŕnh lần lượt cơ bản tuần tự như sau:  Kiến là thấy, văn là nghe, tri là biết, thức là hiều. Chúng ta phải nhận rằng nhờ áp dụng những thành quả phát minh về  quang học và điện tử cực-vi microchips mà các ngành ấn lóat, nhiếp ảnh, phát thanh và truyền thông của nhân lọai càng ngày càng làm cho con người thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều và hiểu nhiều. Một biến cố ǵ mới xảy ra trong năm châu bốn biển , dù cách xa nửa ṿng trái đất đều có thể truyền trong khỏanh khắc trên toàn cầu.

 

Cuốn sách  Vua Khải Định – H́nh ảnh & Sự kiện nh́n theo tiêu chuẩn trên ít ra cũng là một sản phẩm trí tuệ thành công nhờ khéo dẫn giải chuyện ngày xưa với văn hay h́nh đẹp. Chỉ riêng một tấm h́nh cũng đủ hiệu lực làm hồi sinh quá khứ hơn một chương sách miêu tả bằng một rừng từ ngữ!

 

Tại sao Vơ Hương An lại chọn Vua Khải Định làm đề tài biên khảo trong khi nhà vua này “đâu phải là một khuôn mặt đáng chú ư trong lịch sử” hay c̣n bị người đương thời biếm trách là  vị vua bù nh́n do người Pháp dàn dựng lên để dễ điều khiển  sau khi gặp nhiều đề kháng của hai nhà vua cha con Thành Thái XE “Thành Thái”  và Duy Tân XE “Duy Tân”? Trong Lời Nói Đầu của sách, Vơ Hương-An đă quan tâm đến một khía cạnh khác, đó là mục đích mang tính khảo cổ về buổi  giao thời giữa cũ và mới ở Việt Nam trong triều đ́nh cũng như ng̣ai xă hội: cái cũ chưa bị xóa đi hay sửa đổi và cái mới chỉ vừa mới bắt đầu, khác với thời Bảo Đại XE “Bảo Đại”  về sau… 

 

Phương pháp ngoái nh́n cố sự của Vơ Hương An, tuy là hạn chế, nhưng rất cụ thể và khoa học  v́ dựa vào những tài liệu chính xác của những người đương thời kết hợp với những h́nh ảnh chụp vào đầu thế kỷ 20:

 

1- Trước hết, tài liệu căn bản cho Vơ Hương An là bộ Bulletin des Amis du Huế (viết tắt là BAVH – quen gọi là Tập san Đô Thành Hiếu cổ) mà từ đó VHA lấy ra những bài tường thuật của Đặng Ngọc Óanh XE “Đặng Ngọc Óanh”  về lễ đăng quang của vua Khải Định, của Orband về việc Ngự giá Bắc Tuần, của Délétie về Tứ Tuần Đại Khánh, của Hồ Đắc Hàm về Kư sự Việt Nam, của Thân Trọng Huề về lễ tấn phong Đông cung Thái tử.

 

Tập san BAVH bằng Pháp ngữ do Linh mục Học giả Léopold M. Cadière đứng chủ biên với chuyên đề biên khảo về kinh đô Huế và vùng phụ cận ra đều đặn từ 1914 đến 1941 với một ban biên tập hùng hậu gồm những  học giả Pháp và Việt , mỗi bài viết là một thiên biên khảo kỹ lưỡng thường có minh họa với đồ h́nh tranh ảnh hay ít nhất là những bức họa vẽ tay, chữ nho được viết theo tự dạng nguyên thủy. Một điều cũng nên nói ra là liên quan với tập san BAVH là nhân vật sau:  Khâm sứ Pháp J. L. Charles XE “Charles”. Tuy ông không nằm trong ban biên tập của tập san BAVH nhưng là hội viên danh dự của Hội Cố Đô Huế Hiếu cố (Association des Amis du Vieux Huế (AAVH).  Qua tư thế là Khâm sứ Pháp, chính ông này đă can dự vào triều chính Việt Nam từ việc truất phế và lưu đày  XE “Thành Thái” Duy Tân XE “Duy Tân”  đến việc lựa chọn đề bạt Hoàng tử Bửu Đảo với Ṭan quyền Roume XE “Roume”  lên ngôi vua với danh hiệu Khải Định và sau này trực tiếp giám sát việc giáo dục Hoàng tử Vĩnh Thụy XE “Vĩnh Thụy”  ở Pháp, và về sau nữa, dàn xếp hôn nhân giữa vua Bảo Đại XE “Bảo Đại”  và hoàng hậu Nam Phương XE “Nam Phương”. Do đó, những sự việc lớn nhỏ xảy trong đời vua Khải Định đều được ban biên tập của Tập san BAVH tường thuật gần như đầy đủ từng chi tiết.

 

Tôi c̣n nhớ lúc nhỏ trong những năm đầu thập niên 40 nghe nhiều người lớn xầm x́ Tập san BAVH là cơ quan văn hóa thâm độc với chủ trương ḍ xét gián điệp của người Pháp, t́m hiểu nghiên cứu về xă hội và tâm lư Việt Nam để đưa ra phương sách cai trị. Có lẽ v́ vậy mà vào ngày 9 tháng 3, 1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương đă bắt Linh mục Cadière cùng với các linh mục Pháp khác, giam trong 5 tháng rồi thả ra. Nhưng ít lâu sau ngày 19 tháng 12, năm 1946, linh mục Cadière lại bị Việt Minh bắt tại Di Loan (Quàng trị) cùng với 6 linh mục người Pháp khác thuộc Giáo phận Huế, kết án là “Tây thực dân” rồi đem quản thúc tại Vinh trong 7 năm cho đến ngày 13 tháng 6, năm 1953 mới thả về cho chính phủ Pháp. Linh Mục Cadière xin được ở lại và chết cùng chôn ở Huế như một người Việt nam. Hiện nay, sau khi cơ quan UNESCO công nhận cố đô Huế là di sản văn hóa quốc tế, Cộng sản VN lại trở giọng xưng tụng linh mục Cadière là Nhà Huế Học, Nhà Việt Nam Học. Hậu thế chúng ta phải lấy công tâm mà xét  về những công tŕnh nghiên cứu của người Pháp qua những tập san khoa học về lịch sử, xă  hội văn hóa như Tập san BAVH làm điển h́nh không hẳn đă ẩn dấu một chút thâm ư chính trị như bị nghi ngờ mà rơ ràng là những thành quả tích cực của trí tuệ phục vụ kiến thức cho nhân lọai.  

 

Tuy nhiên, nói thế chúng ta cũng phải hiểu rằng trong chính sách cai trị thuộc địa ở Việt Nam, người Pháp luôn luôn ẩn dấu những mưu đồ chính trị, thao tác tùy theo mỗi ḥan cảnh và mỗi đời vua nhà Nguyễn, khi đàn áp, khi ve vuốt, khi hợp tác, khi đồng hóa. Ví dụ như chính sách của Ṭan quyền Paul Doumer song song với việc mở mang phát triển đường sá khai thác hầm mỏ làm phồn thịnh nền kinh tế thuộc địa là một sự o ép vua Thành Thái XE “Thành Thái”  ra những đạo dụ băi bỏ chủ quyền tự trị và nền thống nhất Việt Nam làm cho Triều đ́nh Huế không có thực quyền, không tài chánh khiến nhà vua phải uất ức phát điên để bị người Pháp viện cớ mà truất phế nhà vua. Đến đời vua Khải Định mà người Pháp dàn dựng lên, Toàn Quyền Albert Sarraut XE “Albert Sarraut”  tạo cho nhà vua có dịp ngự giá Bắc Tuần thăm trường học, bệnh viện đề có dịp phô trương những cải tổ về giáo dục, y tế, mang ánh sáng văn minh mới cho người Việt.  Nhưng khi Pháp thắng trận 1914-1918, Triều đ́nh Huế những tưởng nước Pháp nghĩ đến công ơn của VN đă đóng góp hy sinh  trong chiến tranh và nhân Albert Sarraut đă thăng làm Bộ trưởng bộ Thuộc  Địa ( từ năm 1919), vua Khải Định và Thượng thư Nguyễn hữu Bài sang Pháp năm 1922 để yêu cầu Pháp giao lại quyền hành ở Bắc Kỳ cho đúng với tinh thần Ḥa ước 1884 th́ không thu được kết quả nào.  

 

Tập sách Vua Khải Định-H́nh ảnh  & Sự kiện, sẽ giúp  độc giả những kiến văn bổ ích trong sự ôn lại một thời quá văng dưới triều vua này qua những tài liệu viết lách đáng tin cậy, được minh họa bằng những h́nh ảnh rất cụ thể, sống động. 

 

2- Vơ Hương An đă thu thập những h́nh chụp thời vua Khải Định rải rác đây đó và qua kỹ thuật Photoshop anh đă miệt mài phục chế cho rơ ràng rồi sắp xếp  lại lớp lang theo thứ tự thời gian và đề tài: lễ đăng quang, ngự giá thăm miền Bắc, lễ tấn phong Đông cung thái tử Vĩnh Thụy XE “Vĩnh Thụy” , nhà vua thăm Pháp quốc, Tứ tuần đại khánh, đám tang nhà vua v.v… Nh́n ngắm những bức ảnh xưa, chúng ta có thể phát hiện ra rất nhiều điều mà chúng ta từng nghe nhưng chưa thấy như phẩm phục của vua quan và nghi thức thiết triều cuối đời Nguyễn,  lối phục sức “lai căng” pha chế Việt Pháp của vua Khải Định, cái nón cối thuộc địa  (casques coloniales) của Pháp… Tôi thiết tưởng những nhà đạo diễn phim ảnh cũng như cơ quan du lịch Việt Nam nên quan tâm nghiên cứu kỹ những h́nh ảnh xưa để tránh những chuyện bôi bác, gán ghép quái thai khi dàn dựng lại những bộ phim về thời cận đại.  

 

Riêng tôi, nh́n ngắm lại những ảnh xưa trong cuốn về Vua Khải-Định của Vơ Hương-An, tôi cũng t́m ra một vài điều lư thú mà tôi từng thắc mắc từ lâu:

- ở trang 65, qua h́nh vua Khải Định ngồi với mẹ ruột, Khôn Nghi Ḥang Thái Hậu, và con trai, Hoàng tử Vĩnh Thụy XE “Vĩnh Thụy”  (tức vua Bảo Đại XE “Bảo Đại”  sau này), tôi thấy h́nh hai cha con giống nhau như hệt  nhất là cái mũi… trái lại với tin đồn rằng vua Khải Định vô tự;

 

- ở trang 135, có hai tấm h́nh về các đoàn hát về giúp vui lễ Tứ Tuần Đại khánh có chụp rơ lá quốc kỳ Việt Nam thời bấy giờ.  Về lá cờ Long tinh vào đời vua Khải Định này, tôi đă hỏi nhiều vị cao niên trên 80 tuổi nhưng ít ai c̣n nhớ chắc chắn về h́nh thức và kích thước. Theo h́nh th́ chi tiết về cờ Long Tinh như sau: chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, một băng màu đỏ nằm giữa chạy dọc giữa hai băng màu vàng, băng đỏ rộng gấp đôi băng vàng. 

 

Đối với một bạn văn vừa chia xẻ với tôi một thành quả làm việc bằng trí óc pha lẫn những thú vị của sự ṭ ṃ, tôi mạo muội viết lang bang nhiều điều cảm nghĩ chân thành trên. Một cuốn sách ra đời đương nhiên cũng là một dịp để cha đẻ của nó gửi gắm những nỗi niềm, những kỳ vọng.

 

Về nỗi niềm của tác giả, đó là nỗi kư ức khó phai của một thời thơ ấu. Các thân hữu của Vơ Hương-An đều biết rằng thân phụ của anh đă làm Nhất Đẳng Thị vệ XE “Thị vệ”  cuối cùng trong Đại Nội Huế, và bản thân anh từng mang nhiều kỷ niệm ấu thơ khi theo cha ở chơi hàng tuần, đi hết cung này đến điện kia nên mắt anh cũng từng quen thuộc những đồ đạc ở đây và lại được cha giải nghĩa thêm cho, nên tôi nghĩ đây chính là những động lực tâm lư thúc đẩy anh bỏ công ra sưu tầm t́m hiểu về chuyện đời vua Khải Định qua những bài viết và h́nh ảnh liên quan. Anh đă miên man đắm ḿnh làm việc này một cách nghiệp dư nhưng đôi lúc cũng rất khổ công. 

 

Về kỳ vọng của Vơ Hương-An th́ anh cũng muốn ước ao thành quả khiêm nhượng của ḿnh gọi là có thể giúp ích phần nào trong muôn một cho việc nghiên cứu sử sau này. 

 

C̣n tôi, nếu tôi tỏ ra quá nhiệt t́nh giới thiệu cho Vơ Hương-An th́ trước hết là t́nh bạn, nhưng cũng muốn mượn dịp mà chia xẻ một vài quan niệm riêng của ḿnh trong vấn đề mê say bút mực. Nếu có thất thố quá lời, xin hải nội chư quân tử đại xá và chỉ giáo. 

 

 

BS.Lê Văn Lân

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính