Mùa Xuân nói chuyện Vua ban lịch

 

Vơ Hương-An

 


D-Mùa Xuân nói chuyện vua ban lịch_html_460a644d

 

 

Xuân từ trong ấy mới ban ra

Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà…

 

 

“Trong ấy” nghĩa là trong Kinh đô Huế, v́ tác giả là người Miền Bắc, nhà ở thị xă Nam Định. C̣n “ban” có nghĩa là vua truyền một mệnh lệnh hay vua cho thần dân một cái ǵ đó.

 

Đó là hai câu mở đầu trong một bài thơ Đường luật bảy chữ tám câu, nói về Tết mà Tú Xương (Trần Tế Xương 1870-1907) đă viết hồi đầu thế kỷ 20, khi nền quân chủ Việt Nam đang c̣n ngự trị. Người ngày nay của thời đại internet với iphone, Ipad, nghe thế sẽ không khỏi thắc mắc mà hỏi rằng Xuân hay Tết th́ cứ theo đất trời chuyển di, vần xoay mà đến, cứ việc theo lịch mà ăn Tết, việc ǵ phải chờ vua ban.

 

Ấy, nếu đơn giản như thế th́ cần ǵ tới vua. Trong chế độ quân chủ, uy quyền của vua, của triều đ́nh không phải chỉ thể hiện nơi mấy ông quan bài ngà áo gấm mà c̣n ở nơi đồng tiền đang dùng để trao đổi, mua bán, v́ chỉ có vua mới có quyền đúc ra tiền; và ở nơi cuốn lịch vua ban vào dịp cuối năm. Không có lịch, làm sao biết ngày giỗ của ông cha, tổ tiên mà cúng giỗ báo hiếu? Không có lịch làm sao biết ngày giờ tôt xấu để đám cưới đám hỏi, làm nhà, xây lăng đắp mộ? Không có lịch, làm sao biết thời tiết mà gieo trồng cày cấy? Chỉ có vua mới có quyền làm ra lịch!

 

Lễ Ban Sóc

 

“Sóc” là ngày mồng một âm lịch (ngày rằm gọi là vọng). Hàng năm, cứ đúng sáng ngày mồng một tháng Chạp (12) th́ triều đ́nh Huế làm lễ vua ban lịch, gọi là lễ Ban Sóc.

 

Đây là một trong những lễ chánh thức của triều đ́nh.

 

Dưới triều Gia Long (1802-1819) và đầu triều Minh Mạng (1820-1840), lễ Ban Sóc diễn ra tại điện Thái Ḥa trong Đại Nội theo nghi thức đại triều. Sau đó, theo lệnh vua Minh Mạng, lễ Ban Sóc đổi làm trước lầu Ngọ Môn, cũng theo nghi thức đại triều.

 

D-Mùa Xuân nói chuyện vua ban lịch_html_2f68ed88

Lễ Ban sóc trước Ngọ Môn

 

Đúng sáng ngày mồng một tháng Chạp, các quan và các hoàng thân, hoàng tử, trong phẩm phục đại triều phải tề tựu đông đủ và sắp hàng nghiêm chỉnh trên sân trước cửa Ngọ Môn, y như phiên đại triều, chờ làm lễ — quan văn bên trái (từ trong nh́n ra), quan vơ bên phải, các hoàng thân, hoàng tử sắp hàng cùng một phía với quan Vơ, theo thứ tự cấp lớn đứng trước, cấp nhỏ đứng sau.

 

Đúng giờ đă định, xa giá của vua từ điện Cần Chánh ra đến Ngọ Môn, chuông trống trên lầu Ngũ Phụng (lầu trên cửa Ngọ Môn) đổ hồi, vua bước lên lầu và an vị trên ngự tọa đă được bày sẵn. Đúng lúc đó th́ chuông trống cũng vừa chấm dứt. Ở dưới sân, một quan đại thần được cử ra qú tâu xin ban sóc. Tất cả các quan hướng về lầu Ngũ Phụng lạy năm lạy, và cuộc lễ Ban Sóc chấm dứt. Vua lui về nội điện; việc phân phối lịch đến các Bộ, Viện ở Kinh đô và các tỉnh do Bộ Hộ phụ trách. Cũng có năm vua không có mặt, chẳng hạn vào lễ Ban sóc năm ất măo (1915), đời Duy-Tân (1907-1916), nhưng trăm quan vẫn hướng về chiếc ngai bỏ trống trên lầu Ngũ Phụng để thi hành 5 lạy xin vua ban lịch đúng điển lễ qui định.

 

Cũng ngày hôm đó, khi ở Kinh đô làm lễ Ban Sóc th́ khắp các tỉnh từ Nam chí Bắc, quan đầu tỉnh (Trấn thủ, Lưu trấn hay Tổng đốc, Tuần vũ) đem các quan viên thuộc quyền trong tỉnh đến Hành cung (nhà dành riêng cho vua tạm trú tại các địa phương) làm lễ Thọ lịch. Sau lễ này, lịch mới được phân phối đến các phủ huyện làng xă.

 

 

Khâm Thiên Giám

 

Lịch do vua ban cho thần dân, nhưng Khâm Thiên Giám mới là cơ quan chấp bút biên soạn ra lịch. Dĩ nhiên ở đây là âm lịch, tính theo chu kỳ mặt trăng vận hành ṿng quanh trái đất, với tên gọi theo thập can (giáp, ất, bính, đinh…) và thập nhị chi (tí, sửu, dần, măo…), như nói năm bính thân, ngày tân tỵ,giờ tư, v,v.

 

Khâm Thiên Giám lập ra đời Gia Long (1802-1819), có mấy nhiệm vụ chính là quan sát và chiêm nghiệm thiên tượng, theo dơi thời tiết, làm lịch, coi ngày, báo giờ, và dĩ nhiên kiêm luôn cả nghề địa lư phong thủy cho triều đ́nh.

 

Năm 1836, vua Minh Mạng (1820-1840) cho dựng Quan Tượng Đài trên góc Tây-Nam Kinh thành Huế là để làm nơi Khâm Thiên Giám quan sát thiên tượng. Người Huế quen gọi đài quan sát thiên văn này là Nam Đài.

 

Vua chọn một đại thần đứng ra giám sát cơ quan này, gọi là Quản lư đại thần; cầm đầu Khâm Thiên Giám là một Giám chánh (chánh ngũ phẩm), 2 Giám phó (ṭng ngũ phẩm) phụ tá, nhân viên có 4 Ngũ quan chánh (chánh lục phẩm), 2 Linh đài lang (chánh và ṭng thất phẩm), một số Bát phẩm Thư lại, Cửu phẩm Thư lại,Vị nhập lưu Thư lại, là các hạng thư kư. Vào buổi đầu, đời Gia Long (1802-1819), các chức danh ở Khâm Thiên Giám là Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp, Giám chánh, Giám phó và Chiêm hậu, đời Minh Mạng mới đổi gọi như đă nói ở trước.

 

Trong một thời gian dài, trụ sở của Khâm Thiên Giám nằm ngay dưới chân Nam đài, thuộc phường Thuận Cát, nay là Thuận Ḥa, thuận tiện cho nhân viên chia phiên trực lên làm việc ở Quan Tượng đài ngày đêm. Đầu thế kỷ 20, do Pháp đă lập đài khí tượng cho toàn cơi Đông Dương tại Phù Liễn, nên việc sử dụng Quan Tượng đài không c̣n cần thiết nữa, và vai tṛ của Khâm Thiên Giám chỉ c̣n rút lại trong việc làm lịch và coi ngày giờ tốt xấu, coi đất, chọn huyệt mă mà thôi. V́ vậy, đến đời Duy Tân (1907-1916), Khâm Thiên Giám giă từ Nam đài, dọn về khu Bộ Học trên đường Hàn Thuyên ngày nay và ở đó cho đến ngày chế độ quân chủ chấm dứt (8/1945). Các quan làm việc ở Khâm Thiên Giám thường là cha truyền con nối v́ cách tính toán trong việc làm lịch, tính ngày giờ nhật thực, nguyệt thực v,v, khá phức tạp nên ít người theo học, chỉ gia truyền mới đầy đủ kinh nghiệm để làm việc. Vị quan cầm đầu Khâm Thiên Giám cuối cùng theo chỗ tôi biết, là cụ Hoàng Thiện mà Thầy tôi thường gọi một cách trân trọng là “ông Khâm Thiên”.

 

Những loại lịch của Khâm Thiên Giám

 

Xưa không có lịch tờ mà chỉ có lịch sách, đóng tập.

 

“Ở cuốn lịch năm ấy b́a vàng nḥe nét son dấu kim ấn ṭa Khâm Thiên Giám có niên hiệu Duy Tân thập niên, người ta thấy tiết thu phân và ngày lập thu qua đă lâu rồi .” Đó là những gịng của Nguyễn Tuân viết trong truyện ngắn Báo Oán trong cuốn Vang Bóng Một Thời .

 

D-Mùa Xuân nói chuyện vua ban lịch_html_36bee13b

 

Lịch của Khâm Thiên Giám biên soạn và phát hành , quyển nào trên tờ b́a cũng có đóng ấn.

 

Nếu đóng ấn Trị Lịch Minh Thời Chi Bửu (1802-1840) hay ấn Đại Nam Hiệp Kỷ Lịch Chi Bửu (1841-1945) của vua th́ gọi là bửu lịch, c̣n nếu đóng ấn của Khâm Thiên Giám th́ gọi là giám lịch. Cuốn lịch mà Nguyễn Tuân miêu tả trong truyện ngắn Báo Oán nói trên được đóng ấn Khâm Thiên Giám nên thuộc loại giám lịch. Bửu lịch chỉ dành cho các quan lớn (quan văn từ tứ phẩm trở lên, quan vơ từ tam phẩm), và các thành viên trong hoàng gia (thái hậu, hoàng quí phi, cung tần, hoàng thân, hoàng tử, công chúa…) c̣n giám lịch th́ dành cho các quan cấp nhỏ và các cơ quan, các địa phương, làng xă. Bửu lịch hay giám lịch có nội dung giống nhau, chỉ khác ở loại giấy in và con dấu đóng trên đó.

 

Đời Gia Long và Minh Mạng, dùng ấn Trị Lịch Minh Thời Chi Bửu, nhưng từ đời Thiệu Trị (1841-1847) trở đi, cho tới ngày chấm dứt chế độ quân chủ (1945) th́ thay bằng ấn Đại Nam Hiệp Kỷ Lịch Chi Bửu v́ trong ấn cũ, chữ Trị phạm húy nên phải đổi ấn mới (h́nh bên). Cả hai đều được đúc bằng vàng.

 

Đời Gia Long và Minh Mạng, triều đ́nh gọi lịch do nhà nước ban hành là lịch Vạn toàn, nhưng từ khi thay ấn dưới đời Thiệu Trị th́ tên chính thức của nó là lịch Hiệp kỷ.

 

Ngoài hai loại bửu lịch và giám lịch, Khâm Thiên Giám c̣n phải thực hiện những ấn bản đặc biệt để thờ trong các miếu (Thái miếu, Thế miếu…) gọi là long phụng lịch. Cuốn lịch dành cho vua, là một ấn bản đặc biệt chép tay, đặc biệt từ h́nh thức đến nội dung, gọi là ngự lịch,

 

Thật ra, lúc đầu, lịch của vua dùng cũng có nội dung giống như các lịch cấp cho quan cho dân, v́ tất cả đều được in ra từ các bản khắc gỗ. nghĩa là “one size fits all”, nhưng đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), vua dụ rằng lịch vua dùng mà ghi những việc nên làm hay không nên làm, như đào ao, đào giếng, nạp tài, trồng cây, chăn nuôi súc vật…th́ thật là không hợp v́ đó không phải là việc của bậc thiên tử, Lại nữa, vua ngự điện Kinh Diên để nghe các bậc túc Nho giảng sách mà gọi là nhập học th́ không được, phải đổi gọi là ngự Kinh Diên, v.v Vậy là năm sau, Khâm Thiên Giám phải thực hiện một ấn bản đặc biệt , chép tay, dành cho vua, trong đó, những chuyện tào lao như vừa nói phải bỏ, chữ dùng phải chính xác hơn, thêm vào đó là phải ghi các ngày tế lễ cúng giỗ tại các miếu điện để vua tiện theo dơi.

 

Đó là nói về nội dung, c̣n về h́nh thức, cuốn ngự lịch cũng khác các bản lịch khác. Sách xưa đóng bằng cách dùi lổ ở mép gáy rồi xỏ dây qua lại, xong cột chặt. V́ vậy b́a lịch là hai mảnh giấy rời màu vàng, có đóng ấn của vua (bửu lịch) hoặc ấn của Khâm Thiên Giám (Giám lịch). Ngự lịch th́ khác; ngoài phần ruột vẫn đóng theo kiểu cổ truyền vừa nói, lại có một cái b́a đặc biệt là một tấm b́a dày, liền từ sau ra trước, làm bằng lụa Tàu (đoạn bát ty), màu vàng, thêu rồng mây, ở giữa có một cái nhăn, cũng bằng đoạn bát ty màu hoa đào, thêu hai chữ Ngự Lịch 御暦. B́a của ngự lịch có thể được dùng lại cho năm sau. Hiện Viện Bảo Tàng Cổ Vật ở Huế c̣n giữ được cái b́a ngự lich này (xem ảnh).

 

D-Mùa Xuân nói chuyện vua ban lịch_html_460a644d

B́a ngự lịch

(Ảnh: Kevin Vơ)

 

Việc in ấn và phát hành lịch

 

Thời xưa, khi kỹ thuật in ấn bằng chữ rời của Tây phương chưa du nhập th́ việc in sách bằng bản khắc gỗ là thông dụng. Trong các loại ấn phẩm của triều Nguyễn, lịch Hiệp kỷ có số lượng in hàng năm khổng lồ. Chẳng hạn, theo ghi nhận của Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (bản tiếng Việt, Nxb Thuận Hóa, Tập VIII, 2005) th́ vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Khâm Thiên Giám đă in 49,094 cuốn giám lịch và 804 cuốn bửu lịch (Sđd, tr.538). Cũng thời xưa, đường sá đi lại khó khăn, hoàn toàn trông cậy vào đôi chân, vào sức ngựa và thuyền buồm của hệ thống trạm dịch đặt suốt quan lộ (tiền thân của QL 1 ngày nay) th́ việc vận chuyển một số lượng lớn sách lịch đến các địa phương khắp nước quả không phải là việc đơn giản. V́ vậy, triều đ́nh phải t́m một giải pháp khác.

 

Năm 1809, vua Gia Long định rằng từ nay, hàng năm các cơ quan và các địa phương báo cáo về Bộ Hộ số lịch cần dùng, theo tiêu chuẩn đă định. Bộ Hộ căn cứ vào đó để dự trù vật liệu (giấy, mực). Khâm Thiên Giám ở Kinh đô chịu trách nhiệm in và phân phối lịch cho triều đ́nh và các tỉnh từ Miền Trung từ Thanh Hóa vào cho đến B́nh Thuận. Bắc thành, sau này là Hà Nội, chịu trách nhiệm in và cấp phát lịch cho các tỉnh Miền Bắc, từ Ninh B́nh trở ra đến tận biên giới Trung Hoa; Gia Định thành, sau này là Phiên An/Gia Định, lo việc in và cấp phát lịch cho 6 tỉnh Nam kỳ. Khoảng đầu tháng Tư, Bắc thành /Hà Nội và Gia Định thành/Phiên An sẽ phái người về Khâm Thiên Giám nhận bản thảo lịch hiệp kỷ năm tới, đem về khắc bản in rồi chiếu theo số lượng cần dùng đă định của các trấn/tỉnh mà in ra phần ruột, để sẵn đó. Đến tháng 10, các thành lại phái nhân viên về Khâm Thiên Giám nhận số b́a lịch màu vàng, có đóng ấn vua, dành cho loại bửu (bảo) lịch hoặc ấn Khâm Thiên Giám cho loại giám lịch để đem về đóng hoàn chỉnh. Đến ngày cuối năm, khi ở Kinh làm lễ Ban Sóc th́ các trấn (tỉnh) làm lễ thọ lịch, sau đó mới phân phối lịch đến các địa phương. Quan lớn th́ nhận được nhiều lịch hơn quan nhỏ, với số lượng bửu lịch và giám lịch được qui định rơ ràng chứ không phải muốn lấy bao nhiêu cuốn cũng được. Quan Nhất phẩm được lănh 2 cuốn bửu lịch và 3 cuốn hiệp kỷ. Quan Nhị phẩm được lănh 1 cuốn bửu lịch và 2 cuốn hiệp kỷ. Tam, Tứ phẩm ấn quan được lănh mỗi thứ một cuốn. C̣n từ thuộc viên trở xuống cho đến xă thôn và các nơi khác chỉ được cấp một cuốn lịch hiệp kỷ mà thôi.

 

Vua ban sắc cho chư thần, nghĩa là quyền lực của vua trên chư thần, và cái ấn của vua là thể hiện quyền lực đó. V́ vậy, dân gian tin rằng dấu ấn của vua có năng lực trừ tà ma. Sở hữu một cuốn bửu lịch, người ta trân trọng ǵn giữ như lọai bùa để trấn an trong nhà. Khi nhà nào có người chết nhằm ngày trùng, lúc khâm liệm người ta phải xin bùa của nhà chùa hay kiếm thầy pháp cao tay ấn xin bùa để yểm trừ thần Trùng; lúc đó mà có được tờ b́a cuốn bửu lịch với dấu ấn Hiệp Kỷ Lịch Chi Bửu của vua để đắp lên mặt người quá cố th́ gia đ́nh yên tâm vô cùng.

 

Thời c̣n vua, mỗi năm in hàng chục ngàn cuốn lịch như thế, và chế độ quân chủ cuối cùng của Việt Nam mới chấm dứt cách đây có 71 năm (2016-1945) vậy mà ngày nay, người sưu tập sách cổ t́m cho ra một cuốn giám lịch để biết mặt mày nó ra sao, cũng không phải dễ, nói chi tới cuốn bửu lịch có đóng ấn vàng của vua. Đúng là “vang bóng một thời”.

 

 

02/02/2016

Vơ Hương An

 

- Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu 1 (VNCH)

- Cựu tù nhân chính trị Quảng Nam- Đà Nẵng

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính